CHƯƠNG 1 AISC là thành viên của tổ chức kế toán kiểm toán quốc tế Inpact Asia Pacific. Chúng tôi chuyên cung cấp các dịch vụ về kiểm toán, thẩm định giá, tư vấn thuế, kế toán,… hoạt động tại trụ sở Hồ Chí Minh, 2 chi nhánh tại Hà Nội và Đà Nẵng, cùng với 2 văn phòng đại diện ở Cần Thơ và Hải Phòng nhằm phụ vụ khách hàng trên khắp cả nước. AISC cũng là một trong các công ty kiểm toán độc lập đầu tiên được Ủy Ban Chứng Khoán Nhà Nước cho phép kiểm toán các tổ chức phát hành và kinh doanh chứng khoán theo Quyết định số 51/2000/QĐ- UBCK2 ngày 19/06/2000 của Chủ tịch Ủy Ban Chứng Khoán Nhà Nước. AISC đặc biệt có đội ngũ chuyên viên với trình độ nghiệp vụ cao, được đào tạo có hệ thống tại Việt Nam, Anh, Bỉ, Ai-Len và có nhiều năm kinh nghiệm trong lĩnh vực Kiểm toán, Tin học, Tài chính - Kế toán và Quản lý doanh nghiệp.
Khách hàng của AISC hầu hết trong tất cả ngành nghề như Ngân hàng – Thương mại – Xây dựng – Dịch vụ – Bưu chính viễn thông – Công nghiệp thuộc nhiều thành phần kinh tế. Cung Hữu Đức 10 do an SVTH: Nguyễn Văn Minh Em Chương 2 Cơ sở lý luận về kiểm toán khoản mục doanh thu và nợ phải thu khách hàng.1 Tổng quan về khoản mục doanh thu 2.1 Khái niệm về doanh thu Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 14 “Doanh thu và thu nhập khác” (ban hành theo quyết định số 149/2001/QĐ/BTC ngày 31/12/2001 của Bộ trưởng Bộ Tài chính): “Doanh thu là tổng giá trị các lợi ích kinh tế doanh nghiệp thu được trong kỳ kế toán, phát sinh từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh thông thường của doanh nghiệp, góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu.” Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ là doanh thu phát sinh từ các giao dịch như bán sản phẩm do doanh nghiệp sản xuất ra hoặc bán các loại hàng hoá mua vào trước đó hay cung cấp các dịch vụ cho khách hàng gồm cả các khoản phụ thu và phí thêm ngoài giá bán (nếu có).2 Điều kiện ghi nhận doanh thu • Doanh thu bán hàng Theo Thông Tư 200/2014/TT-BTC ngày 22/12/2014 của Bộ Tài chính: Doanh thu bán hàng được ghi nhận khi đổng thời thòa mãn tất cả năm (5) điều kiện sau: - DN đã chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sở hữu sàn phẩm hoặc hàng hóa cho người mua; - Doanh nghíệp không còn nắm giữ quyền quản lý hàng hóa như người sở hữu hàng hóa hoặc quyền kiểm soát hàng hóa; - Doanh thu được xác định tương đối chắc chắn; ✓ Hợp đồng quy định người mua được quyền trả lại sản phẩm, hàng hoá, đã mua theo những điều kiện cụ thể, doanh nghiệp chỉ được ghi nhận doanh thu khi những điều kiện cụ thể đó không còn tồn tại và người mua không được quyền trả lại sản phẩm, hàng hoá. Cung Hữu Đức 11 do an SVTH: Nguyễn Văn Minh Em ✓ Nếu khách hàng có quyền trả lại hàng hóa dưới hình thức đổi lại để lấy hàng hóa, dịch vụ khác thì vẫn ghi nhận doanh thu từ thời điểm chuyển giao quyền sở hữu hàng hóa. - DN đã thu được hoặc sẽ thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch bán hàng; - Xác định được chi phí liên quan đến giao dịch bán hàng.
