phần mở đầu, các phần tiếp theo là nội dung bài nghiên cứu: - Phần 1: Khung lý thuyết và các bằng chứng thực nghiệm. - Phần 2: Phương pháp nghiên cứu - Phần 3: Kết quả và thảo luận - Phần 4: Kết luận và các hàm ý chính sách. 123doc 5 KHUNG LÝ THUYẾT VÀ CÁC BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM Trong phần này, nghiên cứu trình bày về các tài liệu liên quan và phát triển một số giả thuyết chủ yếu. Nghiên cứu bắt đầu bằng cách lưu ý rằng các thành viên HĐQT thực hiện các chức năng khác nhau.
Các thành viên không điều hành (bên ngoài) giám sát các hoạt động điều hành chính và cố vấn cho CEO về chiến lược kinh doanh, trong khi các thành viên điều hành (bên trong) đề ra chiến lược và truyền đạt thông tin về doanh nghiệp cho các thành viên bên ngoài (Mace, 1971; Lorsch và MacIver, 1989; Lipton và Lorsch, 1992; Jensen, 1993). Đo lường giá trị doanh nghiệp Theo Himmelberg và các cộng sự (1999) thì giá trị doanh nghiệp được đo lường thông qua hệ số Tobin’s Q. Tobin’s Q là tỷ số giữa giá trị của công ty trên giá trị thay thế của tài sản. Trong đó: - Giá trị của công ty bằng giá trị thị trường của vốn cổ phần thường cộng giá trị thị trường của vốn cổ phần ưu đãi cộng với giá trị thị trường của tổng nợ.
Tuy nhiên, do chưa thể đo lường được giá trị thị trường của tổng nợ nên nghiên cứu sử dụng giá trị sổ sách của nợ. - Giá trị thay thế của tài sản được tính như là giá trị sổ sách của tổng tài sản. Tuy nhiên, ở Việt Nam hiện nay, hầu hết các doanh nghiệp đều không có vốn cổ phần ưu đãi. Do đó, công thức tính hệ số Tobin’s Q được đo lường lại như sau: Tobin’s Q = (E + D) / A Trong đó: - E là giá trị thị trường của cổ phần thường.
- D là giá trị sổ sách của nợ. 123doc 6 - A là giá trị sổ sách của tổng tài sản. Các yếu tố ảnh hưởng đến giá trị doanh nghiệp 2. Nhu cầu cố vấn, mức độ phức tạp của doanh nghiệp và quy mô HĐQT Vai trò giám sát của HĐQT đã được nghiên cứu rộng rãi, và các nghiên cứu về vấn đề này đều thống nhất rằng HĐQT có quy mô nhỏ thường hoạt động hiệu quả hơn ở chức năng giám sát.
Vấn đề gây tranh cãi ở đây là các nhóm nhỏ hơn thì gắn kết hơn, làm việc có hiệu suất cao hơn và có thể giám sát hoạt động của công ty hiệu quả hơn, trong khi các nhóm lớn hơn thường hoạt động không tốt ở khâu giám sát do phát sinh các vấn đề như dựa dẫm, lười biếng và tốn chi phí phối hợp cao hơn (Lipton và Lorsch, 1992; Jensen, 1993). Theo Yermack (1996), Tobin’s Q có mối tương quan tỷ lệ nghịch với quy mô HĐQT. Điều này cung cấp những hỗ trợ thực tiễn bảo vệ ý kiến cho rằng quy mô HĐQT nhỏ thì tốt hơn. Tuy nhiên, nhiều doanh nghiệp vẫn đang duy trì HĐQT với quy mô lớn và có nhiều đại diện bên trong doanh nghiệp.
Câu hỏi đặt ra là tại sao học thuyết kinh tế của Darwin không đào thải các hình thức tổ chức không phù hợp? Câu trả lời là các thành viên bên trong và các thành viên phụ thuộc đóng vai trò quan trọng có thể bị mất đi khi chỉ hướng đến một mục tiêu duy nhất là nâng cao tính độc lập của HĐQT (Bhagat và Black, 2001). Bên cạnh đó, vai trò cố vấn của HĐQT thường ít được chú ý quan tâm. Dalton, Daily, Johnson và Ellstrand (1999) đã lập luận và cho rằng HĐQT quy mô lớn thường đưa ra những lời khuyên hữu ích hơn cho Giám đốc điều hành. Những lời khuyên đó hầu hết đến từ những thành viên bên ngoài của HĐQT.
