MỐI QUAN HỆ CỦA KIỀU VỚI ĐẠO GIÁO VÀ PHẬT GIÁO TRONG TRUYỆN KIỀU CỦA NGUYỄN DU

Nghiên cứu mối quan hệ giữa nhân vật Kiều với Đạo giáo, Phật giáo trong Truyện Kiều của Nguyễn Du. Phân tích ảnh hưởng của tôn giáo đến cuộc đời Kiều.

Chuyên ngành

Ngữ Văn

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Tiểu luận

2024

79
6
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG

1.1. Khái lược về tư tưởng Đạo giáo

1.1.1. Quan niệm về Đạo giáo của Trung Hoa

1.1.2. Đạo giáo trong đời sống văn hóa tinh thần của người Việt

1.2. Khái lược về tư tưởng Phật Giáo

1.2.1. Triết lý của phật giáo

1.2.2. Sự phát triển và ảnh hưởng của Phật giáo tại Việt Nam

1.3. Khái lược Nguyễn Du và truyện Kiều

1.3.1. Vài nét về cuộc đời và sự nghiệp của tác giả Nguyễn Du

1.3.2. Tóm tắt truyện Kiều

2. CHƯƠNG 2: MỐI QUAN HỆ CỦA KIỀU VỚI ĐẠO GIÁO

2.1. Mối quan hệ của Kiều với Đạm Tiên

2.1.1. Kiều với Đạm Tiên qua những lần chiêm bao, giải mộng

2.1.2. Kiều với Đạm Tiên qua hình thức đồng bóng, chiêu hồn

2.2. Mối quan hệ của Kiều với Tam hợp

2.2.1. Kiều với Tam Hợp qua góc nhìn tướng số

2.2.2. Kiều với Tam Hợp thông qua những điềm báo

3. CHƯƠNG 3: MỐI QUAN HỆ CỦA KIỀU VỚI PHẬT GIÁO

3.1. Những lần xuất gia của Kiều

3.1.1. Đi tu ở Quan Âm các

3.1.2. Đi tu ở Chiêu Ẩn am

3.1.3. Đi tu cạnh sông Tiền Đường

3.2. Mối quan hệ của Kiều với Sư giác Duyên

3.2.1. Lần gặp ở Chiêu Ẩn am

3.2.2. Lần gặp ở nhà Từ Hải

3.2.3. Lần gặp ở sông Tiền Đường

Tóm tắt

I. Giới Thiệu Khám Phá Mối Liên Hệ Kiều và Tôn Giáo 55 ký tự

Truyện Kiều của Nguyễn Du không chỉ là một kiệt tác văn chương mà còn là một bức tranh phản ánh sâu sắc đời sống tâm linh và tín ngưỡng dân gian Việt Nam. Trong đó, Đạo GiáoPhật Giáo đóng vai trò quan trọng trong việc định hình số phận và tính cách của nhân vật Kiều. Bài viết này sẽ phân tích chuyên sâu mối quan hệ phức tạp giữa Kiều và hai tôn giáo này, làm rõ những ảnh hưởng của chúng đến cuộc đời nàng và ý nghĩa Truyện Kiều trong bối cảnh văn hóa Việt Nam.

1.1. Tổng Quan Về Ảnh Hưởng Tôn Giáo Trong Truyện Kiều

Tôn giáo, đặc biệt là Đạo GiáoPhật Giáo, đóng vai trò như một lăng kính để nhìn nhận và lý giải số phận của Kiều. Sự dung hợp của tín ngưỡng dân gian cùng Nho Giáo trên tinh thần tam giáo đồng nguyên tạo nên một thế giới quan đa chiều trong tác phẩm. Điều này không chỉ mang yếu tố thần kỳ mà còn thể hiện tinh thần nhân văn sâu sắc, răn dạy con người. Việc phân tích mối quan hệ giữa Kiều, Đạo Giáo và Phật Giáo làm rõ dụng ý của tác giả khi đưa các yếu tố tôn giáo vào tác phẩm, từ đó hiểu sâu sắc hơn về tác động của chúng đến cuộc đời nhân vật.

