mở đầu một tôn giáo là Đạo giáo” (Theo quan điểm của tác giả Nguyễn Đăng Huy. Trang Tử đã đồng nhất vật chất, vạn vật trong vũ trụ là một, bình đẳng hóa vạn vật trong vũ trụ, như trong Thiên Sơn Mộc ông viết (dịch ra): “Tiến vào chằm lớn, mặc áo cừu, áo vải ăn hạt ấu hạt dẻ, vào đám muông thú không loạn đàn, vào đám chim chóc không loạn hàng, chim muông không ghét huống chi là người”. Ngoài ra, Trang Tử còn đẩy sự biến chuyển của trời đất muôn vật đến một bước siêu hình hơn nữa, như thực như mơ trong thiền Tề vật luận ông viết: “Bất trí Chu Hi mộng vi hồ điệp dữ? Hồ điệp chi mộng vi Chu dữ? Chu dữ hồ điệp tắc tất hưu phận hỉ, thứ chi vi vật hóa” (Không biết Chu chiêm bao là bướm, hay bướm chiêm bao là chu, Chu và Bướm tất phải có tính khác nhau, đó gọi là vật hóa). Trang Tử thả mình an lạc trong những ý niệm ngoài dương thế, biểu hiện qua việc bản thân mình hóa thân thành bướm, lấy sự hòa đồng vật chất con người với vật chất con bướm làm ý niệm.
Tất cả chỉ là sống ở cõi đời này, nhưng mơ tưởng sung sướng lại ở một cõi khác, cõi khác là tâm linh huyễn hoặc: “Ta giữ xác mà quên mình, xem nước đục mà mê ở vực trong, vào tục nào theo tục ấy, nay ta sang chơi với Diêu Lăng mà quên thân ta, chim thước lạ bay sát chân ta, sang chơi với Lật Lâm mà quên đời thật” (thiên Sơn mộc). Tác giả Nguyễn Đăng Duy (2001) nhận định về tinh thần giữa Phật giáo và Đạo xã hội của Trang Tử như sau: “Ở đây ta thấy tinh thần giống như Phật giáo, con người muốn thoát khổ thì tu Phật đạt đến cõi hư vô, là đạt đến đỉnh cao sung sướng tức là vật chất sự sống quay trở lại với vật chất vật lý vô cơ, thì hết khổ, một tinh thần đầy tính duy tâm siêu hình” (tr. “Đạo” của Trang Tử không còn theo lẽ tự nhiên như ban đầu của Lão Tử, mà trở về cõi hư không, hòa nhập với vạn vật trong vũ trụ nhưng trong thế giới tinh thần vô ngã. Đạo giáo thần thiên ra đời từ những ý tưởng duy tâm siêu hình, con người thoát tục, thả lỏng tinh thần, hướng mình đến cái tốt đẹp của thuyết Trang Tử.
Tu luyện Đạo giáo thần tiên gồm Nội đan và Ngoại đan. Đan là thuốc, Nội đan là tu luyện trong cơ thể đạt đến như có một thứ thuốc trong nội tạng tự chống 6 được bệnh tật, trường sinh bất lão. Ngoại đan là luyện thuốc bên ngoài gọi là tiêu đan, uống vào trường sinh bất lão. Vì vậy, ngay khi bước sang thời Đường, Đạo giáo thần tiên đã phát triển ngang với Phật giáo.
