Mở đầu Chương 2: Tổng quan nghiên cứu và cơ sở lý luận Chương 3: Xây dựng giả thuyết và mô hình nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 5: Kết luận và khuyến nghị Tài liệu tham khảo 1. Dự kiến đóng góp của đề tài Vẻ mặt khoa hoc: Bài nghiên cứu ké thừa những nghiên cứu trước đó, giúp hỗ trợ lắp một phần khoảng trống nghiên cứu, bổ sung vào đề tài nghiên cứu về mỗi quan hệ đặc điểm CEO với hiệu quả hoạt động của công ty niêm yết trên sản chứng khoán Việt Nam. Vé mặt thực tiễn: Với các mục tiêu trên, nghiên cứu này sẽ đóng góp vào việc hiểu rõ hơn về mối quan hệ giữa đặc điểm của Tổng Giám đốc và rủi ro điều chỉnh báo cáo tài chính của công ty, từ đó đưa ra các khuyến nghị cho các doanh nghiệp trong việc tìm kiếm, tuyển dụng và phát triển nguồn nhân lực quản lý cấp cao và dam bảo tính minh bạch trong việc đưa ra báo cáo tài chính. TONG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 2.
Khái niệm Tổng giám đốc (CEO) 2. Khái niệm CEO Giám đốc điều hành (CEO) trong tiếng anh là viết tắt của Chief Executive Officer. Đây là chức vụ lãnh đạo trong công ty, điều hành và quản lý mọi hoạt động chung của công ty. CEO giống như một người quản lý doanh nghiệp, người phụ trách điều hành doanh nghiệp theo mục tiêu, tầm nhìn và các giá trị cốt lõi vốn có của doanh nghiệp.
CEO còn là người tông hợp dữ liệu và đưa ra các quyết định chiến lược cho công việc kinh doanh ngắn hạn va dai hạn của công ty và chịu trách nhiệm cho kết quả kinh doanh này. Một CEO giỏi là hiểu từng nhiệm vụ và biết phân chia công việc hợp lý cho từng cá nhân đảm nhận, hơn hết phải nhanh nhạy đề giải quyết những tình huống phức tạp trong kinh doanh. CEO đảm bảo rằng sự lãnh đạo của tô chức duy trì nhận thức liên tục về cả cảnh quan cạnh tranh bên ngoài và bên trong, cơ hội mở rộng, khách hang, thi trường, phat triển và tiêu chuân ngành mới. CEO có thể đưa ra quyết định khó khăn dựa trên nhu cầu, giá trị và mục tiêu của công ty.
Tùy thuộc vào quy mô của tô chức, CEO thường báo cáo cho Hội đồng quản trị. Nếu CEO cũng là người sáng lập công ty hoặc chủ sở hữu cô đông hay chính là chủ sở hữu, Hội đồng quan trị phần lớn đóng vai trò tư vấn cho CEO. Vai trò của CEO CEO là người đứng đầu của một doanh nghiệp và có nhiệm vụ quản lý và điều hành các hoạt động của công ty. Vai trò của CEO rất quan trọng trong việc đảm bảo sự phát triển và thành công của doanh nghiệp.
Vai trò và nghĩa vụ của CEO có thể có nhiều sự khác biệt giữa các doanh nghiệp, thường phụ thuộc vào cơ cấu tô chức và quy mô tổng thể của doanh nghiệp. Ở các doanh nghiệp vừa và nhỏ, CEO thường nam trong tay quyên lực rất lớn, đôi khi bao gồm cả trách nhiệm trong van đề tuyên dụng nhân lực. Ở các doanh nghiệp lớn, CEO thường chỉ có trách nhiệm ra quyết định quy mô lớn, những chiến lược dài hạn mang tính chất quan trọng. Những quyết định ít quan trọng hơn sẽ được trao quyền cho các nhà quản lý cấp thấp hơn.
