CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN VE MOI QUAN HỆ GIỮA STRESS VÀ HVSDRB CUA SV 1. Lich sử nghiên cứu về mối quan hệ giữa stress va HVSDRB 1. Lịch sử nghiên cứu về mối quan hệ giữa stress và HVSDRB trên thé giới 1. Lịch sử nghiên cứu về stress Từ các thé kỷ trước công nguyên, tại các quốc gia cô đại phương Đông, dù chưa có tên gọi chính thức là stress nhưng các van đề xoay quanh stress đã được nhac đên.
Người Trung Quốc xưa mặc dù chưa hiểu bản chất của stress và cơ chế của nó, nhưng bằng thực tiễn cuộc sông sinh hoạt đã thay được tác hai của stress déi với sức khỏe con người và đã dé xuất cách chống stress có hại. Các đanh y Trung Hoa, thời Xuân thu Chiến quốc (403 — 221 TCN), trong sách “Hoang dé Nội kinh tố van” đã tông kết các dữ liệu khoa học từ đời vua huyền thoại Hoàng Đề (2697 - 2597 TCN), nêu rõ bệnh tật có ba nguyên nhân, đó là: Nguyên nhân bên ngoài (khí hậu, thời tiết, môi trường gọi là "lục khí ngũ vận”). nguyên nhân bên trong (rồi loạn bảy loại cảm xúc, còn gọi là “thất tình”: hy, nộ, ai, lạc, ái, 6, duc (vui, giận, sau bi, khoái lạc, yêu, ghét, đam mê) và do các bệnh tật khác dẫn đến các rối loạn chung gọi là “luc dâm”: phong — hàn, thử — tháp, táo hỏa), nguyên nhân không hoàn toàn bên trong cũng không hoàn toàn bên ngoài, mà do tai nạn gây ra như: rắn rết cắn, chân thương, ăn nhằm phải chất độc. Như vậy, rỗi loạn cảm xúc đã được người xưa cho là một trong ba nguyên nhân cơ bản gây nên bệnh tật ở con người (Triệu Thị Biên, 2012).
Các nhà y học cô truyền Tây Tạng từ xưa đã biết đến trang thái stress, rồi loạn về tỉnh than của con người và lý giải: trong cơ thé con người tồn tại ba nhân tố lớn đó là “long” (khí động học), “xích ba” (nhiệt động học) va “bồi căn" (thủy động học). Các nhà y học này nói rằng, trong điều kiện bình thường, ba nhân tố này sẽ nương tựa, chế ước nhau, duy trì vả điều phối cân bằng cho nhau, tuy nhiên, một trong ba nhân tô này néu vượt quá giới han sẽ gây bệnh. Chang hạn, nếu dòng chảy của “khi” bị xáo trộn, các cơ bắp sẽ căng lên, khi “nhiệt” quá nhiều, con người ta sẽ dan đến dé cấu gat, nóng nảy, khi "nước” mat cân băng. tram cảm sẽ gia tăng và gây cảm giác 9 mệt mỏi.
Ở đây, theo các nha y học cô truyền Tây Tạng, chính những mệt mỏi vẻ mặt tâm lý như vậy là những stress tái diễn trên con người, và điều này gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc sống mỗi người. Vì những stress tái diễn như thé ảnh hưởng đến chính sự “bình thường” đang diễn ra ở cuộc sống mỗi cá nhân. Những stress ay có mặt và làm “dao lộn” những cái bình thường đấy, và sự đảo lộn ấy gây ra bệnh cho con người (Nguyễn Thị Hường, 2014). 6 Án Độ, Kapil (700 năm TCN) chi ra ba nguồn gốc của bệnh tật về tinh than một cách cụ thê trong triết lý Samkhya: Thiên nhiên: Tac động của một tai họa thiên nhiên nào đó như gidng bão, động đất, núi lửa.; Xã hội: Có thẻ do tác động của các yếu tô về tôn giáo, sắc tộc, kinh té, chính trị.