• Doanh thu của giao dịch về cung cấp dịch vụ Theo Thông Tư 200/2014/TT-BTC ngày 22/12/2014 của Bộ Tài chính: Doanh thu cung Cấp dịch vụ được xác định khi thỏa mãn tất cả bốn (4) điều kiện sau: - Doanh thu được xác định tương đối chắc chắn. Khi hợp đồng quy định người mua được trả lại dịch vụ đã mua theo những điều kiện cụ thể, doanh nghiệp chỉ được ghi nhận doanh thu khi những điều kiện cụ thể đó không còn tồn tại và người mua không được quyền trả lại dịch vụ đã cung cấp. - Doanh nghiệp đã và sẽ thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch cung cấp dịch vụ đó. - Xác định được phần công việc đã hoàn thành vào thời điểm báo cáo.
- Xác định được chi phí phát sinh cho giao dịch và chi phí để hoàn thành giao dịch cung cấp dich vụ đó. Doanh thu được trình bày theo giá trị ban đầu và các khoản giảm trừ doanh thu để tạo ra doanh thu thuần trong kỳ. Các khoản giảm trừ bao gồm: › Chiết khấu thương mại: là khoản DN bán giảm giá niêm yết cho khách hàng do khách hàng đã mua sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ với khối lượng lớn theo thỏa thuận về chiết khấu thương mại đã ghi trên hợp đổng kinh tế hoặc các cam kết mua hàng. › Giảm giá hàng bán: là khoản giảm trừ cho khách hàng do hàng kém phẩm chất, sai quy cách hoặc lỗi thời.
Cung Hữu Đức 12 do an SVTH: Nguyễn Văn Minh Em › Hàng bán bị trả lại: là khối lượng hàng bán đã xác định là tiêu thụ bị khách hàng trả lại và từ chối do vi phạm cam kết, hợp đồng kinh tế, hàng bị mất, kém phẩm chất, hàng không đúng chủng loại, quy cách, … 2.3 Đặc điểm của doanh thu Khoản mục doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ được trình bày trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, gồm doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ, các khoản giảm trừ doanh thu và doanh thu thuần. Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ là khoản mục trọng yếu trên báo cáo tài chính, là cơ sở mà người sử dụng đánh giá về tình hình hoạt động và quy mô kinh doanh của doanh nghiệp. Do đó, khoản mục này thường có nhiều sai phạm vì những lý do sau: - Doanh thu có quan hệ mật thiết với việc xác định lãi (lỗ). Do đó, những sai lệch về doanh thu thường dẫn đến lãi (lỗ) bị trình bày không trung thực và hợp lý.
- Tại nhiều doanh nghiệp, doanh thu là cơ sở để đánh giá kết quả hoặc thành tích nên chúng có khả năng bị thổi phồng cao hơn thực tế. - Doanh thu có quan hệ với thuế GTGT đầu ra nên có thể bị khai thấp hơn thực tế để trốn thuế hoặc tránh thuế. - Trong nhiều trường hợp việc xác định thời điểm và giá trị ghi nhận doanh thu cần xét đoán nên có thể dẫn đến sai lệch. Nếu doanh nghiệp áp dụng việc tính thuế GTGT phải nộp theo phương pháp khấu trừ thì doanh thu bán hàng và cung cấp dich vụ là doanh thu chưa có thuế, đồng thời doanh nghiệp sử dụng “Hóa đơn giá trị gia tăng” Nếu doanh nghiệp áp dụng việc tính thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp thì doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ có tính thuế, đồng thời doanh nghiệp sử dụng “Hóa đơn bán hàng”.
Đối với sàn phẩm, dịch vụ thuộc đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt, hoặc thuế nhập khẩu thì doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ là tổng giá thanh toán. Cung Hữu Đức 13 do an SVTH: Nguyễn Văn Minh Em 2.4 Mục tiêu kiểm toán khoản mục doanh thu Bảng 2.1: Mục tiêu kiểm toán khoản mục DTBH & CCDV Mục tiêu Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ Hiện hữu Doanh thu được ghi chép đều thực tế phát sinh tại thời điểm lập báo cáo. Đầy đủ Tất cả các nghiệp vụ kinh tế phát sinh đều phải được ghi chép vào sổ sách kế toán. Quyền Doanh thu tại thời điểm lập báo cáo thuộc về đơn vị.
