Chương 1: Tổng quan về đề tài nghiên cứu Trong chương này luận văn sẽ giới thiệu tổng quan về đề tài với những nội dung như: lý do chọn đề tài; mục tiêu nghiên cứu; đối tượng và phạm vị nghiên cứu; giới thiệu khái quát về phương pháp nghiên cứu; ý nghĩa thực tiễn của đề tài nghiên cứu. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Chương 2: Cơ sở lý luận và mô hình nghiên cứu Các cơ sở lý thuyết, định nghĩa, khái niệm về đặc điểm tính cách con người, về sự hài lòng công việc, về kết quả công việc sẽ được trình bày trong chương này. Bên cạnh đó tác giả cũng tóm tắt các nghiên cứu có liên quan trước đây từ đó đề xuất mô hình nghiên cứu của đề tài. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương này sẽ trình bày phương pháp thiết kế nghiên cứu, cách chọn mẫu, xây dựng thang đo và trình bày phương pháp phân tích dữ liệu dựa trên cơ sở các lý thuyết và các nghiên cứu liên quan.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu Mô tả kết quả thống kê dữ liệu, phân tích kết quả mô hình kinh tế lượng và kết quả hồi quy tuyến tính để khẳng định xem mối quan hệ giữa các biến có tồn tại hay không. Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị Trình bày tóm tắt kết quả nghiên cứu và những mặt còn hạn chế của nghiên cứu đồng thời trình bày một số kiến nghị cho những người làm công việc quản trị nguồn nhân lực nhằm nâng cao hoạt động quản lý nguồn nhân lực. Ngoài ra chương này còn trình bày đề xuất cho hướng nghiên cứu tiếp theo. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Cơ sở lý thuyết, các khái niệm về đặc điểm tính cách, sự hài lòng và kết quả công việc sẽ được trình bày trong chương này.
Ngoài ra tác giả cũng sẽ trình bày tóm tắt các nghiên cứu thực nghiệm trước đây có liên quan với đề tài nghiên cứu. Các lý thuyết được trình bày sẽ làm cơ sở cho việc đưa ra mô hình và các giả thuyết nghiên cứu.1 Đặc điểm tính cách cá nhân (Personality traits) 2.1 Lý thuyết mô hình 5 đặc điểm tính cách (FFM –Five Factor Model) Đã có rất nhiều nghiên cứu về đặc điểm tính cách từ trước đến nay, McDougall’s (1932) phân loại các đặc điểm tính cách bằng 5 yếu tố khác biệt phân biệt là: trí tuệ, tính cách, tính khí, có khuynh hướng, và bình tĩnh. Eysenck (1947) lại dựa trên việc phân tích các câu trả lời trong bảng trắc nghiệm tính cách, đưa ra kết luận rằng có hai khía cạnh quan trọng nhất trong đặc điểm tính cách: hướng ngoại/hướng nội và tâm lý bất ổn/ổn định cảm xúc. Cattell (1943, 1946, 1947, 1948) đã phát triển một phân loại hệ thống đặc điểm phức tạp hơn bao gồm 16 yếu tố.
Ông tin rằng đặc điểm tính cách dự đoán hành vi bên trong và bên ngoài của một người trong môi trường cụ thể. Tuy nhiên nỗ lực tiếp theo để nhân rộng các hoạt động của Cattell đã không thành công. Ví dụ, Fiske (1949) nhận thấy chỉ có bốn yếu tố: khả năng thích ứng xã hội, kiểm soát cảm xúc, phù hợp và hỏi trí tuệ. Mô hình tính cách năm nhân tố (Five Factor Model - FFM) dựa trên sự mô tả các đặc điểm chung của tính cách bao gồm 5 yếu tố tương đối độc lập cung cấp cách giải thích ý nghĩa đối với việc nghiên cứu sự khác biệt về tính cách giữa các cá nhân và phản ứng của họ.