1.2. Vì Sao Phân Tích Mối Quan Hệ Giữa Kiều và Tôn Giáo

Nghiên cứu mối quan hệ giữa nhân vật chính và các tôn giáo giúp làm sáng tỏ ý nghĩa và giá trị tư tưởng của Truyện Kiều. Thay vì chỉ tập trung vào nhân sinh quan tôn giáo nói chung, việc đi sâu vào mối quan hệ cụ thể của Kiều với các nhân vật đại diện cho Phật GiáoĐạo Giáo sẽ hé lộ những tác động sâu sắc đến cuộc đời nàng. Từ đó, tạo nên một cách lý giải mới mẻ về tác phẩm, đồng thời cung cấp một góc nhìn khách quan về thời đại và tư tưởng tôn giáo của Nguyễn Du. Việc phân tích sẽ đặt trọng tâm vào những nhân vật và chi tiết cụ thể liên quan đến tín ngưỡng.

II. Tìm Hiểu Về Đạo Giáo Phật Giáo Nền Tảng Truyện Kiều 59 ký tự

Để hiểu rõ ảnh hưởng của Đạo Giáo và Phật Giáo đến Truyện Kiều, cần nắm vững những kiến thức cơ bản về hai tôn giáo này. Đạo Giáo với triết lý về Đạo, Đức và sự hòa hợp với tự nhiên, và Phật Giáo với luân hồi, karma, và con đường giải thoát. Phần này sẽ khái lược về tư tưởng Đạo Giáo và Phật Giáo, làm rõ những khái niệm then chốt và vai trò của chúng trong đời sống văn hóa tinh thần của người Việt.

2.1. Tư Tưởng Đạo Giáo Từ Trung Hoa Đến Việt Nam

Đạo Giáo ra đời trong bối cảnh xã hội phong kiến phân liệt ở Trung Hoa, với mong muốn cứu độ và ổn định xã hội. Học thuyết của Lão Tử trong “Đạo Đức Kinh” nhấn mạnh về sự vận hành của “Đạo” và sự hòa hợp của con người với tự nhiên. Học thuyết này bao gồm ý nghĩa vũ trụ luậný nghĩa nhân sinh. Ý nghĩa vũ trụ luận biện chứng thể hiện bằng câu: “Đạo khả phi thường Đạo” cũng cho thấy quan niệm của Lão Tử về “Đạo”. Vũ trụ và thế giới nơi con người sống vận hành theo quy luật của “Đạo”, con người là một phần của tự nhiên cần nhận thức và sống hòa hợp theo tinh thần của “Đạo”.

2.2. Khái Lược Về Triết Lý và Ảnh Hưởng của Phật Giáo

Phật Giáo du nhập vào Việt Nam từ sớm và có ảnh hưởng lớn đến đời sống tâm linh. Với triết lý vô thường, nhân quả, và luân hồi, Phật giáo mang đến một cách nhìn về cuộc đời và số phận đầy bi quan nhưng cũng đầy hy vọng về sự giải thoát. Phật giáo là tôn giáo vô thần, ra đời dựa trên lời dạy của Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni có 6 thần thông. Tư tưởng này thể hiện trong thơ văn Lý - Trần luôn phù hợp với tâm hồn người Việt và chứa đựng nhiều triết lý nhân sinh đẹp đẽ. Tư tưởng từ bicứu độ của Phật Giáo được thể hiện rõ nét trong các tác phẩm văn học.

2.3. Tín Ngưỡng Dân Gian Nền Tảng Kết Hợp Đạo Phật Giáo

Sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa Đạo Giáo, Phật Giáotín ngưỡng dân gian tạo nên một hệ thống niềm tin phong phú và đa dạng trong văn hóa Việt Nam. Các yếu tố như bùa chú, phép thuật, và niềm tin vào cõi âm thường được đan xen vào đời sống hàng ngày. Chính sự hòa trộn này đã tạo nên một môi trường thuận lợi để các tác phẩm văn học như Truyện Kiều phản ánh một cách chân thực và sinh động thế giới tâm linh của người Việt.

