BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC THÁI BÌNH DƯƠNG KHOA KINH TẾ & QUẢN TRỊ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP CƠ SỞ MỐI QUAN HỆ GIỮA QUẢN TRỊ CÔNG TY VÀ NGUYÊN TẮC THẬN TRỌNG TRONG KẾ TOÁN TẠI VIỆT NAM Chủ nhiệm: TS. Đinh Thị Thu Hà Thành viên: ThS. Hoàng Thị Phương Anh ThS. Mai Văn Tới Tháng 7/2023 MỤC LỤC PHẦN 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI .1 Lý do chọn đề tài .2 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu .1 Mục tiêu nghiên cứu .2 Câu hỏi nghiên cứu .3 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu .4 Phương pháp nghiên cứu .5 Nội dung đề tài.
9 PHẦN 2: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY .1 Nguyên tắc thận trọng trong kế toán .2 Quản trị công ty .2 Bằng chứng thực nghiệm .1 Các nghiên cứu ở nước ngoài .2 Các nghiên cứu ở Việt Nam. 26 PHẦN 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .1 Mô tả dữ liệu nghiên cứu .2 Phương pháp nghiên cứu .1 Các phương pháp hồi quy cơ bản .2 Các kiểm định để xác định tính phù hợp của mô hình .3 Mô hình nghiên cứu.4 Các biến trong mô hình .1 Biến phụ thuộc .2 Biến độc lập .3 Biến kiểm soát .5 Giả thuyết nghiên cứu:. 37 PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU .1 Thống kê mô tả .2 Phân tích tương quan .3 Kiểm định tính phù hợp của mô hình nghiên cứu .4 Phân tích kết quả nghiên cứu. 42 PHẦN 5: KẾT LUẬN.2 Khuyến nghị cho các công ty ở Việt Nam .3 Hạn chế và hướng nghiên cứu của tiếp theo của đề tài .1 Hạn chế của đề tài .2 Hướng nghiên cứu tiếp theo của đề tài.
50 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO. 51 2 DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT Từ viết tắt Tiếng Anh Tiếng Việt OLS Ordinary Least Squares Phương pháp ước lượng bình phương bé nhất FEM Fixed effect model Mô hình hiệu ứng cố định REM Random effect model Mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên GLS General Least Squared Phương pháp ước lượng bình phương tối thiểu tổng quát HNX Ha Noi stock exchange Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội HOSE Ho Chi Minh stock exchange Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh CEO Chief Executive Officer Giám đốc điều hành 3 DANH MỤC BẢNG BIỂU STT Bảng Nội dung Trang 1 Bảng 3.1 Định nghĩa các biến và phương pháp đo lường 36 2 Bảng 4.1 Thống kê mô tả các biến 39 3 Bảng 4.2 Ma trận tương quan 41 Tổng hợp các kiểm định tính phù hợp của mô hình 4 Bảng 4.3 41 nghiên cứu 5 Bảng 4.4 Tổng hợp kết quả nghiên cứu bằng phương pháp GLS 42 Bảng so sánh giả thuyết nghiên cứu và kết quả thực 6 Bảng 4.5 46 nghiệm 4 TÓM TẮT Bài nghiên cứu điều tra mối quan hệ giữa các thuộc tính quản trị công ty và nguyên tắc thận trọng trong kế toán của các công ty Việt Nam. Nghiên cứu sử dụng dữ liệu của 69 công ty phi tài chính trong giai đoạn 2015- 2021. Chỉ số Givoly & Hayn (2000) được sử dụng để đo lường nguyên tắc thận trọng trong kế toán.