Mỗi đặc điểm trong năm tính cách cá nhân là tập hợp các đặc điểm có xu hướng xảy ra cùng nhau ở mỗi cá nhân (Kumar và Bakhshi, 2010). Kể từ công trình nghiên cứu đầu tiên của (Tupes và Christal, 1961), nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng năm đặc điểm tính cách là đủ để mô tả toàn bộ tính cách cá nhân. Norman (1963) đã đưa ra năm yếu tố cá nhân bao gồm: tận tâm, hòa đồng, hướng ngoại, ổn định cảm xúc và văn hóa. Goldberg (1993) cho rằng năm yếu LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 tố tính cách cá nhân đó là tận tâm, hòa đồng, hướng ngoại, ổn định cảm xúc và am hiểu.Trong khi đó McCrae và John (1996) khẳng định các yếu tố trên với sự điều chỉnh am hiểu thành sẵn sàng trải nghiệm.
Byravan và Ramanaiah (1996) lại nhấn mạnh vào năm yếu tố tinh thần, hướng ngoại, cởi mở, tận tâm và hòa đồng. Và nghiên cứu gần đây nhất của John, W. Slocum Jr và Don Hellriegel (2009) khẳng định mô hình các yếu tố tính cách cá nhân gồm: ổn định cảm xúc, hòa đồng, tận tâm, hướng ngoại và sẵn sàng trải nghiệm. Smith và Canger (2004) khi phát biểu về mô hình năm đặc điểm tính cách cho rằng “(1) Mô hình cho phép phân loại các đặc điểm tính cách cá nhân vào những mục có ý nghĩa”, (2) Mô hình cung cấp cấu trúc chung và ngôn ngữ dành cho việc nghiên cứu, (3) Mô hình được tin rằng có thể giải thích hầu hết tất cả về các đặc điểm tính cách cá nhân”.
Các nhân tố đặc điểm tính cách được sử dụng trong nghiên cứu gồm: tính hòa đồng (Agreeableness), ổn định cảm xúc (Emotional stability), tính tận tâm (Conscientiousness), tính hướng ngoại (Extroversion) và tính sẵn sàng trải nghiệm (Openness to experience). Tính hòa đồng: thể hiện sự tin tưởng, hợp tác, tán thành, linh hoạt trong mối quan hệ cá nhân: cụ thể là có xu hướng dễ dàng chấp nhận người khác hay không ?. John và cộng sự (2008) cho rằng, tính hòa đồng là khả năng một người hòa mình vào đám đông với những người khác. Các cá nhân với tính cách hòa đồng rất coi trọng sự hòa thuận.
Họ chu đáo, thân thiện, hay giúp đỡ và sẵn sàng chia sẻ những sự quan tâm của họ, có cách nhìn lạc quan về bản chất con người, tin rằng con người căn bản là thật thà, đứng đắn và đáng tin cậy. Những người có tình hòa đồng thấp thường được mô tả dễ mất bình tĩnh và không hợp tác. Họ thường không quan tâm đến mặt tốt đẹp của người khác và mở rộng tấm lòng với họ. McCrae và cộng sự (2005) mô tả tính hòa đồng là một đặc điểm tính cách bao gồm các thuộc tính như sự tin tưởng, tình cảm, lòng vị tha, lòng tốt, các thái độ và hành vi xã hội khác.
Theo Toegel và Barsoux (2012), tính hòa đồng thể hiện khuynh hướng trở nên đồng cảm và hợp tác hơn là hoài nghi và phản đối đối với người khác. Người có tính hòa đồng cao thường được xem là ngây thơ hoặc phục tùng. Ngược lại, những người có tính hòa đồng thấp LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 thường có tính hung hăng hoặc thách thức, có thể được coi là có tính lý sự hoặc không đáng tin. Những người không có tinh hòa đồng thường là những người có tính ích kỷ, hay nghi ngờ và thích cạnh tranh hơn là hợp tác.