III. Kiều và Đạo Giáo Yếu Tố Tâm Linh và Số Mệnh 55 ký tự

Đạo Giáo xuất hiện trong Truyện Kiều thông qua các yếu tố tâm linh, như chiêm bao, giải mộng, và tướng số. Kiều thường xuyên tiếp xúc với những thế lực siêu nhiên, đặc biệt là qua nhân vật Đạm Tiên và các thầy Tam Hợp. Phần này sẽ phân tích những ảnh hưởng của các yếu tố này đến số phận và quyết định của Kiều.

3.1. Mối Quan Hệ Giữa Kiều và Đạm Tiên Chiêm Bao và Giải Mộng

Nhân vật Đạm Tiên đóng vai trò quan trọng trong việc dự báo số phận của Kiều. Qua những giấc chiêm bao và lời giải mộng, Kiều dần nhận thức được những khó khăn và bất hạnh đang chờ đợi mình. Những chi tiết này thể hiện rõ ảnh hưởng của Đạo Giáo trong việc tin vào sự tiên tri và khả năng giao tiếp với cõi âm.

3.2. Kiều và Tam Hợp Góc Nhìn Tướng Số và Điềm Báo

Sự xuất hiện của các thầy Tam Hợp mang đến một góc nhìn khác về số phận của Kiều thông qua tướng sốđiềm báo. Những lời tiên đoán về tương lai không chỉ làm tăng thêm sự bi kịch trong cuộc đời Kiều mà còn thể hiện niềm tin vào sự an bài của thiên mệnh, một yếu tố quan trọng trong Đạo Giáo. Truyện Kiều có chi tiết Kiều với Tam Hợp qua góc nhìn tướng số. Kiều gặp Tam Hợp thông qua những điềm báo.

IV. Kiều và Phật Giáo Từ Bi Cứu Độ và Giải Thoát 54 ký tự

Phật Giáo đóng vai trò quan trọng trong việc cứu độgiải thoát cho Kiều khỏi những đau khổ. Những lần xuất gia, sự giúp đỡ của Sư Giác Duyên, và những lời khuyên về tu hành thể hiện rõ ảnh hưởng của tư tưởng từ bivô thường của Phật Giáo. Phần này sẽ phân tích con đường tìm đến sự bình yên trong tâm hồn của Kiều dưới ánh sáng của Phật Giáo.

4.1. Những Lần Xuất Gia của Kiều Tìm Đến Sự Thanh Tịnh

Những lần Kiều tìm đến cửa Phật thể hiện khát vọng giải thoát khỏi những đau khổ và bất hạnh. Việc tu hành ở các chùa như Quan Âm Các và Chiêu Ẩn Am cho thấy mong muốn tìm kiếm sự thanh tịnh và bình yên trong tâm hồn dưới ánh sáng của Phật Giáo. Những chi tiết Kiều đi tu ở Quan Âm các và Kiều đi tu ở Chiêu Ẩn am cũng được phân tích.

4.2. Mối Quan Hệ Của Kiều với Sư Giác Duyên Người Dẫn Đường

Sư Giác Duyên đóng vai trò như một người dẫn đường, giúp Kiều vượt qua những khó khăn và tìm thấy con đường giải thoát. Những lời khuyên về tu hành, sự giúp đỡ trong những lúc nguy nan, và sự che chở cuối cùng thể hiện rõ tinh thần từ bicứu độ của Phật Giáo. Sư Giác Duyên đã gặp Kiều ở Chiêu Ẩn am để giúp đỡ nàng.

V. Ứng Dụng Phân Tích Tác Động của Tôn Giáo Đến Kiều 58 ký tự

Sau khi đi sâu vào mối quan hệ giữa Kiều và Đạo Giáo, Phật Giáo, phần này sẽ ứng dụng những kiến thức đã phân tích để đánh giá tác động của hai tôn giáo này đến cuộc đời và tính cách của Kiều. Liệu tôn giáo có giúp Kiều vượt qua những đau khổ, hay chỉ làm tăng thêm sự bi kịch trong cuộc đời nàng? Giá trị nhân văn Truyện Kiều được thể hiện qua lăng kính tôn giáo như thế nào?

