Chương 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Những khái niệm liên quan Đề tài nghiên cứu về quan hệ giữa Soka Gakkai và chính đảng tại Nhật Bản vì vậy chúng tôi muốn làm rõ một số quan niệm trong đó bao gồm: quan niệm liên quan đến tôn giáo (tôn giáo, tôn giáo mới), đảng chính trị và quan hệ giữa tôn giáo và đảng chính trị. Quan niệm về tôn giáo Tôn giáo: Theo từ điển tiếng Anh Oxford, Thuật ngữ tôn giáo “religion” bắt nguồn từ cả tiếng Pháp cổ và tiếng Anh Anglo Norman (những năm 1200 sau Công nguyên).
Nó có nghĩa là tôn trọng ý thức về lẽ phải, nghĩa vụ đạo đức, sự tôn nghiêm, những gì là thiêng liêng, sự tôn kính đối với các vị thần. Sâu xa hơn, nó có nguồn gốc từ một từ tiếng La tinh "Relgiō". Theo Cicero, Relgiō bắt nguồn từ “relegere”, nghĩa là "lặp đi lặp lại" trong hành động "đọc" hoặc "suy nghĩ"(Sarah 1912, tr. Tuy nhiên, một số học giả hiện đại như Tom Harpur và Joseph Campbell đã lập luận rằng "religiō" có nguồn gốc từ chữ chữ "religare": re (lại "một lần nữa") + ligare ("ràng buộc" hoặc "kết nối").
Mặc dù hiện tại, thuật ngữ religion mới được sử dụng một cách rộng rãi để chỉ các tôn giáo khác nhau, nhưng đã có giai đoạn, religion chỉ gắn liền với đạo Ki-tô bởi vào khoảng thế kỷ VII, thuật ngữ religion dùng để chỉ “toàn thể những hành vi có tính nghi thức, liên quan đến một quan niệm thiêng đối lập với tục và quyết định mối ràng buộc, mối quan hệ của linh hồn con người với chúa” (Đặng Nghiêm Vạn 1999, tr. 13 Nhà xã hội học Emile Durkheim có định nghĩa về tôn giáo rằng: “Tôn giáo là một hệ thống có tính chất gắn bó của những niềm tin và những thực hành liên quan đến những điều thiêng liêng, nghĩa là được tách biệt, cấm đoán. Những niềm tin và thực hành gắn bó tất cả những ai gia nhập vào một cộng đồng tinh thần, được gọi là giáo hội” (Emile 2006, tr. Các nhà xã hội học tư sản như Durkheim cho tôn giáo là một hoạt động mang tính xã hội, vì vậy họ tập trung vào chức năng xã hội, vai trò và ảnh hưởng của tôn giáo.
Song, việc này đã làm tôn giáo bị tách ra khỏi đời sống tinh thần của con người và làm mờ lằn ranh phân định giữa các hiện tượng tôn giáo và phi tôn giáo. Trong các triết gia duy vật trước Mác thì có triết gia người Đức Feuerbach khi nói về bản chất của tôn giáo đã có nhận định có thể xem là tiến bộ nhất như sau: “Bản chất thần thánh không phải là cái gì khác như là bản chất con người, bản chất đó được giải phóng khỏi những giới hạn cá nhân, nghĩa là khỏi những con người vật lý hiện thực, được khách quan hóa, được nhìn nhận như một bản chất độc lập xa lạ. Bởi vậy mọi sự xác định về thần thánh có liên quan đến việc xác định bản chất con người” (Lê Công Sự 2006, tr. Cách nhìn nhận của Feuerbach có thể được đánh giá là đã cố gắng tiến đến tiếp cận bản chất thực sự của tôn giáo, tuy nhiên, những học giả của chủ nghĩa Marx – Lenin nhận xét rằng Feuerbach vẫn chưa thực sự thành công vì nó có hạn chế là đã bỏ qua bản chất xã hội của tôn giáo.
