chương 1 đã được tác giả khái quát về tổng quan các nghiên cứu trước đây liên quan đến ảnh hưởng của thận trọng kế toán đến giá trị thích hợp thông tin trên phạm vi thế giới và Việt Nam. Có thể nhận định rằng, đề tài xem xét ảnh hưởng của thận trọng kế toán đến giá trị thích hợp của thông tin là một chủ đề thu hút sự quan tâm của nhiều học giả trên thế giới với những kết luận trái chiều nhau. Có nghiên cứu cho rằng, sự tăng lên trong mức độ thận trọng kế toán đã bóp méo giá trị thông tin. Ngược lại, cũng có nhiều nghiên cứu đã kết luận rằng không tồn tại mối quan hệ tuyến tính giữa thận trọng kế toán và giá trị thích hợp thông tin, hay thận trọng kế toán không phải là nguyên nhân gây nên sự sụt giảm trong giá trị thích hợp của thông tin.
Đối với các nghiên cứu tại Việt Nam, các học giả chỉ tập trung xem xét trên khía cạnh giá trị thích hợp thông tin mà cụ thể là thông tin kế toán ảnh hưởng như thế nào đến giá cổ phiếu. Xuất phát từ khe hổng nghiên cứu đó kết hợp với việc đặt nghiên cứu trong bối cảnh tại Việt Nam – quốc gia theo hướng điển luật và sự ảnh hưởng của pháp luật thuế đến việc ghi nhận, hạch toán kế toán; đây sẽ là cơ sở để tác giả xây dựng các giả thuyết nhằm kiểm định về sự hiện hữu của thận trọng kế toán trong mẫu nghiên cứu và ảnh hưởng của nó đến giá trị thích hợp thông tin đối với các công ty phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt nam giai đoạn 2008-2016. Trong nội dung chương tiếp theo, tác giả tiếp tục trình bày cụ thể về cơ sở lý thuyết được sử dụng trong luận văn. 123doc 16 CHƯƠNG 2.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT Trong nội dung chương 2, tác giả tiến hành khái quát các nội dung liên quan đến các định nghĩa, mô hình đo lường thận trọng kế toán và giá trị thích hợp thông tin dưới nhiều góc nhìn và cách tiếp cận khác nhau cũng như phân tích ưu điểm và hạn chế của chúng. Ngoài ra, nội dung của chương này cung cấp thông tin liên quan đến việc phân loại các hình thức thận trọng kế toán theo quan điểm của tổ chức lập quy và các học giả trên thế giới. Các khái niệm có liên quan 2. Giá trị thích hợp của thông tin kế toán (value relevance) 2.
Định nghĩa Mục đích của báo cáo tài chính là cung cấp thông tin tài chính về doanh nghiệp, các thông tin này là hữu ích đối với nhà đầu tư, người cho vay và các chủ nợ khác (hiện tại và tiềm tàng) trong việc đưa ra quyết định về vấn đề cung cấp nguồn lực cho đơn vị (Đoạn OB2 – Khuôn mẫu lý thuyết kế toán theo quan điểm của dự án hội tụ chuẩn mực kế toán Hoa Kỳ và quốc tế, 2010). Để có thể cung cấp các thông tin hữu ích đối với người sử dụng, báo cáo tài chính cần phải thỏa mãn các đặc điểm chất lượng (Vũ Hữu Đức, 2010). Mặt khác, thông tin kế toán có chất lượng là điều kiện tiên quyết để thị trường vốn hoạt động hiệu quả và đóng vai trò quan trọng trong việc ra quyết định của nhà đầu tư, công ty và các tổ chức lập quy (Hellström, 2006). Tính thích hợp (relevance) của thông tin kế toán là một trong những tiêu chuẩn về đặc điểm chất lượng của báo cáo tài chính được đề cập trong khuôn mẫu lý thuyết của Hội đồng chuẩn mực kế toán tài chính Hoa Kỳ (FASB,1980), hội đồng chuẩn mực kế toán quốc tế (IASB,1989) và dự án hội tụ FASB-IASB (2010).