5.1. Ảnh Hưởng Của Đạo Giáo Đến Số Phận Bi Kịch Của Kiều

Các yếu tố tâm linh của Đạo Giáo, như tướng sốđiềm báo, có thể đã góp phần làm tăng thêm sự bi kịch trong cuộc đời Kiều. Việc tin vào sự an bài của thiên mệnh có thể khiến Kiều trở nên thụ động và chấp nhận số phận một cách mù quáng. Những điều này thể hiện rất rõ quan niệm về số phận trong Truyện Kiều.

5.2. Vai Trò Của Phật Giáo Trong Việc Cứu Rỗi Tâm Hồn Kiều

Phật Giáo mang đến cho Kiều niềm hy vọng về sự giải thoátcứu độ. Qua những lần xuất gia và sự giúp đỡ của Sư Giác Duyên, Kiều dần tìm thấy sự bình yên trong tâm hồn và hướng đến một cuộc sống tốt đẹp hơn. Truyện Kiều hướng tới việc thể hiện giá trị từ bi của nhà Phật.

VI. Kết Luận Giá Trị Tinh Thần và Tương Lai Nghiên Cứu 58 ký tự

Mối quan hệ giữa Kiều, Đạo Giáo và Phật Giáo là một chủ đề phức tạp và đa chiều, đòi hỏi sự phân tích chuyên sâu và toàn diện. Truyện Kiều không chỉ là một tác phẩm văn chương mà còn là một tài liệu quý giá về tín ngưỡng và đời sống tâm linh của người Việt. Nghiên cứu về chủ đề này có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống.

6.1. Tóm Tắt Những Phát Hiện Quan Trọng Về Mối Quan Hệ

Phân tích đã chỉ ra rằng cả Đạo GiáoPhật Giáo đều có ảnh hưởng sâu sắc đến cuộc đời và tính cách của Kiều. Trong khi Đạo Giáo mang đến những yếu tố tâm linh và niềm tin vào số phận, Phật Giáo mang đến hy vọng về sự cứu độgiải thoát. Sự dung hòa giữa hai tôn giáo này tạo nên một bức tranh phức tạp về thế giới quan của Nguyễn Du.

6.2. Hướng Nghiên Cứu Mở Rộng Về Tôn Giáo Trong Truyện Kiều

Nghiên cứu về mối quan hệ giữa Kiều, Đạo Giáo và Phật Giáo vẫn còn nhiều tiềm năng phát triển. Các nhà nghiên cứu có thể tiếp tục khám phá những khía cạnh khác của chủ đề này, như vai trò của tín ngưỡng dân gian, ảnh hưởng của Nho Giáo, hoặc so sánh với các tác phẩm văn học khác cùng thời. Quan điểm tôn giáo Nguyễn Du vẫn còn nhiều điều để khám phá.

25/04/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu một tôn giáo là Đạo giáo” (Theo quan điểm của tác giả Nguyễn Đăng Huy. Trang Tử đã đồng nhất vật chất, vạn vật trong vũ trụ là một, bình đẳng hóa vạn vật trong vũ trụ, như trong Thiên Sơn Mộc ông viết (dịch ra): “Tiến vào chằm lớn, mặc áo cừu, áo vải ăn hạt ấu hạt dẻ, vào đám muông thú không loạn đàn, vào đám chim chóc không loạn hàng, chim muông không ghét huống chi là người”. Ngoài ra, Trang Tử còn đẩy sự biến chuyển của trời đất muôn vật đến một bước siêu hình hơn nữa, như thực như mơ trong thiền Tề vật luận ông viết: “Bất trí Chu Hi mộng vi hồ điệp dữ? Hồ điệp chi mộng vi Chu dữ? Chu dữ hồ điệp tắc tất hưu phận hỉ, thứ chi vi vật hóa” (Không biết Chu chiêm bao là bướm, hay bướm chiêm bao là chu, Chu và Bướm tất phải có tính khác nhau, đó gọi là vật hóa). Trang Tử thả mình an lạc trong những ý niệm ngoài dương thế, biểu hiện qua việc bản thân mình hóa thân thành bướm, lấy sự hòa đồng vật chất con người với vật chất con bướm làm ý niệm.

