Chương 1 — Giới thiệu đề tài: Giới thiệu một số vấn dé liên quan đến lý do hình thành; những mục tiêu hướng tới; ý nghĩ thực tiễn và phạm vi thực hiện nghiên cứu Chương 2 — Cơ sở lý thuyết: Giới thiệu những khái niệm lý thuyết được sử dụng như doanh nghiệp nhỏ và vừa, định hướng tỉnh thần doanh nghiệp, định hướng thị trường. và kết quả thực hiện. Giới thiệu các mô hình nghiên cứu về quan hệ giữa định hướng tỉnh thần doanh nghiệp, định hướng thị trường và kết quả thực hiện; từ đây đề xuất mô hình nghiên cứu và các giả thuyết liên quan. Chương 3 — Phương pháp nghiên cứu: Trình bày phương pháp thực hiện nghiên cứu để kiểm định thang do, khảo sát sơ bộ dé đánh giá thang đo và khảo sát chính thức dé kiếm định mô hình và các giả thuyết nghiên cứu.
Chương 4 — Kết quả nghiên cứu: Trình bày kết quả phân tích, kiểm định dữ liệu đã thu thập và đưa ra kết luận cho các giả thuyết trong mô hình nghiên cứu. Chương 5 — Kết luận và kiến nghị: Tóm tat các kết quả chính của nghiên cứu, những đóng góp của nghiên cứu. các hạn chế của dé tài nghiên cứu và định hướng cho các nghiên cứu tiép theo. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT Trong chương 2, các khái niệm về DNNVV, định hướng tỉnh thần doanh nghiệp.
định hướng thị trường và kết quả thực hiện sẽ được trình bày. Bên cạnh đó, tong quan một số nghiên cứu về các thành phần của định hướng tinh thần doanh nghiệp, định hướng thị trường và kết quả thực hiện. Từ những nghiên cứu đó, một mô hình nghiên cứu quan hệ giữa định hướng tinh thần doanh nghiệp, định hướng thị trường và kết quả thực hiện sẽ được xây dựng. Doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) Theo Nghị định số 56/2009/NĐ-CP của Chính phủ ngày 30 tháng 6 năm 2009: “Doanh nghiệp nhỏ và vừa được định nghĩa là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tong nguôn vốn (tổng nguồn vốn tương đương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tông nguồn vôn là tiêu chí ưu tiên)”.1: Tiêu chí xác định DNNVV (Nghị định số 56/2009/NĐ-CP) Quy mô | Doanh nghiệp Doanh nghiệp nho Doanh nghiệp vừa siêu nho , Tong Số lao Tổng Số lao SO lao động.
sự ¬ Ug Khu vực nguồn von động nguồn von động I. Nông,|10 người tro| 20 ty đông | Từ I0 | Từ trên 20 | Từ trên 200 lâm nghiệp | xuống trở xuống người đến | tỷ đồng đến |người đến và thủy sản 200 người 100 ty đồng | 300 người H. Công |10 người trở |20 tỷ đông | Từ I0 | Từ trên 20 | Từ trên 200 nghiệp và | xuống trở xuống người đến | tỷ đồng đến |người đến xây dựng 200 người | 100 tỷ đồng | 300 người II. Thương |10 người trở |10 ty đông | Từ trên 10 | Từ trên 10 | Từ trên 50 mại và dịch | xuống trở xuống người đến | tỷ đồng đến |người đến vụ 50 người 50tỷ đồng | 100 người Vì vậy, tất cả các doanh nghiệp thuộc mọi loại hình, lĩnh vực kinh té có đăng ký kinh doanh thỏa mãn các điều kiện về số lao động, tong nguồn vốn như trên đều được xem là doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Định hướng tinh than doanh nghiệp (Entrepreneurial Orientation) Định hướng tinh thần doanh nghiệp được dé cập là định hướng chiến lược của doanh nghiệp để năm bắt các khía cạnh kinh doanh cụ thể nhằm đưa ra quyết định phù hợp. Điều này phan ánh cách một doanh nghiệp hoạt động (Lumpkin & Dess, 1996). Các doanh nghiệp có định hướng tinh than doanh nghiệp là chấp nhận rủi ro, sáng tạo và chủ động. Họ săn sàng đưa vào các dự án có rủi ro cao với cơ hội lợi nhuận rat cao và rất tích cực trong việc theo đuổi các cơ hội này.