Các nghiên cứu khác nhau cho thấy rằng các thành viên bên ngoài thường đưa ra ý kiến cố vấn hữu ích hơn. Dalton, Daily, Johnson và Ellstrand (1999) lập luận rằng “các thành viên (bên ngoài) thường đưa ra những ý kiến cố vấn có chất lượng cho Giám đốc điều hành hơn hẳn các thành phần nội bộ của công ty”. Hermalin và Weisbach (1988) lưu ý rằng “CEO có thể lựa chọn một 123doc 7 thành viên bên ngoài, người sẽ đưa ra lời khuyên và ý kiến cố vấn hữu ích, mang lại kinh nghiệm và chuyên môn có giá trị cho HĐQT”. Agrawal và Knoeber (2001) nhận định những thành viên bên ngoài có chuyên môn chính trị trong HĐQT thường liên quan đến nhu cầu cần tư vấn chính trị của công ty.
Fich (2005) kết luận rằng các CEO từ các công ty khác được mời làm thành viên HĐQT do khả năng cung cấp ý kiến tư vấn chuyên môn của các CEO đó. Những loại hình công ty nào thường có nhu cầu được tư vấn nhiều hơn? Klein (1998) khẳng định rằng các các công ty phức tạp thường có nhu cầu tư vấn nhiều hơn. Doanh nghiệp có thể được đánh giá là phức tạp theo các khía cạnh khác nhau, chẳng hạn như phạm vi hoạt động, quy mô và mức độ phụ thuộc vào nguồn vốn bên ngoài. Phạm vi hoạt động Các công ty đa dạng hóa hoạt động trong nhiều phân khúc và có xu hướng phức tạp hơn (Rose và Shephard, 1997).
Hermalin và Weisbach (1988) cho biết các CEO của các công ty đa dạng hóa có nhu cầu được tư vấn nhiều hơn so với các công ty khác. Yermack (1996) nhận định rằng dường như HĐQT của các công ty đa dạng hóa thường có quy mô lớn do nhu cầu cần có các kiến thức chuyên môn bên ngoài cho nhiều ngành khác nhau. Quy mô công ty Một loạt các nghiên cứu có liên quan, bắt đầu từ Pfeffer (1972), nhận định rằng HĐQT được lựa chọn để tối đa hóa việc cung cấp các nguồn lực quan trọng cho công ty (Pfeffer và Salancik, 1978; Klein, 1998; Lynall, Golden và Hillman, 2003). Klein (1998) cho biết nhu cầu tư vấn của Giám đốc điều hành tăng theo mức độ mà các công ty phụ thuộc vào môi trường nguồn lực.
Các doanh nghiệp lớn có thể có nhiều mối quan hệ hợp đồng bên ngoài (Booth và Deli, 1996), và do đó, đòi hỏi quy mô HĐQT phải lớn (Pfeffer, 1972). Có thể các thành viên này được lựa chọn không phải để phụ trách việc giám sát, mà 123doc 8 nhằm mục đích cung cấp các ý kiến cố vấn trong quá trình thương lượng các hợp đồng nhờ vào khả năng của họ. Đòn bẩy tài chính Các doanh nghiệp có đòn bẩy tài chính mạnh phụ thuộc vào các nguồn lực bên ngoài với mức độ lớn và có thể có nhu cầu được cố vấn nhiều hơn (Pfeffer, 1972; Klein, 1998). Dechow, Sloan và Sweeney,1996 cho rằng nhiều nợ có thể dẫn đến nhiều khả năng gian lận hơn nên cần tăng nhu cầu giám sát nội bộ.