Tất cả chỉ là sống ở cõi đời này, nhưng mơ tưởng sung sướng lại ở một cõi khác, cõi khác là tâm linh huyễn hoặc: “Ta giữ xác mà quên mình, xem nước đục mà mê ở vực trong, vào tục nào theo tục ấy, nay ta sang chơi với Diêu Lăng mà quên thân ta, chim thước lạ bay sát chân ta, sang chơi với Lật Lâm mà quên đời thật” (thiên Sơn mộc). Tác giả Nguyễn Đăng Duy (2001) nhận định về tinh thần giữa Phật giáo và Đạo xã hội của Trang Tử như sau: “Ở đây ta thấy tinh thần giống như Phật giáo, con người muốn thoát khổ thì tu Phật đạt đến cõi hư vô, là đạt đến đỉnh cao sung sướng tức là vật chất sự sống quay trở lại với vật chất vật lý vô cơ, thì hết khổ, một tinh thần đầy tính duy tâm siêu hình” (tr. “Đạo” của Trang Tử không còn theo lẽ tự nhiên như ban đầu của Lão Tử, mà trở về cõi hư không, hòa nhập với vạn vật trong vũ trụ nhưng trong thế giới tinh thần vô ngã. Đạo giáo thần thiên ra đời từ những ý tưởng duy tâm siêu hình, con người thoát tục, thả lỏng tinh thần, hướng mình đến cái tốt đẹp của thuyết Trang Tử.

Tu luyện Đạo giáo thần tiên gồm Nội đan và Ngoại đan. Đan là thuốc, Nội đan là tu luyện trong cơ thể đạt đến như có một thứ thuốc trong nội tạng tự chống 6 được bệnh tật, trường sinh bất lão. Ngoại đan là luyện thuốc bên ngoài gọi là tiêu đan, uống vào trường sinh bất lão. Vì vậy, ngay khi bước sang thời Đường, Đạo giáo thần tiên đã phát triển ngang với Phật giáo.

Dù có sự tương đồng nhất định trong tinh thần giữa hai tôn giáo này, kể cả khi Phật giáo du nhập vào Trung Hoa ở thời Tần vào năm 246 – 210 TCN, trong khi đó Trang Tử lại sống vào những năm 369 – 286 TCN. Không chỉ ở thời Đường, Đạo giáo thần tiên phát triển thịnh hành trong tầng lớp vương giả của Trung Quốc trong suốt các thời kỳ sau đó qua dòng văn học bác học: chuyện Tây Vương Mẫu với vườn đào tiên, chuyện Tôn Ngộ Không coi vườn đào tiên, ăn vào trường sinh nghìn tuổi, trong truyện Đường Tăng đi Tây Trúc thỉnh kinh, truyện các vua Đường chết vì tiên đan đã giới thiệu trên cùng với các vua nhà Minh chết vì tiên đan và luyện tiên đan trong truyện “Hồng Lâu Mộng” đời Thanh. Cùng với Đạo giáo thần tiên còn có Đạo giáo phù thủy (phù phép của nước hòa thành tro ra đời vào thời Đông Hán )25 – 220), trong thời kỳ loạn Tam Quốc Ngụy, Thục, Ngô, đất nước Trung Hoa lâm vào phân liệt, xã hội thì hỗn loạn, nhiều đạo sĩ thần tiên xuống núi dùng phù phép đổ hô mây gọi gió, chiêu mộ âm binh, phù phép chữa bệnh theo cách lập đàn cầu cùng nhảy múa, biểu diễn pháp thuật, trấn áp ma quỷ trong con bệnh, vẽ bùa trên giấy rồi đốt đi, hòa tro giấy vào nước cho bệnh nhân uống để khỏi bệnh. Tất cả không giúp cho bệnh nhân khỏe mạnh trở lại mà nhằm vào mục đích gây uy tín, tập hợp lực lượng nông dân, giành quyền lực trong xã hội hỗn loạn đó.