Engels đã kế thừa và phát triển tư tưởng tiến bộ của Feuerbach về tôn giáo và đã có một định nghĩa kinh điển: “Tôn giáo chẳng qua chỉ là sự phản ánh hư ảo – vào đầu óc của con người – của những lực lượng ở bên ngoài chi phối cuộc sống hàng ngày của họ; chỉ là sự phản ánh trong đó những lực lượng ở trần thế mang hình thức những lực lượng siêu trần thế” (C. Quan điểm này về tôn giáo được các nhà khoa học xã hội chủ nghĩa tiếp thu triệt để, tiêu biểu ta có thể thấy nhận định tương tự của giáo sư Đặng Nghiêm Vạn: “Đối tượng chung nhất của tôn giáo là 14 thế giới quan siêu nhiên vô hình được chấp nhận một cách trực giác và tác động qua lại một cách hư ảo giữa Con người và thế giới đó, nhằm lý giải những vấn đề trên trần thế, cũng như ở thế giới bên kia trong những hoàn cảnh lịch sử, địa lý khác nhau, của từng cộng đồng tôn giáo hay xã hội khác nhau” (Đặng Nghiêm Vạn 1997, tr. Tôn giáo mới: Các học giả phương Tây dùng từ “tôn giáo mới” hoặc “phong trào tôn giáo mới” để chỉ các nhóm, các tổ chức mà vốn bị gọi bằng những cái tên mang nhiều định kiến hơn như “tôn giáo lạ” , “tôn giáo nguy hiểm”. Nhờ có sự bùng nổ của công nghệ thông tin mà các học giả Âu – Mỹ có thể tiếp cận với hàng loạt các hình thức giáo phái, nhóm phái trên thế giới để có thể đưa ra kết luận: (tạm dịch) “.chúng đã xuất hiện trong một giai đoạn lịch sử văn hóa phương Tây khi có một số thay đổi lớn trong tôn giáo truyền thống, xã hội ngày càng trở nên thế tục hơn.
Mặc dù sử dụng thuật ngữ này thật sự chưa khái quát hết được nội hàm cũng như ngoại diên của các loại hình tôn giáo mới, hoặc thậm chí có thể gọi là rất mơ hồ nhưng ít nhất bằng việc sử dụng nó, người nghiên cứu có thể thoát khỏi những định kiến tiêu cực và khuôn mẫu bị áp đặt lên các tôn giáo mới bởi tư tưởng của các tôn giáo cũ. Nhật Bản cũng sớm đã nhận ra sự tồn tại của những “tôn giáo mới” này. Họ gọi chúng là những Tân tôn giáo (新宗教: Shin Shukyo) hay Tân hưng tôn giáo (新興宗教: Shinkou Shukyo). Tại Nhật Bản, trước khi khái niệm tôn giáo mới được sử dụng thì những nhóm, những tổ chức mà sau này được gọi là những “tôn giáo mới” cũng chỉ được cho là các tôn giáo phái sinh, hay bán tôn giáo hay thậm chí là giả tôn giáo.
Về sau, các thuật ngữ nêu trên được sử dụng thì các tổ chức như Tenrikyo (天理教: Thiên lý giáo) hay Soka Gakkai (創価学会: Sáng giá Soka Gakkai) mới được trở thành một “tôn giáo”. Các học giả Nhật Bản cũng gặp nhiều khó khăn trong việc định nghĩa được khái niệm “tôn giáo mới” hay 15 “tân tôn giáo” theo cách gọi của người Nhật. Christopher nhận định về thuật ngữ này của Nhật Bản dùng để chỉ các tôn giáo mới mà (tạm dịch) “tương phản với các tôn giáo truyền thống như Thần đạo và Phật giáo của người dân Nhật Bản. Các tôn giáo truyền thống đó được thừa nhận thông qua cấu trúc và quy phạm xã hội và tồn tại lâu đời trong cộng đồng và các mối quan hệ gia đình” (Christopher 2004, tr.
Inoue cũng chỉ ra nhiều vấn đề trong việc thống nhất khái niệm này tại Nhật Bản (tạm dịch): “Có những sự khác biệt trong quan điểm về việc loại phong trào nào nên xem xét là tôn giáo mới. Nói chung, có 2 vấn đề chính. Một liên quan đến sự phân biệt giữa tôn giáo mới và các phong trào canh tân trong các tôn giáo đã được thành lập khác; vấn đề còn lại đó là sự phân biệt giữa tôn giáo mới và tôn giáo dân gian” (Inoue, 1999). Ngoài ra, theo Inoue, một vấn đề khác khi các nhà nghiên cứu Nhật Bản cố gắng định vị tôn giáo mới chỉ riêng trong phạm vi Nhật Bản đó là vấn đề về thời gian xuất hiện.