Booth và Deli (1999) phát hiện thấy rằng các chủ ngân hàng thương mại có tên trong HĐQT của công ty, phục vụ với mục tiêu cung cấp ý kiến chuyên môn về lĩnh vực nợ ngân hàng. Guner, Malmendier và Tate (2005) đã phát hiện rằng cả các chủ ngân hàng thương mại và chủ ngân hàng đầu tư đều là thành viên HĐQT sẽ nâng cao khả năng tiếp cận nguồn tài chính bên ngoài của công ty. Đa dạng hóa, quy mô doanh nghiệp và đòn bẩy tài chính là tất cả các mặt phức tạp của doanh nghiệp và nhu cầu được cố vấn của Giám đốc điều hành. Mức độ phức tạp của công ty tăng lên ở bất kỳ khía cạnh nào cũng sẽ dẫn đến cần có một HĐQT với quy mô lớn hơn.
Để rút ra được yếu tố phức tạp không thể nhìn thấy này, nghiên cứu đã sử dụng phương pháp phân tích nhân tố. Phân tích nhân tố được sử dụng nhằm giảm bậc của các biến. Ngoài ra, sử dụng một số yếu tố phức tạp duy nhất thay vì ba biến riêng lẻ sẽ làm tăng hiệu quả các kiểm định hồi quy bằng cách phá vỡ những khó khăn phát sinh từ đa cộng tuyến. Sử dụng phương thức tương tự như các nghiên cứu khác khi phân tích nhân tố (Guay, 1999; Gaver và Gaver, 1993), nghiên cứu đã tính toán một số nhân tố dựa trên số phân khúc thị trường, logarith doanh số bán hàng, và đòn bẩy.
Điểm số nhân tố cho một mẫu quan sát công ty là sự kết hợp tuyến tính giá trị đã chuyển đổi của ba biến (hệ số hồi quy chuẩn chuẩn hóa). Nghiên cứu đặt tên cho điểm nhân tố thu được là CỐ VẤN do yếu tố này đã làm tăng độ phức 123doc 9 tạp của doanh nghiệp và CỐ VẤN có tương quan tỷ lệ thuận với số phân khúc thị trường, logarith của doanh số bán hàng, và đòn bẩy. Các công ty có điểm số nhân tố trên trung vị của năm được gọi là “công ty phức tạp” và các công ty có điểm số nhân tố dưới trung vị của năm được gọi là “công ty đơn giản”. Từ những ý kiến trên tác giả đưa ra Giả thuyết 1 như sau: Các công ty phức tạp sẽ có quy mô HĐQT lớn với nhiều thành viên bên ngoài hơn các công ty đơn giản.
Nghiên cứu kiến thức đặc thù, chi phí R&D và cơ cấu HĐQT Hiện nay, các tổ chức, các nhà quản lý và các nhà lập pháp đều có một mong muốn chung, đó là xây dựng HĐQT độc lập hơn. Tuy nhiên, vẫn có một số yếu tố dẫn đến việc phải có các thành viên nội bộ trong HĐQT. Các thành viên bên trong có những kiến thức đặc thù về lĩnh vực hoạt động của công ty (Fama và Jense, 1983), và đó là những kiến thức rất hữu ích hỗ trợ công ty có thể hoạt động trong các môi trường không chắc chắn (Williamson, 1975). Thành viên nội bộ với những kiến thức nhất định được bổ nhiệm vào những vị trí quan trọng hơn nhằm giúp công ty lựa chọn chiến lược phù hợp (Baysinger và Hoskisson, 1990; Fama, 1980).
Nghiên cứu sử dụng chi phí R&D để chứng minh cho tầm quan trọng của kiến thức đặc thù. Điều này phù hợp với nghiên cứu của Raheja, 2005; ông nhận định rằng các công ty với chi phí thẩm tra dự án cao (chẳng hạn như các công ty chuyên về R&D) thường nhận được lợi ích từ việc đóng góp của các thành viên bên trong nhiều hơn. Trong nghiên cứu liên quan, Burkart, Gromb và Panunzi (1997) đã khẳng định rằng việc cắt giảm giám sát và giao lại quyền quyết định cho đội ngũ quản lý trong công ty là việc làm cần thiết, tối ưu; trong đó sáng kiến của nhà quản lý thường dẫn đến giá trị cao hơn. Sáng kiến quản lý dường như đã trở thành yếu tố quyết định quan trọng đối với giá trị doanh nghiệp tại các công ty chuyên về R&D.