CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TRỌNG YẾU TRONG QUY TRÌNH KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH 1. Lịch sử hình thành khái niệm trọng yếu trong kế toán và kiểm toán 1. Sự ra đời của khái niệm trọng yếu” Những năm đầu của thế kỷ 20, sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thế giới kéo theo sự ra đời của hàng triệu nhà đầu tư chứng khoán. Thời gian này, kiểm toán độc lập chuyển mục đích từ phục vụ cho chủ sở hữu tìm ra sai phạm của nhà quản lý sang phục vụ cho bên thứ ba để đưa ra các quyết định đầu tư, bằng cách đưa ra ý kiến kiểm toán về mức độ trung thực và hợp lý của báo cáo tài chính.
Tuy nhiên, mỗi cuộc kiểm toán đều có những hạn chế tiềm tàng như sự thông đồng của nhà quản lý trong doanh nghiệp khách hàng, các ước tính kế toán trong thông tin tài chính cũng như mối quan hệ giữa lợi ích và chi phí kiểm toán, trách nhiệm của kiểm toán viên chỉ có thể đưa ra sự đảm bảo hợp lý rằng báo cáo tài chính không còn sai sót trọng yếu, xét trên các khía cạnh trọng yếu. Lúc này “tính trọng yếu” đã được nhận thức đến, nhưng chưa có một văn bản đưa ra khái niệm rõ ràng. Năm 1867, lần đầu tiên thuật ngữ “Trọng yếu” được sử dụng là do một chánh án của tòa án ở Anh đã đề cập đến như sau: “… trong bản cáo bạch tài chính của công ty không được có sự sai lệch hoặc sự che giấu nào của bất kỳ yếu tố mang tính trọng yếu có thể được cho phép…” Sau khi “Luật chứng khoán liên bang Hoa Kỳ” và “Uỷ ban chứng khoán Hoa Kỳ” thành lập năm 1933, một năm sau đó “Luật giao dịch chứng khoán” được ra đời và yêu cầu các công ty niêm yết cần phải được kiểm toán báo cáo tài chính nhằm xác định tính trung thực, hợp lý của báo cáo tài chính đó. Khái niệm “tính trọng yếu” cũng chính thức bắt đầu hình thành từ yêu cầu đó và được áp dụng phổ biến trong giai đoạn này.
Thuật ngữ “tính trọng yếu” xuất hiện trong cuốn “Montgomery’s Auditting” năm 1949 như sau: “Khi thực hiện cuộc kiểm toán, kiểm toán viên phải luôn ghi nhớ các yếu tố của tính trọng yếu và r ủi ro liên quan. Việc thực hiện tính thận trọng bao hàm việc tập trung hơn vào các vấn đề quan trọng hơn trên báo cáo tài chính” và “Nếu ảnh hưởng của công việc của khách hàng là không trọng yếu tới số liệu thể hiện trên báo cáo tài chính thì thường không cần thiết để đưa ra ý kiến ngoại trừ trên báo cáo kiểm toán”. Các giai đoạn phát triển Năm 1957, vấn đề trọng yếu được Hiệp hội kế toán Mỹ đưa ra quan điểm như sau: “Khoản mục được xem xét là trọng yếu nếu có lý do tin r ằng sự hiểu biết về khoản mục ảnh hưởng đến quyết định của nhà đầu tư sử dụng thông tin”. Gần 10 năm sau đó, năm 1965 Học viện Canada đã định nghĩa: “Sai lệch kế toán là trọng yếu nếu sự bóp méo có thể ảnh hưởng đến quyết định của người đọc báo cáo tài chính”.
Học viện Anh cũng đưa ra giải thích vào năm 1968: “Một vấn đề là trọng yếu nếu có sự không trình bày hoặc trình bày sai lệch hoặc bỏ sót các vấn đề này có thể bóp méo thông tin của người đọc”. Khái niệm “tính trọng yếu” phát triển trong kế toán đã dẫn theo sự phát triển của “tính trọng yếu” trong kiểm toán. Nguyễn Đình Hoàng U SVTH: Nguyễn Thị B T” Bước qua thời kỳ nền kinh tế thế giới phát triển mạnh mẽ ở thế kỷ 20, đầu thế kỷ 21, kinh tế thế giới rơi vào khủng hoảng khi hàng loại các công ty hàng đầu đổ vỡ như Enron, WorldCom, Tyco International, Peregrine Systems …, mà các công ty kiểm toán cũng không tránh khỏ i trách nhiệm. Từ sau sự sụp đổ của Enron và sai phạm nghiêm trọng của công ty kiểm toán Arthur Anderson – từng là anh cả trong “top” 5 công ty kiểm toán lớn nhất thế giới khi bỏ qua sai lệch $51 triệu (trên tổng lợi nhuận là 105 triệu USD) vì cho là không trọng yếu, các nhà ban hành chuẩn mực đã phải ngồi lại và hiệu đính lại chuẩn mực, và quan trọng là chuẩn mực liên quan tính trọng yếu theo hướng đưa ra nhiều hơn các hướng dẫn để vận dụng tính trọng yếu trong quy trình kiểm toán báo cáo tài chính.
