CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CÁC NHÂN TỐ QUẢN TRỊ CÔNG TY ẢNH HƯỞNG ĐỂN ÁP DỤNG NGUYÊN TẤC KẾ TOÁN THẬN TRỌNG 1.1 Các nghiên cứu trên thế giói Một số nghiên cứu trên thế giới xem xét về tác động của các nhân tố thuộc QTCT ảnh hưởng đến KTTT. Tiêu biểu, Beekes và các cộng sự (2004) kiểm định mối quan hệ giữa thành phần HĐQT và KTTT. Mau nghiên cứu được lựa chọn gồm 508 công ty phi tài chính được niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán tại Anh, giai đoạn từ năm 1993 đến năm 1995. Nghiên cứu sử dụng mô hình của Basu (1997) để đo lường biến KTTT.
Tác giả đề xuất biến độc lập cho nghiên cứu gồm quy mô HĐQT, tính độc lập của HĐQT, kiêm nhiệm giữa CEO và chủ tịch HĐQT, cấu trúc sở hữu. Dựa trên kết quả phân tích từ phưong pháp hồi quy OLS, quy mô HĐQT, tính độc lập của HĐQT có mối quan hệ cùng chiều vói KTTT, kiêm nhiệm giữa CEO và chủ tịch HĐQT, cấu trúc sở hữu không có mối quan hệ vói KTTT. Ahmed và Duellman (2007) kiểm tra mối liên quan giữa KTTT và các đặc điểm của HĐQT. Mau được chọn bao gồm 306 công ty trong s&p 500 của Mỹ, giai đoạn từ năm 1999 đến năm 2001.
Trong nghiên cứu, biến độc lập của đặc điểm HĐQT bao gồm quy mô HĐQT, kiêm nhiệm giữa CEO và chủ tịch HĐQT, tính độc lập của HĐQT, quyền sở hữu của giám đốc bên ngoài. Biến phụ thuộc là KTTT được đo lường theo Basu (1997), Givoly và Hayn (2000), Beaver và Ryan (2000). Thông qua phưong pháp hồi quy OLS, kết quả nghiên cứu cho thấy tính độc lập của HĐQT có mối quan hệ ngược chiều với KTTT, quyền sở hữu của giám đốc bên ngoài có mối quan hệ cùng chiều với KTTT, quy mô HĐQT, kiêm nhiệm giữa CEO và chủ tịch HĐQT không có mối quan hệ với KTTT. Xia và Zhu (2009) nghiên cứu các yếu tố quyết định của QTCT đối với KTTT.
Nghiên cứu lựa chọn mẫu gồm 855 công ty tại Trung Quốc, giai đoạn từ năm 2001 đến năm 2006. Biến độc lập được đề xuất trong nghiên cứu gồm kiêm nhiệm giữa CEO và chủ tịch HĐQT, tính độc lập của HĐQT, cấu trúc sỏ hữu. Biến phụ thuộc là 7 KTTT, được đo lường dựa trên mô hình của Givoly và Hayn (2000). Kết quả phân tích hồi quy OLS cho thấy kiêm nhiệm giữa CEO và chủ tịch HĐQT, tính độc lập của HĐQT không có mối quan hệ giữa QTCT và KTTT, cấu trúc sở hữu có mối quan hệ cùng chiều với KTTT.
Lim (2011) kiểm định mối liên hệ giữa các đặc điểm QTCT với KTTT. Nghiên cứu lựa chọn mẫu bao gồm 644 và 774 công ty cho các năm 1998 và 2002 tại úc. Trong nghiên cứu, tác giả lựa chọn năm biến độc lập gồm quy mô HĐQT, kiêm nhiệm giữa CEO và chủ tịch HĐQT, tính độc lập của HĐQT, ủy ban kiểm toán độc lập, kiểm toán viên Big Five/Four. Tác giả đề xuất mô hình của Givoly và Hayn (2000), Khan và Watts (2009) sử dụng đo lường biến phụ thuộc là KTTT.