Cụ thể, theo khuôn mẫu lý thuyết của FASB, thích hợp là một đặc điểm cơ bản của chất lượng báo cáo tài chính. Thông tin kế toán được cho là thích hợp nếu nó có khả năng thay đổi quyết định của 123doc 17 người sử dụng. Để đảm bảo tính thích hợp, thông tin cần có giá trị dự đoán (predictive value), giá trị đánh giá (feedback value) những tiên đoán trước đó nhằm làm giảm tính không chắc chắn trong các quyết định đưa ra. Ngoài ra, thông tin được nhận định là thích hợp khi được hỗ trợ bởi khả năng đáp ứng thông tin kịp thời cho việc ra quyết định.
IASB (1989) phát biểu rằng thông tin hữu ích khi thích hợp với nhu cầu đưa ra quyết định của người sử dụng, tức giúp người sử dụng thông tin có thể đánh giá quá khứ, hiện tại hoặc tương lai hoặc xác nhận, điều chỉnh các đánh giá trước đây. Quan điểm về tính thích hợp của thông tin theo dự án hội tụ FASB-IASB có cùng quan điểm với FASB (1989). Cụ thể, thông tin thích hợp là thông tin có khả năng làm thay đổi quyết định của người sử dụng như một người cung cấp vốn. Do đó, để thông tin kế toán được coi là hữu ích cho quá trình ra quyết định của người sử dụng thì thông tin đó phải có giá trị thích hợp (Nurzi Sebrina1 và Yuanita Karmenia Sari, 2016).
Giá trị thích hợp của thông tin kế toán cũng là một chủ đề nghiên cứu thu hút nhiều sự quan tâm của các học giả trên thế giới. Francis và Schipper (1999) định nghĩa giá trị thích hợp của thông tin kế toán là khả năng các số liệu kế toán có thể tóm tắt thông tin cơ bản của giá chứng khoán, do đó giá trị thích hợp được biểu thị qua mối quan hệ thống kê giữa thông tin tài chính với giá cổ phiếu hoặc lợi nhuận trên cổ phiếu. Trong nghiên cứu của Francis và Schipper (1999) cũng đưa ra bốn cách diễn giải thuật ngữ giá trị thích hợp của thông tin kế toán: quan điểm phân tích cơ bản, quan điểm dự đoán, quan điểm thông tin và quan điểm đo lường. Cụ thể, nếu diễn giải theo quan điểm phân tích cơ bản, thông tin kế toán được coi là có giá trị thích hợp nếu nó tạo ra những thay đổi trong xu hướng giá cổ phiếu thông qua giá trị vốn có của nó theo một cách tương tự và cùng hướng với giá trị trường.
Đối với quan điểm dự đoán, nếu thông tin phù hợp cho việc đánh giá giá trị tương lai của các công ty và dự đoán lợi nhuận trong tương lai thì thông tin được xem là có giá trị thích hợp. Còn lại, theo quan điểm thông tin và đo lường, thông tin kế toán được cho là có giá trị thích hợp nếu tồn tại mối quan hệ thống kê giữa thông tin tài chính được công bố và giá cổ phiếu hoặc lợi nhuận trên cổ phiếu. 123doc 18 Barth và cộng sự (2001) phát biểu rằng tính thích hợp và tính đáng tin cậy là những đặc điểm chất lượng quan trọng nhất của báo cáo tài chính và kết hợp hai yếu tố này để đưa ra một khái niệm mới là giá trị thích hợp. Ngoài ra, Barth và cộng sự (2001) cũng đưa ra quan điểm rằng thông tin tài chính được xem là có giá trị thích hợp nếu như thông tin này có liên quan đến giá trị thị trường của cổ phiếu.