Ngày nay, các kiểm toán viên được yêu cầu phải tìm hiểu về đơn vị được kiểm toán cũng như môi trường của đơn vị, trong đó có hệ thống kiểm soát nội bộ để tăng chất lượng cuộc kiểm toán. Yêu cầu này đã được cập nhật và đưa vào “Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 315” 1. Khái niệm trọng yếu 1. Khái niệm trọng yếu trong kế toán Năm 1980, “Uỷ ban Chuẩn mực Kế toán tài chính Hoa Kỳ (FASB)” ra tuyên bố về các đặc điểm định tính của thông tin kế toán – “Tuyên bố số 2”, đã đề cập về tính trọng yếu như sau: “Các khoản quá nhỏ để được cho là tr ọng yếu nếu chúng là kết quả của các nghiệp vụ thông thường có thể được coi là trọng yếu nếu chúng hình thành từ các tình huống không bình thường” (đoạn 123) và khái niệm trọng yếu được trình bày trong đoạn 132: “Sự bỏ sót hay trình bày sai một vấn đề trên báo cáo tài chính là trọng yếu nếu, khi có cân nhắc t ới các tình huống phụ cận, tầm quan trọng của vấn đề có thể làm cho xét đoán có hợp lý của người sử dụng báo cáo có thể bị thay đổi hoặc bị ảnh hưởng bởi sự bỏ sót hoặc sai phạm đó”.
Năm 1989, Uỷ ban Chuẩn mực Kế toán Quốc tế (IASB) ban hành khung khái niệm về chuẩn bị và trình bày báo cáo tài chính, sau đó khung khái niệm này được cập nhật vào tháng 3/2010 và sửa đổi vào tháng 3/2018, trong đó có xác định: “Thông tin được coi là trọng yếu nếu việc bỏ sót thông tin hoặc sai phạm có thể ảnh hưởng đến quyết định kinh tế của người sử dụng báo cáo tài chính. Tính tr ọng yếu phụ thuộc vào quy mô của vấn đề hoặc bản chất của sai phạm được xét đoán trong từng tình huống riêng biệt của sự bỏ sót hoặc sai phạm đó”. Bên cạnh chuẩn mực kế toán quốc tế, chuẩn mực kế toán Việt Nam số 01 (VAS 01) cũng đề cập đến “tính trọng yếu” trong bảy nguyên tắc kế toán căn bản như sau: “Thông tin được coi là trọng yếu trong trường hợp nếu thiếu thông tin hoặc thiếu chính xác của thông tin đó có thể làm sai lệch đáng kể báo cáo tài chính, làm ảnh hưởng đến quyết định kinh tế của người sử dụng báo cáo tài chính. Tính tr ọng yếu phụ thuộc vào độ lớn và tính chất của thông tin hoặc các sai sót được đánh giá trong hoàn cảnh cụ thể.
Tính trọng yếu của thông tin phải được xem xét trên cả phương diện định lượng và định tính.” Như vậy, khi đưa ra nhận định về tính trọng yếu, chuẩn mực kế toán Việt Nam tiếp cận khá gần với chuẩn mực kế toán quốc t ế, đó là đều đứng về phía của người sử dụng báo cáo tài chính, xem xét những ảnh hưởng trọng yếu có thể có tác động đến quyết định kinh tế của 2 “GVHD: ThS. Nguyễn Đình Hoàng U SVTH: Nguyễn Thị B T” bản thân, và “tính trọng yếu” được xem xét trên cả phương diện định tính và định lượng của thông tin. Khi thực hành kế toán, tính trọng yếu thể hiện rõ nhất khi trình bày thông tin trên báo cáo tài chính, chuẩn mực kế toán Việt Nam số 21 có đề cập như sau: “Từng khoản mục trọng yếu phải được trình bày riêng biệt trong báo cáo tài chính. Các khoản mục không trọng yếu thì không phải trình bày riêng rẽ mà được tập hợp vào những khoản mục có cùng tính chất hoặc chức năng.” Ví dụ cụ thể về thông tin không trọng yếu được trình bày tập hợp là khoản mục tiền trên bảng cân đối kế toán, trong khoản mục tiền sẽ có tiền mặt, tiền gửi ngân hàng cũng như tiền đang chuyển, tuy nhiên do không trọng yếu và có cùng tính chất, chức năng nên có thể tập hợp lại trình bày thành một khoản mục trên bảng cân đối là “Tiền” – mã số 111.
Đối với “chi phí lãi vay” trong khoản mục “chi phí tài chính” trên bảng Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, được xem là thông tin trọng yếu đối với việc ra quyết định của người sử dụng báo cáo tài chính nên được trình bày thành một mục riêng trên báo cáo. Mặt khác, đối với người sử dụng báo cáo tài chính khi xem xét, đánh giá báo cáo tài chính, nên quan tâm đến bản chất, nội dung của sự việc, chú trọng đến những vấn đề trọng yếu, những vấn đề ảnh hưởng không đáng kể đến báo cáo tài chính thì không cần thiết phải quan tâm. Khái niệm trọng yếu trong kiểm toán báo cáo tài chính Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 200 (VSA 200) đề cập đến mục tiêu tổng thể của một cuộc kiểm toán báo cáo tài chính như sau: “Đạt được sự đảm bảo hợp lý rằng liệu báo cáo tài chính, xét trên phương diện tổng thể, có còn sai sót trọng yếu do gian lận hoặc nhầm lẫn hay không, từ đó giúp kiểm toán viên đưa ra ý kiến về việc liệu báo cáo tài chính có được lập phù hợp với khuôn khổ về lập và trình bày báo cáo tài chính được áp dụng, trên các khía cạnh trọng yếu hay không…”. Như vậy, kiểm toán viên không có trách nhiệm phải phát hiện mọi sai sót cũng như đảm bảo tuyệt đối rằng báo cáo tài chính là chính xác, không chứa đựng sai sót mà chỉ có trách nhiệm đưa ra ý kiến về sự đảm bảo hợp lý liệu báo cáo tài chính còn chứa sai sót trọng yếu không.
Vì vậy, trên báo cáo tài chính sau khi kiểm toán có thể tồn tại sai sót, nhưng sai sót đó có thể chấp nhận được, không ảnh hưởng đến quyết định kinh tế của người sử dụng báo cáo tài chính.