Dựa trên kết quả của mô hình hồi quy đa biến, quy mô HĐQT và tính độc lập của HĐQT không có mối quan hệ với KTTT, kiêm nhiệm giữa CEO và chủ tịch HĐQT có mối quan hệ ngược chiều với KTTT, ủy ban kiểm toán độc lập, kiểm toán viên Big Five/Four có mối quan hệ cùng chiều với KTTT. Ahmed và Henry (2012) điều tra mối quan hệ QTCT và KTTT. Mau trong nghiên cứu gồm 120 công ty được niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán úc, giai đoạn 1992-2002. Biến phụ thuộc được đề xuất trong nghiên cứu là KTTT có điều kiện (Conditional accounting conservatism) đo lường theo mô hình của Basu (1997), Ball và Shivakumar (2005), KTTT không điều kiện (Unconditional accounting conservatism) đo lường theo mô hình của Givoly và Hayn (2000), Beaver và Ryan (2000).
Biến độc lập được các tác giả lựa chọn gồm quy mô HĐQT, tính độc lập của HĐQT, sự hiện diện của ủy ban kiểm toán. Các kết quả dựa trên phưong pháp phân tích hồi quy OLS cho thấy quy mô HĐQT, sự hiện diện của ủy ban kiểm toán và tính độc lập của HĐQT có mối quan hệ ngược chiều với KTTT. Kootanaee và các cộng sự (2013) đánh giá mối quan hệ giữa QTCT và KTTT. Mau gồm 146 công ty được niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Tehran từ năm 2001 đến năm 2012.
Trong nghiên cứu, tác giả lựa chọn các biến độc lập gồm quyền sở hữu công ty, quy mô HĐQT, tính độc lập của HĐQT, kiêm nhiệm giữa CEO và chủ 8 tịch HĐQT, số lượng TV CEO trong HĐQT. Mô hình Feltham và Ohlson (1995), Givoly và Hayn (2000) được sử dụng nhằm đo lường biến phụ thuộc là KTTT. Dữ liệu được tổng hợp của các công ty và đã được kiểm tra bằng sử dụng mô hình hồi quy tuyến tính đa biến. Kết quả cho thấy không có mối quan hệ giữa QTCT và KTTT.
Jarboui (2013) nghiên cứu mối quan hệ giữa thành phần HĐQT, cấu trúc sỏ hữu và KTTT. Mau nghiên cứu bao gồm 252 công ty tại Pháp giai đoạn từ năm 2007 đến năm 2011. Trong nghiên cứu, tác giả đề xuất các biến độc lập gồm quy mô HĐQT, tính độc lập của HĐQT, kiêm nhiệm giữa CEO và chủ tịch HĐQT, cấu trúc sỏ hữu. Biến phụ thuộc là KTTT được đo lường dựa trên mô hình nghiên cứu của Basu (1997).
Ngoài ra, mô hình nghiên cứu của Khan và Watts (2009) cũng được đề xuất, nhằm phản ánh thời gian và những thay đổi của KTTT trong một ngành công nghiệp. Kết quả nghiên cứu cho thấy quy mô HĐQT, cấu trúc sở hữu có mối quan hệ ngược chiều với KTTT, tính độc lập của HĐQT có mối quan hệ cùng chiều với KTTT, kiêm nhiệm giữa CEO và chủ tịch HĐQT không có mối quan hệ với KTTT. Yunos và các cộng sự (2014) kiểm chứng mối quan hệ cơ chế quản trị nội bộ và KTTT. Nghiên cứu lựa chọn mẫu gồm 300 công ty tại Malaysia.
Biến độc lập đã được xác định là mức độ tập trung quyền sở hữu, đặc điểm của ban giám đốc (BGĐ), đặc điểm của ủy ban kiểm toán và dân tộc (Ethnicity). Biến phụ thuộc là KTTT được đo lường dựa trên mô hình nghiên cứu của Basu (1997). Nghiên cứu sử dụng phương pháp hồi quy OLS, FEM, REM để thực hiện đo lường các biến độc lập. Tuy nhiên, thông qua kiểm định Hausman, các tác giả lựa chọn mô hình FEM, bởi vì mô hình FEM cung cấp nhiều kết quả thông tin hơn và có tác động cố định cho các công ty riêng lẻ.
Kết quả nghiên cứu cho thấy quy mô HĐQT, kiêm nhiệm giữa CEO và chủ tịch HĐQT, TV ủy ban kiểm toán có chuyên môn về kế toán tài chính không có mối quan hệ với KTTT, còn tính độc lập của HĐQT, TV HĐQT có chuyên môn về kế toán tài chính có mối quan hệ cùng chiều với KTTT. 9 Elshandidy và Hassanein (2014) đánh giá tác động của IFRS, tính độc lập của HĐQT đối với KTTT. Mau lựa chọn trong nghiên cứu là những công ty phi tài chính được liệt kê trong chỉ số FT SE 100 tại Anh, giai đoạn 2002-2007. IFRS và tính độc lập của HĐQT được lựa chọn làm biến độc lập.