Đạo giáo phù thủy không hề tách rời khỏi Đạo giáo thần tiên, những nhân vật tự đề cao bản thân có tài phù phép, âm binh, bùa thủy chữa bệnh, cũng giống như những nhân vật đã luyện phép tu tiên đắc đạo. Tính tôn giáo nằm ở chỗ Trang Tử “nêu ra ý tưởng gây thành một nếp sống xã hội yếm thế, phủ nhận hiện thực cuộc sống, con người mơ ước thả lỏng tinh thần hòa theo cùng Trời, Thượng đế, con người chết là quy tiên là về với bồng lai tiên cảnh. Là ở chỗ lấy pháp thuật phù phép bùa thủy làm phương tiện cứu cánh cho cuộc sống” (Nguyễn Đăng Duy. Khi bàn về về Đạo 7 giáo trong bối cảnh xã hội Việt Nam, mang danh nghĩa là “một tôn giáo” cũng là theo tinh thần trên đây để thể hiện vấn đề.

Đạo giáo trong đời sống văn hóa tinh thần của người Việt Đạo giáo trong đời sống văn hóa tinh thần của người Việt đã được du nhập vào sớm từ cả thời vua Hùng, và trải dài qua các triều đại khác bằng những tín ngưỡng trong đạo giáo thần tiên, đạo giáo phù thủy với học thuyết Đạo giáo của Trang Tử. Đạo giáo trong đời sống văn hóa tinh thần người Việt thể hiện qua những khía cạnh như: niềm tin về thuật phong thủy, niềm tin tướng số, niềm tin cầu tiên giáng bút, niềm tin tôn thờ, những khía cạnh này không chỉ gắn liền với đời sống nhân dân, mà trong chính trị và văn học còn xuất hiện rất nhiều dấu ấn của Đạo giáo. Đạo giáo của người Việt không có sự phân biệt cụ thể giữa pháp thuật phù phép và tu luyện thành tiên, mà có sự hòa hợp, dung hòa cả hai khía cạnh này. Những điều này không chỉ thể hiện ở đời sống của vương quyền (Đế An Dương Vương khi đắp Loa Thành đã mượn “sức mạnh” thần tiên giúp đỡ, vua Đinh Tiên Hoàng “lấy lễ thầy trò” đáp công pháp sư Vân Du Tường sau khi chém chết hung thần Xương Cuồng là Mộc tinh từ cây chiêu đàn Bạch Hạc hiện ra sát hại bách tính) mà còn thẩm thấu sâu vào đời sống của nhân dân (nông dân khởi nghĩa lấy Đạo giáo phù thủy như Đường Lang Y Tử dùng pháp thuật chiêu mộ dân chúng ở đời Trần Phế Đế năm 1973).

Khái lược về tư tưởng Phật Giáo 1.1 Triết lý của phật giáo (Thạch) Phật giáo du nhập vào nước ta khá sớm và giữ vị trí quan trọng trong đời sống tâm linh người Việt. Hơn 2000 năm qua, Phật giáo luôn đồng hành cùng dân tộc trên tinh thần “hộ quốc an dân”, có thời gian được coi là quốc giáo. Song hành cùng lịch sử dân tộc, Phật giáo đã ảnh hưởng đến nhiều mặt của đời sống người Việt, trong đó có văn học. Từ văn học dân gian đến văn học viết, đều phảng phất triết lý Phật giáo, nhất là trên phương diện nhân sinh quan.

