Chương 1: Giới thiệu vấn đề nghiên cứu, tính cấp thiết và hữu dụng của đề tài nghiên cứu Chương 2: Tổng quan về gian lận và gian lận BCTC, các kết quả nghiên cứu trong lĩnh vực này, các thủ thuật kế toán phổ biến dùng thực hiện gian lận. Chương 3: Thực trạng gian lận và sai lệch nghiêm trọng về lợi nhuận trong BCTC trước và sau kiểm toán của các công ty niêm yết trên sàn chứng khoán Tp. Chương 4: Kết quả nghiên cứu thực nghiệm về gian lận BCTC của doanh nghiệp niêm yết tại SGDCK Tp. Chương 5: Kết luận và đề xuất kiến nghị nhằm hạn chế gian lận BCTC.
123doc 7 CHƢƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ GIAN LẬN BÁO CÁO TÀI CHÍNH VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN GIAN LẬN BÁO CÁO TÀI CHÍNH Gian lận BCTC nằm trong một chủ đề nghiên cứu rộng hơn là lý thuyết về gian lận. Trong chương này tác giả giới thiệu các định nghĩa về gian lận BCTC, những kết quả nghiên cứu quan trọng đóng góp cho sự phát triển lý thuyết về gian lận BCTC. Trình bày các yếu tố gây ảnh hưởng đến rủi ro gian lận BCTC và chi tiết các thủ thuật kế toán dùng thực hiện gian lận. Tác giả cũng tổng kết các công trình tiêu biểu về sử dụng chỉ số tài chính để phát hiện gian lận BCTC một công ty.
Nền tảng lý thuyết về gian lận BCTC 2. Định nghĩa về gian lận BCTC Theo đinh ̣ nghiã trong chuẩn mực kiể m Việt Nam thì: “Gian lận báo cáo tài chính là những hành vi cố ý làm sai lệch thông tin kinh tế, tài chính do một hay nhiều người trong Hội đồng quản trị, Ban Giám đốc, các nhân viên hoặc bên thứ ba thực hiện, làm ảnh hưởng đến báo cáo tài chính”. Theo chuẩn mực kiểm toán quốc tế(ISA) là “Hành vi cố ý của cá nhân hay tổ chức trong công ty, những người chịu trách nhiệm với Hội đồng quản trị, nhân viên hoặc bên thứ ba liên quan đến việc sử dụng lừa dối để thu lợi ích bất hợp pháp cho mình”. Theo Ủy ban thuộc Hội đồng Quốc gia về chống gian lận trên BCTC của Hoa kỳ (Treadway Commision) năm 1987 định nghĩa: “Gian lận trên báo cáo tài chính là hành vi cố ý bỏ sót không ghi chép các nghiệp vụ phát sinh hay công bố thiếu thông tin tài chính nhằm đánh lừa người sử dụng thông tin, đặc biệt là nhà đầu tư và chủ nợ”.
Như vậy có thể hiểu gian lận BCTC là những hành vi cố ý ghi nhận sai lệch thông tin trên BCTC, được thực hiện bởi những người có trách nhiệm trong công ty hoặc 123doc 8 bên liên quan đến công ty, nhằm mục đích đánh lừa người sử dụng thông tin trong BCTC. Tuy nhiên, Tại Việt Nam gian lận BCTC khó xác định là do cố ý hay vô ý, nên trong thực tế thường đề cập đến khả năng gian lận BCTC. Cũng theo thông tư số 155/2015/TT-BTC “hướng dẫn công bố thông tin trên thị trường chứng khoán”: Số liệu, kết quả hoạt động kinh doanh lũy kế từ đầu năm tại báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh trong báo cáo tài chính quý 2 đã công bố so với báo cáo tài chính bán niên được soát xét; hoặc tại báo cáo tài chính quý 4 đã công bố so với báo cáo tài chính năm được kiểm toán có sự chênh lệch từ 5% trở lên thì phải có công văn giải trình với SGDCK. Như vậy mức chênh lệnh 5% được coi là không bình thường và cần phải công khai nguyên nhân, qua đó đối tượng quan tâm có thể đánh giá được khả năng gian lận BCTC của doanh nghiệp.