Không có một chuân chung quy định những nghĩa vụ và trách nhiệm cụ thê đối với một CEO. Về tong thé, vai trò của CEO bao gồm: Thứ nhất, CEO là người đưa ra chiến lược kinh doanh, CEO phải định hướng và đưa ra chiến lược phù hợp với tình hình thị trường và khả năng của công ty. Họ phải đánh giá các cơ hội và thách thức, đưa ra kế hoạch và phân phối nguồn lực dé đạt được mục tiêu kinh doanh của công ty. Thứ hai, CEO là người quản lý tài chính, CEO phải quản lý ngân sách, đưa ra quyết định về đầu tư và đảm bảo rằng công ty đang sử dụng nguồn lực một cách hiệu quả để đạt được mục tiêu lợi nhuận.
Thứ ba, CEO là người xây dựng mối quan hệ, CEO phải tạo ra mối quan hệ tốt với khách hàng, đối tác và các cô đông dé đảm bảo sự tin tưởng và hỗ trợ. Họ cũng phải tạo ra một môi trường làm việc tích cực dé thu hút và giữ chân nhân tài. Thứ tư, CEO là người lãnh đạo và quản lý nhân sự, CEO phải đảm bảo rằng công ty có đội ngũ nhân sự có năng lực, đủ kinh nghiệm va được đào tạo dé đáp ứng nhu cầu và yêu cầu của công việc. Họ cũng phải giúp đỡ và động viên nhân viên để phát triển bản thân va đóng góp cho sự phát triển của công ty.
Thứ năm, CEO là người đảm bảo tuân thủ luật pháp và quy định: CEO phải đảm bảo rằng công ty tuân thủ các quy định và luật pháp hiện hành. Họ cũng phải theo dõi các thay đổi về chính sách và quy định dé dam bảo rằng công ty hoạt động đúng quy trình và tránh các rủi ro pháp lý. Thứ sáu, CEO là người đưa ra quyết định chiến lược, CEO có vai trò quan trọng trong việc đưa ra quyết định về các hoạt động chiến lược của công ty. Họ phải đưa ra quy.
Đặc điểm của CEO Là một thành viên quan trọng trong đội ngũ quản lý của công ty, CEO có quyền lực và khả năng đưa ra các quyết định có thé ảnh hưởng đến kết quả của tô chức (Hambrick và Fukutomi, 1991; Hambrick và Mason, 1984). Hơn nữa, các CEO ghi dấu các giá trị và phong cách nhận thức của riêng họ lên các công ty tương ứng của họ (Wally và Baum, 1994), sau đó có thé trở thành biểu hiện trong quá trình ra quyết định của công ty (Keeney, 1992; Norburn, 1989). Các CEO có nền tảng và đặc điểm nhân khẩu học khác nhau có thể dẫn đến sự khác biệt trong định hướng nhận thức và do đó đưa ra quyết định chiến lược khác nhau (Hambrick và Mason. 1984; Rajagopalan va Datta, 1996).
Các đặc điểm của CEO có thé cung cấp các dấu hiệu hoặc thông tin cho các nhà đầu tư, các nhà bảo lãnh phát hành và các trung gian tài chính khác về gia tri của một công ty (Zimmerman, 2008). Cụ thể, các đặc điểm của một CEO có thé có ảnh hưởng đáng ké đến cách mà công ty phan ứng với áp lực thé chế. Điều chỉnh Báo cáo tài chính (BCTC) 2. Khái niệm Điều chỉnh báo cáo tài chính là thước đo quan trọng đề xác định chất lượng của báo cáo tài chính.
Rủi ro điều chỉnh báo cáo tài chính xảy ra khi một công ty phát hiện ra lỗi hoặc sai sót trong báo cáo tài chính đã phát hành trước đó và họ sửa lỗi đó bằng cách điều chỉnh các kỳ trước. Khi sai sót đã được xác định, công ty phải đánh giá mức độ trọng yếu của nó dé xác định phương pháp điều chỉnh. Việc xảy ra sai sót trọng yếu sẽ làm giảm tính hữu ích của thông tin tai chính đã báo cáo trước đó. Nếu một công ty quyết định rằng việc sửa lỗi hoặc trình bày sai sẽ ảnh hưởng đến đánh giá của nhà đầu tư về kết quả của công ty, thì họ nên sửa lỗi bằng cách điều chỉnh.