Dù có sự tương đồng nhất định trong tinh thần giữa hai tôn giáo này, kể cả khi Phật giáo du nhập vào Trung Hoa ở thời Tần vào năm 246 – 210 TCN, trong khi đó Trang Tử lại sống vào những năm 369 – 286 TCN. Không chỉ ở thời Đường, Đạo giáo thần tiên phát triển thịnh hành trong tầng lớp vương giả của Trung Quốc trong suốt các thời kỳ sau đó qua dòng văn học bác học: chuyện Tây Vương Mẫu với vườn đào tiên, chuyện Tôn Ngộ Không coi vườn đào tiên, ăn vào trường sinh nghìn tuổi, trong truyện Đường Tăng đi Tây Trúc thỉnh kinh, truyện các vua Đường chết vì tiên đan đã giới thiệu trên cùng với các vua nhà Minh chết vì tiên đan và luyện tiên đan trong truyện “Hồng Lâu Mộng” đời Thanh. Cùng với Đạo giáo thần tiên còn có Đạo giáo phù thủy (phù phép của nước hòa thành tro ra đời vào thời Đông Hán )25 – 220), trong thời kỳ loạn Tam Quốc Ngụy, Thục, Ngô, đất nước Trung Hoa lâm vào phân liệt, xã hội thì hỗn loạn, nhiều đạo sĩ thần tiên xuống núi dùng phù phép đổ hô mây gọi gió, chiêu mộ âm binh, phù phép chữa bệnh theo cách lập đàn cầu cùng nhảy múa, biểu diễn pháp thuật, trấn áp ma quỷ trong con bệnh, vẽ bùa trên giấy rồi đốt đi, hòa tro giấy vào nước cho bệnh nhân uống để khỏi bệnh. Tất cả không giúp cho bệnh nhân khỏe mạnh trở lại mà nhằm vào mục đích gây uy tín, tập hợp lực lượng nông dân, giành quyền lực trong xã hội hỗn loạn đó.
Đạo giáo phù thủy không hề tách rời khỏi Đạo giáo thần tiên, những nhân vật tự đề cao bản thân có tài phù phép, âm binh, bùa thủy chữa bệnh, cũng giống như những nhân vật đã luyện phép tu tiên đắc đạo. Tính tôn giáo nằm ở chỗ Trang Tử “nêu ra ý tưởng gây thành một nếp sống xã hội yếm thế, phủ nhận hiện thực cuộc sống, con người mơ ước thả lỏng tinh thần hòa theo cùng Trời, Thượng đế, con người chết là quy tiên là về với bồng lai tiên cảnh. Là ở chỗ lấy pháp thuật phù phép bùa thủy làm phương tiện cứu cánh cho cuộc sống” (Nguyễn Đăng Duy. Khi bàn về về Đạo 7 giáo trong bối cảnh xã hội Việt Nam, mang danh nghĩa là “một tôn giáo” cũng là theo tinh thần trên đây để thể hiện vấn đề.
Đạo giáo trong đời sống văn hóa tinh thần của người Việt Đạo giáo trong đời sống văn hóa tinh thần của người Việt đã được du nhập vào sớm từ cả thời vua Hùng, và trải dài qua các triều đại khác bằng những tín ngưỡng trong đạo giáo thần tiên, đạo giáo phù thủy với học thuyết Đạo giáo của Trang Tử. Đạo giáo trong đời sống văn hóa tinh thần người Việt thể hiện qua những khía cạnh như: niềm tin về thuật phong thủy, niềm tin tướng số, niềm tin cầu tiên giáng bút, niềm tin tôn thờ, những khía cạnh này không chỉ gắn liền với đời sống nhân dân, mà trong chính trị và văn học còn xuất hiện rất nhiều dấu ấn của Đạo giáo. Đạo giáo của người Việt không có sự phân biệt cụ thể giữa pháp thuật phù phép và tu luyện thành tiên, mà có sự hòa hợp, dung hòa cả hai khía cạnh này. Những điều này không chỉ thể hiện ở đời sống của vương quyền (Đế An Dương Vương khi đắp Loa Thành đã mượn “sức mạnh” thần tiên giúp đỡ, vua Đinh Tiên Hoàng “lấy lễ thầy trò” đáp công pháp sư Vân Du Tường sau khi chém chết hung thần Xương Cuồng là Mộc tinh từ cây chiêu đàn Bạch Hạc hiện ra sát hại bách tính) mà còn thẩm thấu sâu vào đời sống của nhân dân (nông dân khởi nghĩa lấy Đạo giáo phù thủy như Đường Lang Y Tử dùng pháp thuật chiêu mộ dân chúng ở đời Trần Phế Đế năm 1973).
Khái lược về tư tưởng Phật Giáo 1.1 Triết lý của phật giáo (Thạch) Phật giáo du nhập vào nước ta khá sớm và giữ vị trí quan trọng trong đời sống tâm linh người Việt. Hơn 2000 năm qua, Phật giáo luôn đồng hành cùng dân tộc trên tinh thần “hộ quốc an dân”, có thời gian được coi là quốc giáo. Song hành cùng lịch sử dân tộc, Phật giáo đã ảnh hưởng đến nhiều mặt của đời sống người Việt, trong đó có văn học. Từ văn học dân gian đến văn học viết, đều phảng phất triết lý Phật giáo, nhất là trên phương diện nhân sinh quan.