Lý thuyết về gian lận báo cáo tài chính Gian lận trên BCTC có thể được giải thích dựa vào lý thuyết tổng quát về gian lận của Cressey với mô hình tam giác gian lận hoặc của Steve Albrecht với mô hình về bàn cân gian lận. Ngoài ra lý thuyết đại diện của Jensen và Meckling, lý thuyết đối tượng liên quan của Freeman cũng góp phần làm rõ nguyên nhân dẫn đến gian lận BCTC. Cressey (1953) đã thực hiện một nghiên cứu tổng quát về gian lận, theo Cressey hành vi gian lận chỉ được thực hiện trên cơ sở hội đủ ba nhân tố sau: áp lực, cơ hội, cá tính của con người. Ông đề xuất mô hình tam giác gian lận(Fraud Triangle) như sau: Cơ hội Cá tính, Áp lực thái độ 123doc 9 Áp lực: Khởi nguồn của việc thực hiện gian lận là do người thực hiện chịu những áp lực.
Cressey tổng kết 6 trường hợp chính tạo nên áp lực gồm: khó khăn về tài chính; hậu quả từ thất bại cá nhân; khó khăn về kinh doanh; bị cô lập; muốn ngang bằng mọi người; mối quan hệ chủ-thợ. Cơ hội: Một khi đã có những áp lực hay động lực thúc đẩy, nếu có cơ hội, hành vi gian lận sẽ được thực hiện. Có hai yếu tố để tạo ra cơ hội: Có thông tin: khi nhận biết được hành vi gian lận của người khác hay nhận thấy ở vị trí mình có thể thực hiện được hành vi gian lận tương tự. Có kỹ thuật để thực hiện: là có đủ kỹ năng và phương tiện để thực hiện gian lận Thái độ, cá tính: Công trình nghiên cứu của Cressey cho thấy rằng, không phải tất cả mọi người khi hội đủ áp lực và cơ hội là thực hiện hành vi gian lận mà còn tùy thuộc vào thái độ và cá tính.
Theo Cressey khoảng 80% khi có cơ hội và chịu áp lực họ sẽ thực hiện hành vi gian lận. Trong khi đó, cũng nghiên cứu về gian lận, D. Steve Albrecht(1980) một nhà tội phạm học làm việc tại trường Đại học Brigham Young (Mỹ) đã xây dựng một mô hình nổi tiếng: Mô hình về bàn cân gian lận. Mô hình này cho rằng hành vi gian lận có xảy ra hay không phụ thuộc vào ba nhân tố: Hoàn cảnh tạo ra áp lực, nắm bắt cơ hội và tính trung thực của cá nhân.
Theo Albercht, khi hoàn cảnh tạo áp lực, cơ hội thực hiện gian lận cao cùng với tính trung thực của cá nhân thấp thì nguy cơ xảy ra gian lận là rất cao. Ngược lại, khi hoàn cảnh tạo áp lực, cơ hội thực hiện gian lận thấp cùng với tính trung thực cao thì nguy cơ xảy ra gian lận là rất thấp. Khác với hai lý thuyết trên, lý thuyết đại diện của Jensen và Meckling(1976) nghiên cứu mối quan hệ giữa bên ủy quyền và bên được ủy quyền cho rằng: do có sự tách biệt giữa quyền sở hữu và quyền điều hành công ty nên các nhà quản lý(bên được ủy nhiệm) có thể thực hiện các hành vi tư lợi dẫn đến gian lận. Mặt khác do thông 123doc 10 tin bất cân xứng giữa nhà quản lý và cổ đông cũng là nguyên nhân tạo cơ hội cho hành vi gian lận.