Các nghiên cứu của học giả Nhật Bản về tôn giáo mới đề cập tới 4 mốc thời gian như sau: từ đầu thế kỷ XIX; từ lúc Minh Trị Duy Tân (1868); từ đầu thế kỷ XX; từ sau thế chiến thứ II. Mặc dù các vấn đề xoay quanh định nghĩa một cách thực sự học thuật và khoa học khái niệm tôn giáo mới còn chưa được giải quyết, song những nghiên cứu về tôn giáo mới tại Nhật Bản vẫn diễn ra mạnh mẽ. Tại Việt Nam cũng đã có những nhận định liên quan đến khái niệm tôn giáo mới. Bài viết của Trần Nghĩa Phương (2001) chỉ ra rằng: Tôn giáo truyền thống thông thường để chỉ một số tôn giáo có truyền thống văn hóa lịch sử lâu đời.
Còn tôn giáo mới xuất hiện sau tôn giáo truyền thống, có một số hình thái và đặc điểm mới, thường có quy mô nhỏ, giáo phái phức tạp, phần lớn chúng đều tách ra từ tôn giáo truyền thống và do vậy về mặt tư tưởng chúng có quan hệ ở một mức độ nào đó với các tôn giáo truyền thống. Hay trong cách lý giải của Nguyễn Văn Minh: “Tôn giáo mới là để phân biệt với tôn giáo truyền thống đã 16 có từ lâu trong lịch sử. Tuy nhiên, mục đích không phải chỉ để xác định thời gian ra đời sớm hay muộn mà chính là nhằm nhấn mạnh với sự khác biệt về tên gọi, giáo chỉ, bối cảnh và nguồn gốc, cơ cấu tổ chức, tư tưởng và hành động. Trong đó đặc biệt muốn nhấn mạnh tới “tính tôn giáo phi truyền thống”, thậm chí là đối lập của các tôn giáo mới với những tôn giáo đã được thể chế hóa và đang chiếm ưu thế - vốn được coi là “mang tính truyền thống”.” (Nguyễn Văn Minh 2009, tr.
Qua đây ta thấy được cách để nhận diện một tôn giáo mới chắc chắn không chỉ dựa vào việc nó được hình thành sau và chưa có được một truyền thống văn hóa lịch sử lâu đời như các tôn giáo cũ. Để lý giải được khái niệm tôn giáo mới này, chúng ta cần phải có sự so sánh, xem xét ở rất nhiều mặt khác nhau. Nhóm nghiên cứu của Trương Văn Chung (2014, tr. 47-48) trong đề tài của mình đã có nhận định mang đậm tinh thần của lối tư duy duy vật biện chứng của chủ nghĩa Marx – Lenin rằng cái “mới” trong tôn giáo mới thực chất: “.không có một bước phát triển về chất theo quy luật “cái cũ mất đi, cái mới ra đời từ trong lòng cái cũ”, để rồi từ đó định vị tôn giáo mới là: “.một hình thức tôn giáo đương đại, chúng phản ánh bước chuyển đổi căn bản về văn hóa – xã hội của một thời đại hoặc một xã hội nhất định bằng những thuộc tính, hình thức, tổ chức giáo hội riêng biệt của mình”.
Khi nghiên cứu về mối quan hệ của Soka Gakkai với các chính đảng Nhật Bản, chúng tôi nhận thấy tổ chức này được giới nghiên cứu Nhật Bản liệt vào nhóm tôn giáo mới. Sau khi đưa ra các quan niệm về tôn giáo mới như trên, chúng tôi cũng sẽ xếp Soka Gakkai vào nhóm “tôn giáo mới” này. Quan niệm về đảng chính trị Trong lĩnh vực học thuật có rất nhiều định nghĩa về đảng chính trị. Các tác giả phương Tây như Anson (1896, tr.