Tuy nhiên, ảnh hưởng của Phật giáo đến văn học được thể hiện rõ nhất ở thời đại Lý - Trần. Với sự tham gia của một đội ngũ hùng hậu các thiền sư và cư sĩ tại gia, văn học Lý - Trần đã góp phần không nhỏ vào tiến trình phát triển của văn học 8 dân tộc. Lịch sử văn học chứng minh, những tư tưởng của Phật giáo thể hiện trong thơ văn Lý - Trần luôn phù hợp với tâm hồn người Việt và chứa đựng nhiều triết lý nhân sinh đẹp đẽ. Phật giáo là tôn giáo vô thần, ra đời dựa trên lời dạy của Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni có 6 thần thông.
Ban đầu, Phật giảng dạy giáo lý bằng khẩu truyền, sau đó hàng đệ tử ghi lại bởi tiếng Pali (tr. 217), gọi là Tam Tạng, quy tụ về nhất thừa. Giáo lý chứa đựng tinh thần từ bi vô ngã. Lộ trình tu tập phải trải qua những giáo lý căn bản là: giới - định - tuệ, văn - tư - tu, Tứ diệu đế, Bát chánh đạo, tam pháp ấn, 37 phẩm trợ đạo, nhân quả, duyên khởi, tính Không… Triết học chính yếu của Phật giáo được khai thác trên các lĩnh vực như: Vũ trụ, Nhận thức, Nhân minh, Đạo đức, Giải thoát… nhưng nhìn chung vẫn liên quan và thống nhất trong tu tập, giữ vị trí tối cao trong hệ thống triết học Đông - Tây.
Triết học Phật giáo được đề cập trong khoảng 5000 bài pháp mà Phật thuyết ở 300 hội suốt 49 năm theo Đại thừa (45 năm theo Nguyên thủy). Ở đề tài, chúng tôi chỉ đi vào lý giải vũ trụ quan, thế giới quan, nhân sinh quan trong triết lý Phật giáo làm cơ sở để phân tích đề tài. Vũ trụ quan được hiểu là sự xem xét, tư duy về toàn bộ quy luật của trời đất cũng như những diễn biến và chuyển hóa của chúng. Phật giáo cho rằng vũ trụ là sự tác động phức tạp trong mối duyên nghiệp biến hóa của vạn hữu, bao gồm nhiều phân tầng khác nhau mà nơi đó có chúng sinh cư ngụ, gọi chung là Tam hữu (Tam giới).
Phật giáo Nguyên thủy cho rằng có 31 cảnh giới, còn Phật giáo Đại thừa cho rằng có 32 cảnh giới. Trong đó, cõi thấp nhất là Dục giới (6 cõi), Sắc giới (4 tầng thiền, 18 cõi), Vô sắc giới (4 cõi). Dù phân chia thành các hệ phái khác nhau nhưng triết lý chung của các hệ phái vẫn mang tính nhất quán. Theo thuyết lý nhà Phật, hành giả tu tập từ phàm phu có thể thành thánh nhân.
Cuộc đời của đức Phật đã chứng minh điều đó. Trong cõi thánh, Phật giáo 8 Nguyên thủy chia làm 4 cấp độ là: Tư-đà-hoàn (Nhập lưu, Thất lai), Tư-đà-hàm (Nhất lai), A-na-hàm (Bất lai) và A-la-hán (Vô sanh). Ngoài ra, vũ trụ quan Phật giáo còn có 55 cõi Bồ-tát và vô lượng cõi Phật (cõi của Phật A Di Đà, cõi của Phật Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Như Lai. Triết học Phật giáo cho rằng thế giới trong vũ trụ mà các chúng sinh hiện hữu các nơi đó là do sự tương ứng của tâm thức.
Tức là, các chúng sinh tồn tại ở mỗi cảnh giới cao thấp khác nhau 9 là do kết quả nghiệp mà chính họ tạo ra. Hay các chúng sinh đó tùy theo nghiệp tạo mà sinh ra: sinh từ trứng gọi là noãn sinh, sinh từ bào thai gọi là thai sinh, sinh từ ẩm ướt tăm tối gọi là thấp sinh và sinh do biến hóa sinh ra gọi là hóa sinh.