Đánh giá Doanh nghiệp phản ánh đúng số tiền. Ghi chép chính xác Doanh thu tính toán và ghi chép chính xác, thống nhất giữa sổ cái và sổ chi tiết. Trình bày và công Doanh thu được trình bày đầy đủ, đúng đắn trên báo cáo kết bố quả kinh doanh.2 Tổng quan về khoản mục NPT 2.1 Khái niệm và phân loại NPT “Nợ phải thu khách hàng” được định nghĩa như một tài sàn, là một trong những nguồn lực kinh tế quan trọng của một doanh nghiệp. Nó là kết quả của những sự việc đã phát sinh trong quá khứ (nghiệp vụ bán hàng trả chậm), và mang lại lợi ích trong tương lai (thông qua nghiệp vụ thu tiền bán hàng trả chậm).
* Phân loại: Căn cứ vào kỳ hạn thanh toán, phài thu khách hàng được chia thành hai loại: - Phải thu khách hàng ngắn hạn: là các khoản phải thu mà tại thời điểm báo cáo có thời hạn thu hồi hoặc thanh toán dưới một năm hoặc trong một chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp. - Phải thu khách hàng dài hạn: là các khoản phải thu có thời hạn thu hồi hoặc thanh toán trên một năm hoặc hơn một chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp tại thời điểm báo cáo. Cung Hữu Đức 14 do an SVTH: Nguyễn Văn Minh Em Căn cứ vào đối tượng khách hàng, là đối tượng mua hàng hoặc dich vụ và thanh toán chậm, có thể tách thành phải thu khách hàng bên ngoài và phải thu khách hàng nội bộ. Phải thu khách hàng nội bộ ở đây chỉ đề cập đến các khoản nợ cần thu hồi của doanh nghiệp đổi với đơn vị cấp trên, giữa các đơn vị trực thuộc, hoặc các đơn vị phụ thuộc trong một doanh nghiệp độc lập, các doanh nghiệp độc lập trong Tổng công ty, đối với các giao dịch về bán hàng và cung cấp dich vụ.2 Nguyên tắc ghi nhận NPT Phải theo dõi các khoản nợ phải thu khách hàng chi tiết theo từng người đối tượng, không được phép bù trừ khoản phải thu giữa các đối tượng khác nhau.
Đối với các khoản phải thu có gốc ngoại tệ thì vừa phải theo dõi bằng đơn vị nguyên tệ, vừa phải quy đổi thành Việt Nam đồng (VNĐ) theo tỷ giá thích hợp và thực hiện điều chỉnh tỷ giá khi lập báo cáo kế toán. Phải theo dõi chi tiết theo cả chỉ tiêu giá trị và hiện vật đối với các khoản nợ phải thu bằng vàng, bạc, đá quý. Cuối kỳ phải điểu chỉnh số dư theo giá thực tế. Đối với các khoản nợ phải thu đã quá hạn thanh toán thì doanh nghiệp cần phải thực hiện lập dự phòng phải thu khó đòi cho các khoản nợ này một cách thích hợp.3 Nguyên tắc lập dự phòng NPT Dự phòng nợ phài thu khó đòi là phần giá tri tổn thất của các khoản phải thu quá hạn thanh toán, nợ phải thu chưa quá hạn nhưng có thể không đòi được do khách hàng không có khả năng thanh toán.
Theo Thông tư 228/2009/TT-BTC ngày 07/12/2009 về trích lập dự phòng phải thu khó đòi. Căn cứ xác định là khoản nợ phải thu khó đòi: - Nợ phải thu quá hạn thanh toán ghi trong hợp đồng kinh tế, các thế ước vay nợ, cam kết nợ.