hoặc do thay đổi lỗi sống, phong tục, tập quán; Bản thân: Có thé do anh hưởng của tín ngưỡng lòng tin, thái độ, hứng thú, sự bat mãn, lo hãi.những van dé nội tâm như căm giận, hận thù, ghen ty. Theo Kapil con người trong xã hội đều phải đối mặt với các vấn dé phát sinh từ ba yếu tô trên, những ai có hiểu biết đúng đắn vẻ tự nhiên, bản thân (cảm xúc, trí tuệ, nhận thức, hành động) tính chất của sự việc và những gì tạo ra ba nguồn gốc nói trên thì có thé chịu đựng được khô đau, duy trì trạng thái cân bằng và có đời sống tâm lý vui vẻ, hạnh phúc (Lê Thị Hương, 2013). Dù chưa có cái nhìn tông quát, khoa học về các vấn đề liên quan đến sức khỏe con người nói chung, stress nói riêng. Song, tiếp thu những quan điểm truyền thông của các nhà nghiên cứu xưa, các nhà nghiên cứu stress từ thế kỷ XIX ở phương Tây đã có cho mình những phát hiện và quan điểm rõ ràng hơn về stress.
Vào thé kỷ XIV, stress dùng đề chi sự khó khăn, túng quan, nghịch cánh hoặc phiên não. Vào cuối thé ky XVII, Hooke sử dung các thuật ngữ trong khoa học vật lý để xem stress là “tai trọng” được định nghĩa là ngoại lực; “tng suất là tỷ lệ giữa nội lực (do tải trọng tạo ra) với diện tích mà lực tác dụng: và “strain” là biến dạng hoặc biến dạng của vật thé. Khái niệm về stress này tn tại trong y học đến đầu thé kỷ 19. chúng được coi là cơ sở của bệnh tat (Lazarus, R.
Năm 1859, tác giả Cllaude Benard cho rằng stress là "những thay đổi của môi trường bên ngoài sẽ không ảnh hưởng đến cơ thẻ, nếu cơ thé bù trừ và làm cân bang” những thay đôi đó (Visel, D. 10 Năm 1932, Walter Cannon là người lưu ý lần đầu tiên về việc cơ thể con người phan ứng theo một cách mơ hồ song song với các vật liệu vô tri vô giác. Cannon lo ngại về tác động của cái lạnh, thiểu oxy và các yếu tố môi trường khác. Ông kết luận rằng mặc dù có thé chịu đựng được các tác nhân gây căng thang ban đầu hoặc ở mức độ thấp, nhưng các tác nhân gây căng thăng vẻ the chat ở cường độ cao hoặc liên tục dẫn đến rồi loạn cân bằng nội môi.
Khi kéo đài. quá trình này có thê dẫn đến phá vỡ các hệ thông sinh học. Ông cũng thấy rằng có sự hoạt hoá theo qui trình từ hệ thần kinh giao cảm đến các tuyến nội tiết, nhằm chuẩn bị cho cơ thé ứng phó (chống tra hoặc bỏ chạy) với tác nhân nguy hiểm. Ông đã gọi đáp ứng này của cơ thé với stress là đáp ứng kép (chống trả hoặc bỏ chạy) “fight — flight” (Honfoll, S.
Năm 1936, Hans Selye, “cha đẻ của stress”, chịu rất nhiều ảnh hưởng từ Cannon. Ong quan sát thấy những bệnh nhân mắc nhiều loại bệnh có nhiều điểm “khong đặc hiệu” giống nhau các triệu chứng là một phản ứng phô biến đối với các kích thích căng thăng mà cơ thé trải qua. Những quan sát lâm sàng này cùng với các thí nghiệm trên chuột trong phòng thí nghiệm đã củng có khăng định răng việc tiếp xúc với stress kéo dài dẫn đến “can bệnh thích nghỉ", viết tắt là GSA. Đó là, stress mãn tính, bằng cách gây ra việc sản xuất quá nhiều hóa chất và kích thích hormone, gây loét đạ dày tá tràng và huyết áp cao.