Các doanh nghiệp có tinh than doanh nghiệp thường bat đầu hành động trước, thường là đầu tiên đưa ra thị trường các sản pham/dich vụ mới, sau đó đối thủ cạnh tranh mới phản ứng lại. Dé hỗ trợ định hướng này, các doanh nghiệp này đặc biệt nhấn mạnh việc dẫn đầu về công nghệ, nghiên cứu và phát triển (Khandwalla, 1977). Theo Miller (1983), định hướng tinh than doanh nghiệp còn được định nghĩa là mức độ các nhà quản lý/chủ doanh nghiệp hướng doanh nghiệp theo mục tiêu để chủ động tham gia đáp ứng sự thay đôi của thị trường, chấp nhận rủi ro kinh doanh, sáng tạo lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp để cạnh tranh quyết liệt với các doanh nghiệp khác. Theo Colvin và Slevin (1989), một doanh nghiệp có lợi thế khi định hướng tinh thần doanh nghiệp nhằm tạo vị thế chiến lược, chủ động đổi mới về công nghệ và sản phẩm, định hướng cạnh tranh mạnh mẽ và khả năng chấp nhận rủi ro tốt hơn của nhà quản lý trong môi trường cạnh tranh cao, nhiều biến động.
Trên cơ sở này, một số nhà nghiên cứu đã đồng ý rằng định hướng tinh thần doanh nghiệp là sự kết hợp của ba thành phần như theo quan điểm của Miller (1983): - Tính sang tạo (innovation): là sự mong muốn để hỗ trợ việc sáng tạo và thử nghiệm nhằm giới thiệu sản pham/dich vu moi; dan dau vé công nghệ, nghiên cứu và phát triển trong việc phát triển các quy trình mới (Miller, 1983). - Tính chấp nhận rủi ro (risk-taking): là xu hướng thực hiện những hành động như mạo hiém vào thi trường hoàn toàn mới, cam kêt phan lớn nguôn lực dé lây kêt qua không chắc chăn (Miller, 1983). Ngoài ra, nó thể hiện mức độ các nhà quản lý có xu hướng chấp nhận rủi ro liên quan đến kinh doanh đối với quyết định đầu tư và hành động chiến lược dé đối mặt với những trạng thái không chắc chăn (Colvin & Slevin, 1988; Milller, 1983). Xu hướng chấp nhận rủi ro còn là một trong những hoạt động quan trọng nhất của các doanh nghiệp vì nó tạo ra một môi trường thích hợp để doanh nghiệp hội nhập và phát triển các hoạt động đối mới sáng tạo của minh (Hult & ctg, 2004).
- Tinh chủ động (proactiveness): là tìm kiếm cơ hội, hướng tới tương lai liên quan đến giới thiệu sản phẩm hoặc dịch vụ mới trước sự cạnh tranh và hành động dự đoán nhu cầu tương lai để tạo ra thay đôi và định hình môi trường (Miller, 1983). Theo Venkatraman (1989), tính chủ động phan ánh khuynh hướng theo đuôi những cơ hội mới, dự đoán và hành động theo nhu cầu trong tương lai băng cách phát triển ra thị trường với những sản pham/dich vụ mới. Và tinh chủ động đại diện cho viễn cảnh trong tương lai và sẵn sàng để bắt đầu hành động thông qua các hoạt động sáng tạo (Lumpkin & Dess, 1996) Tuy nhiên, phan lớn các nghiên cứu sử dụng nhiêu về định nghĩa và các thành phan của định hướng tinh than doanh nghiệp theo quan điểm của Miller (1983) (Covin & Slevin, 1989; Zahra & Garvis, 2000; Lumpkin & Dess, 2001; Wiklund & Shepherd, 2003, 2005). Vi vậy, trong nghiên cứu nay cũng sử dung ba thành phan chính là: tính sáng tạo, tính chấp nhận rủi ro, tính chu động (Miller, 1983).