Theo Organ và Lingl (1995), tính hòa đồng là một dự báo đáng kể cho kết quả công việc. Trong khi đó theo Juge và cộng sự (2002) cho rằng bản chất tính hợp tác của những người có tính hòa đồng có thể dẫn đến sự thành công trong các ngành nghề, những nơi có liên quan đến làm việc nhóm và dịch vụ khách hàng. Những người có tính hòa đồng cao sẽ có những mối quan hệ ở nơi làm việc tốt hơn. Trong khi đó, những người có tính hòa đồng thấp sẽ có ít mối quan hệ thân thiết tại nơi làm việc, bao gồm cả khách hàng và nhà cung cấp.
Tính tận tâm: được thể hiện bằng sự chăm chỉ, tỉ mỉ, trách nhiệm và được đánh giá bằng những cố gắng, động cơ hướng đến mục tiêu cá nhân hoặc tổ chức. Ở mặt tích cực, những người tận tâm là những người có năng lực tự kiểm tra, kiểm soát, làm việc có mục đích rõ ràng, có nghị lực và ý chí. Ở mặt tiêu cực, thì những người tận tâm đôi khi rất khó tính, yêu cầu quá cao hoặc quá ham mê công việc. Barrickvà Mount (1991) cho rằng tính tận tâm đề cập đến mức độ mà một người được tổ chức, có hệ thống, đúng giờ, định hướng theo thành tích và đáng tin cậy.
Tính tận tâm đề cập đến số mục tiêu mà người đó tập trung vào, nó có liên quan đến độ tin cậy, ý chí và hành vi bao gồm việc làm việc chăm chỉ, hướng đến thành tích, kiên trì, cẩn thận và có trách nhiệm. Theo John và cộng sự (2008), tính tận tâm thể hiện tính tự kỷ luật, hành động có trách nhiệm và điều khiển hành vi. Những người tận tâm thường tập trung vào các mục tiêu then chốt, thể hiện tính ngăn nắp, đáng tin cậy, cẩn thận, chu đáo, có trách nhiệm và kỷ luật cao bởi vì họ thường tập trung vào một vài việc để thực hiện chúng một cách tốt nhất. Theo Toegel và Barsoux (2012) tính tận tâm thể hiện đặc điểm của người có khuynh hướng biết tổ chức, kiên trì, tin cậy, thể hiện kỷ luật, hành động đúng đắn, hướng tới thành tựu và thích kế hoạch hơn là hành động tự phát.
Theo Barrick và Mount (1991), tính tận tâm là những đặc điểm tính cách thông nhất để dự đoán kết quả làm việc của nhân viên thông qua một loạt các công việc. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 Nhìn chung những người có tính tận tâm sẽ làm việc chăm chỉ, có trách nhiệm và đáng tin cậy. Trong nhiều tính huống họ được cho là người “nghiện công việc” và cầu toàn. Hướng ngoại: thể hiện tính mạnh mẽ, thích xã giao, nhiệt tình, thân thiện, có cảm xúc tích cực.
Những người hướng ngoại là những người thích hoạt động xã hội, thích quảng giao, tham gia những hoạt động kích thích, mới mẻ, sôi động. Trái ngược với người có tính hướng ngoại là người có tính hướng nội, họ thường thích làm việc cá nhân hoặc với nhóm nhỏ, thích sự yên tĩnh và hạn chế giao tiếp xã hội. Theo Mount và cộng sự (1998), tính hướng ngoại là một chiều tính cách rộng bao gồm các đặc điểm như sự năng động, thích giao du, hòa đồng, quyết đoán và nói nhiều. Những người có tính hướng ngoại mạnh thường rất vui vẻ và thích tương tác với người khác.
Ehrhart và cộng sự (2006) cho rằng tính hướng ngoại bao gồm tính thích giao lưu, thiên về xã hội, tập thể và ảnh hưởng tích cực đến cá nhân trong việc ra quyết định. John và cộng sự (2008) cho rằng cho rằng tính hướng ngoại là mức độ mà 1 người tìm kiếm sự kết bạn với người khác, họ thích thú khi ở cùng với những người khác, họ tràn đầy năng lượng và trải qua những cảm giác tích cực.