Mặc dù giả thuyết GAS sau đó đã được chứng minh là không chính xác, nhưng nó đã tạo ra stress trên bản 46 và cũng nhân mạnh thực tế rằng stress có ảnh hưởng lớn đến hệ thống miễn dịch cũng như tuyến thượng thận (Fink, G. Ngoài việc đưa ra định nghĩa rõ ràng đầu tiên vé stress, Hans Selye cũng là người dau tiên nhận ra rằng bản thân cân bằng nội môi không thé dam bảo sự ôn định của các hệ thong cơ thé khi bị căng thăng. Ong đã đặt ra thuật ngữ dj thẻ (từ tiếng Hy Lạp heteros) là quá trình đạt được trang thái ôn định mới bằng cách xử lý bang các tác nhân kích thích cơ chế thích ứng sinh lý. Hiện tượng di thê có thê được coi là tiên thân của khái niệm phân bỏ, lần đầu tiên được đưa ra bởi Peter Sterling và Joseph Eyer vào những năm 1980.
Dé là, cân bằng nội môi, đã thống trị tư duy sinh lý học và y học từ thế ký 19, được cho là mang lại “sự ồn định thông qua sự không đồi". Mặt khác, phân bô cung cấp “sy ôn định thông qua thay đôi” do sự điều hòa thần kinh Il trung ương của các điểm thiết lập giúp điều chỉnh các thông số sinh lý dé đáp ứng stress/thách thức (Fink, G. Nhìn chung, trong các khoa học nghiên cứu về stress hiện nay trên thé giới có ba hướng nghiên cứu cơ bản (Đồng Thị Yến, 2013): Hướng nghiên cứu thứ nhất là tiếp cận stress đưới góc độ sinh học. Các nghiên cứu theo hướng này chí ra rằng: hoạt động của hệ than kinh, hệ nội tiết, hoóc môn có ảnh hưởng rat lớn đến cảm xúc cơ thê và liên quan trực tiếp đến stress.
Suvôrôva (1975) cho rằng; biéu hiện của các phản ứng cám xúc khi bị stress thé hiện không chỉ qua các phản ứng hoóc môn mà còn thông qua các phản ứng sinh lý đặc biệt của hệ than kinh. Rôgiơ Déxovenxcaia và cộng sự (1980) bằng thực nghiệm đã khang định rằng: khả năng làm việc giảm đi khi stress xuất hiện, sự giảm sút này ở những người có hệ thần kinh yếu xảy ra sớm hơn những người có hệ thần kinh mạnh. Khả năng làm việc khi bị stress không chỉ phụ thuộc vao độ mạnh của hệ thần kinh mà còn vào một số các yêu tô khác. Những người có hệ than kinh mạnh có thé dé bị stress hơn đối với tác nhân là đơn điệu và kéo dài.
Những người có hệ thần kinh yếu ít bị stress hơn đối với các tác nhân đơn điệu. Điều này cho thấy; sự khác biệt về stress ở cá nhân không chi phụ thuộc vào tình huống, tác nhân tác động, mà còn phụ thuộc vào đặc điểm hoạt động của hệ thần kinh. Các nhà sinh lý học thường chỉ tập trung mô tả các phản ứng sinh lý trước các tác động vào chủ thê, mà không nhận thay tam quan trọng của những đặc điểm tâm lý và hành vi trong các phản ứng sinh học của cơ the. Sự xuất hiện của các phản ứng chống trả hoặc bỏ chạy phụ thuộc rất nhiều vào nhận thức của chủ thê đối với kích thích (có hại hay không có hại).
Selye về phản ứng sinh lý của cơ thể trước một tác nhân gây stress đã bị nhiều mô hình lý thuyết khác chỉ trích. Một số nhà nghiên cứu đã cho rằng; cách thức đối phó của chủ thê đối với những tình huống nguy hiểm, sẽ ảnh hưởng rất lớn đến các phan ứng sinh lý đối với tình huống đó. Tác giả đã nhân mạnh đến tam quan trọng của nhận thức và sự kiểm soát của chủ thê đối với những phản ứng sinh học xảy ra do các kích thích từ bên ngoài. Hướng nghiên cứu thứ hai coi stress như sự tác động từ môi trường.