Định hướng thị trường (Market orientation) Định hướng thị trường là một trong những khái niệm quan trọng về tiếp thị. Thuật ngữ này bắt đầu được quan tâm dưới góc độ ứng dụng từ năm 1990, đặc biệt là sự đóng góp quan trọng cua Kohli và Jaworski (1990), Narver và Slater (1990). Theo quan điểm hành vi của Kohli và Jaworski (1990), định hướng thị trường là quá trình thực thi khái niệm tiếp thị thông qua ba quá trình: + Thu thập (intelligence generation): thu thập các thông tin thị trường và phân tích yếu tô bên ngoài có ảnh hưởng đến nhu cầu khách hàng ở hiện tại và tương lai. + Pho biến (intelligence dissemination): truyền đạt, phố biến các thông tin thị trường đến mọi bộ phận chức năng, cá nhân trong doanh nghiệp nhằm thích ứng với nhu cầu, mong muốn của khách hàng và phối hợp giữa các bộ phận tốt hơn.
+ Đáp ứng (responsiveness): tạo ra các đáp ứng đối với những thay đổi nhu cầu khách hang sau hai quá trình thu thập và pho biến. Theo Narver va Slater (1990), định hướng thị trường được xem như là giá trị văn hóa kinh doanh của tổ chức, văn hóa này rất hiệu quả trong việc tao ra các giá trị vượt trội cho khách hàng. Nó gồm ba thành phần như: + Định hướng khách hang (customer orientation): là sự hiểu biết day đủ về khách hàng mục tiêu để liên tục tạo ra giá tri vượt trội cho họ. + Định hướng đối thủ cạnh tranh (competitor orientation): là doanh nghiệp hiểu được điểm mạnh-điểm yếu trong ngắn hạn, năng lực cũng như chiến lược trong dài hạn của đối thủ hiện tại và đối thủ tiêm ấn.
+ Phối hợp chức năng (interfunctional coordination): là sự gắn kết hành vi và tao ra sự phụ thuộc giữa các bộ phận trong tô chức, các bộ phận này rất nhạy bén và đáp ứng tốt nhu cầu mong muốn lẫn nhau trong công việc. Cả hai nghiên cứu trên đều cho răng doanh nghiệp nên tập trung vào khách hàng và đối thủ cạnh tranh, đó là trách nhiệm của toàn bộ tổ chức, chứ không phải riêng của bộ phan marketing. Tuy nhiên, Narver va Slater (1990) khong dé cap mot cách chính thức đến những đáp ứng của doanh nghiệp đối với co hội thi trường như Kohli và Jaworski (1990) đã đề cập (Hậu và Thuý, 2007). Bên cạnh đó, dựa theo định nghĩa định hướng tinh thần doanh nghiệp đã được giải thích thì đó là hành vi của nhà quản lý chủ nhân nhằm xây dựng doanh nghiệp theo hướng chấp nhận rủi ro, tích cực chủ động, sáng tạo.
Vì vậy, định hướng thị trường trong nghiên cứu này cũng sử dụng theo quan điểm hành vi của Kohli và Jaworski (1990) gồm ba thành phan: thu thập thông tin, phố biến thông tin và đáp ứng. Kết quả thực hiện (Performance) Kết quả thực hiện là kết quả tổng hợp mọi hoạt động của doanh nghiệp từ khi mua hàng đến khi hàng hóa được người tiêu dùng chấp nhận (đối với doanh nghiệp thương mại) hoặc thu mua nguyên vật liệu đầu vào đến quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm (đối với doanh nghiệp sản xuất). Bên cạnh đó, kết quả thực hiện của doanh nghiệp thông thường được đo theo hai loại là các chỉ số tài chính và phi tài chính. Tuy nhiên, đối với các chỉ số tài chính sẽ không được sử dụng vì dữ liệu không thể dễ dàng thu thập.