Brown (2006) phát biểu rằng giá trị thích hợp của thông tin là mức độ mà lợi nhuận kế toán có thể tóm tắt thông tin trong giá thị trường của cổ phiếu. Quan điểm này cũng khá tương đồng với nghiên cứu của Hellström (2006), tác giả này cho rằng tính hữu ích của thông tin kế toán tài chính trong việc hỗ trợ các nhà đầu tư ra quyết định phát sinh từ mối quan hệ giữa các báo cáo tài chính và giá cổ phiếu. Nurzi Sebrina và Yuanita Karmenia Sari (2016) cho rằng một trong những dấu hiệu của giá trị thích hợp là phản ứng của nhà đầu tư với thông tin được cung cấp bao gồm: thu nhập, giá trị sổ sách và thông tin liên quan đến cổ tức được chia. Luận văn sử dụng quan điểm về giá trị thích hợp thông tin dựa trên quan điểm thông tin đo lường do Francis và Schipper (1999) đề xuất.
Các mô hình đo lường giá trị thích hợp của thông tin kế toán Mối quan hệ giữa thông tin kế toán và giá cổ phiếu là một đề tài nghiên cứu thu hút sự quan tâm của nhiều học giả trong nhiều thập kỷ qua. Trong phần này, tác giả liệt kê một số mô hình đo lường giá trị thích hợp của thông tin kế toán đã được các nhà nghiên cứu trên thế giới phát triển. Mô hình giá của Ohlson (1995) (price value relevance) Ohlson (1995) được xem là người tiên phong trong việc xây dựng cơ sở lý thuyết để giải thích cho mối quan hệ giữa các loại thông tin kế toán và giá cổ phiếu (Trương Đông Lộc và Nguyễn Minh Nhật, 2016). Mô hình này cho biết giá cổ phiếu có thể được quyết định bởi hai thông tin trên báo cáo tài chính là là giá trị sổ sách và và thu nhập trên một cổ phiếu của công ty.
Để đo lường giá trị thích hợp của thông tin, Ohlson (1995) 123doc 19 thực hiện hồi quy mô hình giá cổ phiếu trên giá trị sổ sách và thu nhập trên một cổ phiếu. Giá trị thích hợp của thông tin kế toán được đo lường bằng hệ số R2 hiệu chỉnh của mô hình hồi quy. Mô hình đo lường của tác giả này được biểu diễn như sau: Pit = β0 + β1BVit + β2EPSit + εit Trong đó: Pit = giá trị thị trường của cổ phiếu công ty i 3 tháng sau khi kết thúc niên độ tài chính năm t. BVit = giá trị sổ sách của cổ phiếu công ty i năm t EPSit = lợi nhuận trên cổ phiếu công ty i năm t b.
Mô hình tỷ suất sinh lợi của Easton & Harris (1991) (return value relevance) Mô hình tỷ suất sinh lời mô tả mối quan hệ giữa lợi nhuận trên cổ phiếu và lợi nhuận kế toán. Giá trị thích hợp của thông tin kế toán được đo lường bằng hệ số R2 hiệu chỉnh của mô hình hồi quy. Mô hình được xây dựng bởi Easton & Harris (1991) và được biểu diễn như sau: 𝑬𝑷𝑺𝒊𝒕 ∆𝑬𝑷𝑺𝒊𝒕 Retit = β0 + β1 + β2 + εit 𝑷𝒊,𝒕−𝟏 𝑷𝒊,𝒕−𝟏 Trong đó: Retit = lợi nhuận của cổ phiếu công ty i năm t (stock return) EPSit = lợi nhuận trên cổ phiếu công ty i năm t EPSit = chênh lệch lợi nhuận trên cổ phiếu công ty i năm t so với năm t-1 Pi,t-1 = giá cổ phiếu công ty i năm t-1 123doc 20 Có thể nhận thấy rằng, cả hai mô hình được các tác giả xây dựng để đo lường giá trị thích hợp của thông tin đều sử dụng hệ số hiệu chỉnh R2 của mô hình hồi quy làm cách thức đo lường.