Cụ thể: – Quan hệ nhà quản lý và cổ đông: Các giải pháp để giảm chi phí ủy quyền là thông qua hợp đồng giữa các cổ đông và nhà quản lý theo hướng khuyến khích nhà quản lý tối đa hóa giá trị thị trường của công ty và tối đa hóa lợi nhuận công ty. Phần lớn các kế hoạch khen thưởng dựa trên các con số kế toán, do đó nhà quản lý sẽ tìm cách tác động vào báo cáo tài chính thông qua vận dụng chính sách kế toán để đạt được mục đích hưởng lợi cá nhân của mình. – Quan hệ cổ đông và chủ nợ: Khi cho vay, chủ nợ có thể đưa vào hợp đồng các điều khoản hạn chế như: kiểm soát việc chia cổ tức, kiểm soát hoạt động đầu tư, yêu cầu thông tin để giám sát tình hình hoạt động doanh nghiệp. Việc sử dụng các điều khoản hạn chế nói trên phải dựa trên số liệu kế toán của doanh nghiệp.
Do đó, các nhà quản lý sẽ tìm cách vận dụng chính sách kế toán khi lập báo cáo tài chính có lợi nhất cho doanh nghiệp, đặc biệt khi doanh nghiệp gần đến tình trạng vi phạm hợp đồng vay. Lý thuyết đối tượng liên quan của Freeman(1984) đề cập đến trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp và cũng được dùng để giải thích nguyên nhân về gian lận BCTC. Một khía cạnh của lý thuyết cho rằng: Ban điều hành doanh nghiệp thường ưu tiên lên hàng đầu trách nhiệm tối đa hóa lợi nhuận trong khuôn khổ luật chơi của thị trường, không bao gồm(hoặc coi nhẹ) các hành động dẫn đến sự hiểu lầm và gian lận. Tựu chung lại, để giải thích và tìm hiểu về gian lận BCTC người ta đã kết hợp lý thuyết tổng quát về gian lận với lý thuyết tài chính.
Hay gian lận BCTC nằm trong một chủ đề nghiên cứu rộng hơn là lý thuyết về gian lận. Các phƣơng thức gian lận thƣờng gặp trên BCTC 2.1 Các phƣơng thức gian lận trên BCTC nói chung Các phương thức gian lận đến từ lợi dụng sự linh động trong áp dụng chuẩn mực kế 123doc 11 toán(ví dụ các khoản mục có giá trị cho phép ước lượng theo ý chủ quan), hoặc cực đoan hơn nữa là vi phạm chuẩn mực. Ở đây tác giả trình bày kết quả các nghiên cứu tiêu biểu. Theo viện CFA hoa kỳ, các phương thức có thể được xếp vào hai nhóm chính: - Ghi nhận sai thời điểm hoặc sai giá trị: gian lận BCTC bằng cách ghi nhận sai thời điểm hoặc sai về giá trị sẽ ảnh hưởng đến nhiều tài khoản trong BCTC, ví dụ khi công ty cố tình ghi nhận doanh thu sớm hơn tiêu chuẩn cho phép hoặc ghi nhận cao hơn thực tế sẽ làm tăng lợi nhuận, vốn cổ phần, tài sản.
- Ghi nhận sai phân loại: gian lận bằng cách phân loại sai tài khoản trong ghi nhận các giao dịch kinh tế, ví dụ công ty cố tình phân loại hàng tồn kho vào mục tài sản dài hạn khác, hoặc phân loại dòng tiền hoạt động đầu tư khi bán tài sản dài hạn thành dòng tiền hoạt động kinh doanh. Công trình nghiên cứu của ACFE(2006) chỉ ra gian lận BCTC thường được thực hiện bằng các phương thức: - Che giấu hoặc phóng đại các khoản phải trả hay chi phí. - Phóng đại hoặc che dấu lợi nhuận. - Định giá sai giá trị tài sản.
- Cung cấp thông tin không chính xác: không lưu ý trách nhiệm trọng yếu hay giao dịch các bên liên quan. - Ghi nhận doanh thu hoặc chi phí không chính xác về thời điểm nhằm để bóp méo lợi nhuận. Ba phương cách đầu tiên được sử dụng thường xuyên và chiếm hơn 40% các trường hợp gian lận. Bên cạnh đó, 55% các trường hợp gian lận phối phợp nhiều hơn một phương thức để thực hiện các gian lận BCTC.