Quản trị công ty được đo lường thông qua đặc điểm của hội đồng quản trị, cơ cấu sở hữu và chất lượng kiểm toán. Kết quả nghiên cứu cho thấy tính độc lập của hội đồng quản trị, mức độ tập trung quyền sở hữu tác động tích cực lên nguyên tắc thận trọng trong kế toán, các biến liên quan đến quyền sở hữu thể chế và quy mô của hội đồng quản trị lại cho thấy tác động ngược chiều. Các biến còn lại bao gồm tỷ lệ sở hữu của nhà quản lý, tính tách biệt giữa vị trí tổng giám đốc và chủ tịch hội đồng quản trị và chất lượng kiểm toán đều không có ý nghĩa thống kê. Kết quả nghiên cứu giúp công ty quan tâm hơn đến nâng cao chất lượng của công tác quản trị, giúp giảm mâu thuẫn đại diện và nâng cao chất lượng của báo cáo tài chính, từ đó nâng cao được tính hiệu quả của thị trường.
Từ khóa: Quản trị công ty, Nguyên tắc thận trọng trong kế toán, Vấn đề đại diện, Hội đồng quản trị, Việt Nam 5 PHẦN 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI 1.1 Lý do chọn đề tài Các nghiên cứu về vấn đề đại diện và quản trị công ty là một trong các chủ đề nhận được nhiều sự quan tâm trong giới học thuật cũng như các nhà quản trị trong công ty, các nhà đầu tư ở nhiều ngành khác nhau trên toàn cầu. Theo lý thuyết tài chính doanh nghiệp truyền thống thì các nhà quản trị phải có nghĩ vụ và trách nhiệm làm tối đa hoá giá trị doanh nghiệp hay tối đa hoá giá trị vốn cổ phần. Tuy nhiên trong thực tế thì mục tiêu của nhà quản trị và các cổ đông không phải lúc nào cũng đồng nhất với nhau khi các nhà quản trị muốn tối đa hoá lợi ích của bản thân hơn là giá trị của công ty và vấn đề này dường như luôn tồn tại trong thực tế bởi vì có sự bất cân xứng thông tin trên thị trường khi nhà quản trị luôn nắm rõ các thông tin về doanh nghiệp hơn là các cổ đông, từ đó họ có thể thực hiện các quyết định gây thiệt hại cho cổ đông, che giấu các thông tin xấu về công ty, cung cấp các thông tin về tình hình tài chính và hoạt động của công ty một cách không đầy đủ và trung thực. Một trong những nguồn thông tin được sử dụng phổ biến nhất bởi các nhà đầu tư hay cổ đông dùng để giám sát và đánh giá tình hình tài chính, hoạt động kinh doanh và tiềm năng phát triển đó chính là báo cáo tài chính được công bố hằng năm của doanh nghiệp.
Để có cái nhìn chính xác về sức khoẻ tài chính của doanh nghiệp thì đòi hỏi báo cáo tài chính của công ty phải phản ánh trung thực, hợp lí tình hình tài chính và kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, điều này phụ thuộc rất nhiều vào chính sách kế toán mà doanh nghiệp áp dụng. Các quốc gia đều ban bố những chuẩn mực, quy định về kế toán khi lập báo cáo tài chính và bắt buộc các doanh nghiệp phải tuân theo các tiêu chuẩn này để đảm bảo thị trường hoạt động hiệu quả và đảm bảo quyền lợi của nhà đầu tư. Tuy nhiên những vụ bê bối liên quan đến gian lận kế toán của các doanh nghiệp lớn trên thế giới vẫn liên tục xảy ra, điển hình là bê bối kế toán của ENRON năm 2001, hay là gian lận kế toán của WORLDCOM 2002 đây là hai trong số những bê bối kế toán lớn nhất mọi thời đại đã gây ra những thiệt hại hàng tỷ đô la cho các nhà đầu tư và làm thị trường mất lòng tin vào những thông tin mà họ được cung cấp về tình hình hoạt động của doanh nghiệp. Vì vậy việc lập báo tài chính có tuân thủ các quy tắc, chuẩn mực kế toán được ban hành hay không đóng một vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế thị trường, nơi mà các doanh nghiệp có thể huy đồng nguồn vốn khổng lồ từ các nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán và đảm bảo tính hiệu quả của thị trường khi toàn bộ thông tin về doanh nghiệp được phản ánh đầy đủ trong giá trị thị trường cổ phiếu doanh nghiệp đó.