Nếu một vấn đề hoặc lỗi được phát hiện ảnh hưởng đến một phần của báo cáo tài chính hoặc toàn bộ tài liệu, thì có thể sẽ phải điều chỉnh. Ngoài ra, nếu nhận được thông tin quan trọng nhất định về báo cáo ban đầu sau khi báo cáo đã được phát hành, thì có thé phát hành lại dé điều chỉnh tài chính dựa trên những khám phá. Theo Healy va Wahlen (1999), "điều chỉnh lợi nhuận xảy ra khi các nhà quản tri dung đánh giá chủ quan của mình trong lập BCTC hoặc thiết kế các giao dich dé điều chỉnh BCTC, làm cho thông tin trên BCTC bi sai lệch dẫn đến sự hiểu sai về tình hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp cho cô đông và các bên liên quan; hoặc nhằm thay đổi kết quả các hợp đồng mà có điều khoản ràng buộc dựa trên số liệu báo cáo kế toán”. Trong khi, Ronen và Yaari (2007) lại cho răng: "Điều chỉnh lợi nhuận không phải là lúc nào cũng xấu và rất khó dé chúng ta có thé phân biệt giữa việc bóp méo lợi nhuận đề thực hiện hành vi gian lận với việc các nhà quản trị luôn cố gắng điều tiết chi phí trong phạm vi dự toán dé có thé đạt được mục tiêu về mặt doanh số”.
Hậu quả Sự khác biệt trong báo cáo được điều chỉnh là rất quan trọng vì mục tiêu của báo cáo tài chính là cung cấp thông tin chính xác, kịp thời và hữu ích cho quyết định. Nhiều sự điều chỉnh là kết quả của những sai lầm nhỏ hoặc lỗi diễn giải sai cơ bản. Tuy nhiên, một số có thể đem lại hậu quả nghiêm trọng, làm nồi bật kha năng gian lận hoặc thiếu năng lực của CEO. Báo cáo quá mức lợi nhuận của một công ty có thể khiến các nhà đầu tư tin rằng công ty đang ở trong tình trạng tài chính mạnh hơn thực tế.
Dựa trên thông tin không chính xác, các nhà đầu tư có thể nảy sinh ý định liên quan đến các khoản đầu tư mà lẽ ra sẽ không được thực hiện. Các quan điểm lý thuyết liên quan 2. Lý thuyết đại diện (Agency Theory) Nhận định về mối quan hệ sở hữu và điều hành, Adam Smith từng viết trong cuốn The Wealth of Nations tr800 (1937): “Người điều hành chi quản lý tiền của người khác. Những người sở hữu không thể mong đợi và tin tưởng họ sẽ quản lý, kiểm soát và sử dụng tiền một cách cân thận như chủ sở hữu.Do vay, sự xao nhãng và lãng phí luôn luôn tồn tại du ít hay nhiều.” Mặc dù quan điểm của ông chưa phát biểu thành lý thuyết nhưng nó là cơ sở dé Jensen, Meckling và các nhà nghiên cứu phát triển và công bố thành lý thuyết đại diện vào những năm dau 1970.
Lý thuyết đại diện (Ross, 1973; Jensen và Meckling, 1976) phân tích những xung đột và phụ thuộc giữa chủ sở hữu doanh nghiệp (cổ đông) và người quản lý (lãnh đạo, quản lý) trong một doanh nghiệp. Trong số đó, cỗ đông được gọi là người ủy thác và người quản lý được ủy thác (principal), người quản lý doanh nghiệp theo pháp luật và bảo vệ lợi ich của các cô đông. Tóm lại, “moi quan hé dai dién duoc thiét lập giữa hai hay nhiễu bên khi mà một trong các bên này, gọi là người đại diện (agent), hành động như một đại diện của bên kia, được gọi là người uy quyên (principal), trong một bồi cảnh ra quyết định đặc biệt” (Roth, 1973, tr.