Tuy nhiên, ảnh hưởng của Phật giáo đến văn học được thể hiện rõ nhất ở thời đại Lý - Trần. Với sự tham gia của một đội ngũ hùng hậu các thiền sư và cư sĩ tại gia, văn học Lý - Trần đã góp phần không nhỏ vào tiến trình phát triển của văn học 8 dân tộc. Lịch sử văn học chứng minh, những tư tưởng của Phật giáo thể hiện trong thơ văn Lý - Trần luôn phù hợp với tâm hồn người Việt và chứa đựng nhiều triết lý nhân sinh đẹp đẽ. Phật giáo là tôn giáo vô thần, ra đời dựa trên lời dạy của Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni có 6 thần thông.

Ban đầu, Phật giảng dạy giáo lý bằng khẩu truyền, sau đó hàng đệ tử ghi lại bởi tiếng Pali (tr. 217), gọi là Tam Tạng, quy tụ về nhất thừa. Giáo lý chứa đựng tinh thần từ bi vô ngã. Lộ trình tu tập phải trải qua những giáo lý căn bản là: giới - định - tuệ, văn - tư - tu, Tứ diệu đế, Bát chánh đạo, tam pháp ấn, 37 phẩm trợ đạo, nhân quả, duyên khởi, tính Không… Triết học chính yếu của Phật giáo được khai thác trên các lĩnh vực như: Vũ trụ, Nhận thức, Nhân minh, Đạo đức, Giải thoát… nhưng nhìn chung vẫn liên quan và thống nhất trong tu tập, giữ vị trí tối cao trong hệ thống triết học Đông - Tây.

Triết học Phật giáo được đề cập trong khoảng 5000 bài pháp mà Phật thuyết ở 300 hội suốt 49 năm theo Đại thừa (45 năm theo Nguyên thủy). Ở đề tài, chúng tôi chỉ đi vào lý giải vũ trụ quan, thế giới quan, nhân sinh quan trong triết lý Phật giáo làm cơ sở để phân tích đề tài. Vũ trụ quan được hiểu là sự xem xét, tư duy về toàn bộ quy luật của trời đất cũng như những diễn biến và chuyển hóa của chúng. Phật giáo cho rằng vũ trụ là sự tác động phức tạp trong mối duyên nghiệp biến hóa của vạn hữu, bao gồm nhiều phân tầng khác nhau mà nơi đó có chúng sinh cư ngụ, gọi chung là Tam hữu (Tam giới).

Phật giáo Nguyên thủy cho rằng có 31 cảnh giới, còn Phật giáo Đại thừa cho rằng có 32 cảnh giới. Trong đó, cõi thấp nhất là Dục giới (6 cõi), Sắc giới (4 tầng thiền, 18 cõi), Vô sắc giới (4 cõi). Dù phân chia thành các hệ phái khác nhau nhưng triết lý chung của các hệ phái vẫn mang tính nhất quán. Theo thuyết lý nhà Phật, hành giả tu tập từ phàm phu có thể thành thánh nhân.

Cuộc đời của đức Phật đã chứng minh điều đó. Trong cõi thánh, Phật giáo 8 Nguyên thủy chia làm 4 cấp độ là: Tư-đà-hoàn (Nhập lưu, Thất lai), Tư-đà-hàm (Nhất lai), A-na-hàm (Bất lai) và A-la-hán (Vô sanh). Ngoài ra, vũ trụ quan Phật giáo còn có 55 cõi Bồ-tát và vô lượng cõi Phật (cõi của Phật A Di Đà, cõi của Phật Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Như Lai. Triết học Phật giáo cho rằng thế giới trong vũ trụ mà các chúng sinh hiện hữu các nơi đó là do sự tương ứng của tâm thức.

Tức là, các chúng sinh tồn tại ở mỗi cảnh giới cao thấp khác nhau 9 là do kết quả nghiệp mà chính họ tạo ra. Hay các chúng sinh đó tùy theo nghiệp tạo mà sinh ra: sinh từ trứng gọi là noãn sinh, sinh từ bào thai gọi là thai sinh, sinh từ ẩm ướt tăm tối gọi là thấp sinh và sinh do biến hóa sinh ra gọi là hóa sinh.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