Một trong những nguyên tắc cơ bản trong kế toán nhằm tăng độ tin cậy và làm giảm các điều chỉnh nhằm bóp méo số liệu trên báo cáo tài chính của các nhà quản trị là nguyên tắc thận trọng (Conservatism principle). Cụ thể nguyên tắc này yêu cầu kế toán viên cần phải có những ước tính, phán đoán phù hợp cho các tình huống kinh tế không chắc chắn về những sự kiện phát sinh trong tương lai, không được ước tính quá cao giá trị tài sản và không được ước tính quá thấp giá trị của các khoản nợ. Điều này nhằm tránh tình huống các nhà quản trị công ty sử dung các thủ thuật kế toán nhằm thổi phồng giá trị tài sản và lợi nhuận để che mắt các nhà đầu tư. Trong vụ bê bối kế toán của ENRON, doanh nghiệp này đã không tuân theo nguyên tắc thận trọng và cố tình thổi phồng lợi nhuận và che giấu các khoản nợ, trong việc ghi nhận doanh thu công ty sử dụng phương pháp kế toán theo giá trị thị trường nhằm đẩy doanh thu thực tế từ 13,3 tỷ USD năm 1996 lên thành 100,8 tỷ USD năm 2000, công ty đã bỏ qua nguyên tắc thận trọngtrong ghi nhận doanh thu bằng cách ghi nhận doanh thu ước tính bán được thay vì ghi nhận doanh thu 6 thực bán cho những mặt hàng đã được đặt trước, ngoài ra Enron còn thành lập các công ty con với mục đích giấu các khoản nợ khổng lồ để tăng điểm tín dụng từ đó lấy được lòng tin của các tổ chức tín dụng và nhà đầu tư.
Nhân tố chính dẫn đến sự sụp đổ của ENRON đó chính là do hệ thống quản trị công ty hoạt động không hiệu quả, giám đốc điều hành và giám đốc tài chính của công ty đã cố tình thực hiện các thủ thuật kế toán nhằm làm đẹp báo cáo tài chính nhằm nhận được các khoản thưởng từ công ty và trục lợi từ việc giá cổ phiếu của Enron tăng không ngừng trong giai đoạn 1990-2001, ngoài ra bê bối này còn liên quan đến một trong những doanh nghiệp kiểm toán lớn nhất thời bấy giờ là Authur Ardersen. Sau hàng loạt vụ bê bối kế toán xảy ra, nhiều đạo luật đã được ra đời nhằm bảo vệ lợi ích của các nhà đầu tư vào các công ty được niêm yết trên sàn chứng khoán và bắt buộc các công ty này phải cải thiện và đảm bảo các thông tin trình bày trên báo cáo tài chính là đẩy đủ và trung thực. Ngày càng có nhiều các công trình nghiên cứu về mối quan hệ giữa quản trị công ty và chính sách kế toán mà công ty áp dụng. Cụ thể như sau: Quản trị công ty tạo điều kiện thuận lợi cho việc ký kết các hợp đồng vì nó khuyến khích áp dụng các phương pháp hoạch toán một cách thận trọng khi phản ánh các thông tin của doanh nghiệp lên báo cáo tài chính (Fama & Jensen, 1983).
Sự thận trong trong hoạch toán kế toán là một yếu tố quan trọng trong việc đảm bảo chất lượng của báo cáo tài chính vì nó làm giảm bớt các vấn đề đại diện khi các nhà quản trị phản ánh các thông tin về doanh nghiệp một cách kịp thời và đầy đủ về toàn bộ các thông tin, cho dù đó là thông tin tốt hay xấu, do đó làm giảm cơ hội của các nhà quản lý trong việc thao túng báo cáo tài chính.