Biến phụ thuộc là KTTT, được đo lường dựa trên thước đo của Givoly và Hayn (2000). Dựa trên phân tích phưong pháp hồi quy OLS, kết quả nghiên cứu cho thấy IFRS và tính độc lập của HĐQT có mối quan hệ cùng chiều với KTTT. Amran và Manaf (2014) kiểm định mối liên hệ giữa tính độc lập của HĐQT và KTTT. Mau nghiên cứu được lựa chọn gồm 866 công ty phi tài chính tại Malaysia, giai đoạn từ 2000-2012.
Yeu tố tính độc lập của HĐQT được lựa chọn làm biến độc lập cho nghiên cứu. Nghiên cứu sử dụng thước đo của Basu (1997) làm thước đo KTTT. Dựa trên kết quả phân tích hồi quy OLS, nghiên cứu cho thấy tính độc lập của HĐQT có mối quan hệ ngược chiều với KTTT. Boussaid và các cộng sự (2015) nghiên cứu về quan hệ giữa các thuộc tính của HĐQT và KTTT.
Nghiên cứu thực hiện trên SBF120 các công ty Pháp trong giai đoạn 2009-2012. Các thuộc tính của HĐQT gồm quy mô HĐQT, tính độc lập của HĐQT, kiêm nhiệm giữa CEO và chủ tịch HĐQT, TV nữ trong HĐQT, số lượng cuộc họp HĐQT và tham dự cuộc họp HĐQT được lựa chọn là biến độc lập trong nghiên cứu. Biến phụ thuộc là KTTT được đo lường dựa trên mô hình của Basu (1997), Givoly và Hayn (2000). Dựa trên kết quả từ phưong pháp hồi quy OLS, cho thấy quy mô HĐQT có mối quan hệ ngược chiều với KTTT, TV nữ trong HĐQT, số lượng cuộc họp HĐQT và tham dự cuộc họp HĐQT có mối quan hệ cùng chiều vói KTTT, tính độc lập của HĐQT, kiêm nhiệm giữa CEO và chủ tịch HĐQT không có mối quan hệ vói KTTT.
Mohammed và các cộng sự (2016) kiểm chứng mối quan hệ giữa KTTT, QTCT và mối liên hệ chính trị. Mau được lựa chọn trong nghiên cứu này bao gồm 206 công ty tại Malaysia, giai đoạn 2004-2007. Các biến độc lập của nghiên cứu gồm quy mô HĐQT, tính độc lập của HĐQT, kiêm nhiệm giữa CEO và chủ tịch HĐQT, TV 10 HĐQT có chuyên môn về kế toán tài chính, TV ủy ban kiểm toán có chuyên môn về kế toán tài chính, cấu trúc sở hữu. Biến phụ thuộc là KTTT được đo lường bởi mô hình của Basu (1997), Khan và Watts (2009).
Dựa trên kết quả từ phương pháp hồi quy OLS, cho thấy quy mô HĐQT, TV ủy ban kiểm toán có chuyên môn về kế toán tài chính không có mối quan hệ với KTTT, kiêm nhiệm giữa CEO và chủ tịch HĐQT, cấu trúc sở hữu có mối quan hệ ngược chiều với KTTT, tính độc lập của HĐQT, TV HĐQT có chuyên môn về kế toán tài chính có mối quan hệ cùng chiều với KTTT. Nasr và Ntim (2017) xem xét ảnh hưởng của các cơ chế QTCT đến KTTT. Mau gồm 100 công ty tại Ai Cập, giai đoạn 2011-2013. Trong nghiên cứu, KTTT là biến phụ thuộc, được đo lường theo mô hình Givoly và Hayn (2000).
Biến độc lập gồm quy mô HĐQT, tính độc lập của HĐQT, kiêm nhiệm giữa CEO và chủ tịch HĐQT và loại hình kiểm toán viên. Thông qua phương pháp hồi quy OLS, kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng tính độc lập của HĐQT có mối quan hệ cùng chiều đến KTTT. Ngược lại, quy mô HĐQT và loại hình kiểm toán viên có mối quan hệ ngược chiều đến KTTT, trong khi kiêm nhiệm giữa CEO và chủ tịch HĐQT không có mối quan hệ với KTTT.