Chương 1: Giới thiệu - Chương 2: Tổng quan nghiên cứu - Chương 3: Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu - Chương 4: Kết quả nghiên cứu - Chương 5: Kết luận 7 CHƯƠNG 2. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. Một số lý thuyết về giá trị của cổ phiếu: - Giá trị thị trường của cổ phiếu: Giá trị thị trường của cổ phiếu là giá cả cổ phiếu tại một thời điểm nhất định được giao dịch trên thị trường chứng khoán. Tùy theo mối quan hệ cung cầu, giá thị trường có thể cao hơn, thấp hơn hoặc bằng với giá trị thực của nó tại thời điểm giao dịch.
Mối quan hệ cung cầu của cổ phiếu lại chịu tác động của nhiều nhân tố kinh tế, chính trị, xã hội, trong đó quan trọng là giá thị trường của công ty và khả năng sinh lợi của nó. Ngoài ra, sự kỳ vọng của các nhà đầu tư về hiệu quả của hoạt động kinh doanh, khả năng sinh lợi của một công ty trong tương lai sẽ được phản ánh qua giá trị thị trường của cổ phiếu. Giá thị trường của cổ phiếu được xác định và đo lường bởi giá cổ phiếu có được từ kết quả khớp lệnh giao dịch. Giá trị thị trường của cổ phiếu chịu tác động của nhiều yếu tố cả bên trong lẫn bên ngoài của doanh nghiệp - Lý thuyết bước đi ngẫu nhiên của giá chứng khoán: Kết quả công trình nghiên cứu "The Analytics of Economic Time Series, Part 1: Prices" của nhà kinh tế học Maurice Kendall (1953) về giá cổ phiếu trên thị trường khẳng định rằng giá cổ phiếu thay đổi một cách ngẫu nhiên và không thể dự đoán trước được.
Theo Kedall, nếu giá chứng khoán có thể tiên đoán trước được và sử dụng cách thức của ông để dự đoán giá cổ phiếu trong thời gian tới, khi đó, các nhà đầu tư sẽ ngay lập tức tìm cách để đạt được lợi nhuận theo hướng mua vào cổ phiếu khi họ có thể dự đoán giá cổ phiếu đó có xu hướng tăng và ngược lại bán ra cổ phiếu khi dự đoán được nó có xu hướng giảm. Lý thuyết bước đi ngẫu nhiên (Random Walk Theory) của giá cổ phiếu dựa trên lý thuyết thị trường hiệu quả. Lý thuyết lần đầu tiên được công bố bởi Burton Malkiel (1973) trong cuốn “Random Walk Down Wall Street”. Lý thuyết tuyên bố rằng giá cổ phiếu không thể được dự đoán một cách đáng tin cậy.
Trong thuyết thị trường hiệu quả, giá phản ánh tất cả các thông tin liên quan đến một tài sản tài chính; trong khi trong lý thuyết bước đi ngẫu nhiên, giá thực sự có một "bước đi ngẫu nhiên" và thậm chí có thể bị ảnh hưởng bởi các yếu tố không liên quan. 8 Như vậy, theo lý thuyết này khi thị trường chứng khoán là thị trường hiệu quả thì giá cổ phiếu sẽ chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố như nhân tố vĩ mô và nhân tố vi mô… Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu thực nghiệm đã chỉ ra rằng ở nhiều quốc gia thị trường chứng khoán là không hiệu quả, do đó, giá chứng khoán chưa thực sự phản ánh đúng thực tế của thị trường do ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác đến giá chứng khoán 2. Ngân hàng thương mại: - Khái niệm: Tại Mỹ, NHTM là công ty kinh doanh tiền tệ chuyên cung cấp dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính. Ở Pháp, NHTM là những xí nghiệp hay cơ sở mà nghề nghiệp thường xuyên là nhận tiền bạc của công chúng dưới hình thức ký thác, hoặc dưới các hình thức khác và sử dụng tài nguyên đó cho chính họ trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính".
Ở thị trường Việt Nam, NHTM là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền ký gửi từ khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán. - Vai trò: Vai trò chung của ngân hàng thương mại là cung cấp các dịch vụ tài chính cho công chúng và doanh nghiệp, đảm bảo sự ổn định kinh tế, xã hội và tăng trưởng bền vững của nền kinh tế. Ở hầu hết các quốc gia, các ngân hàng thương mại được quản lý chặt chẽ và điều này thường được thực hiện bởi ngân hàng trung ương của một quốc gia. Họ sẽ áp đặt một số quy định đối với các ngân hàng thương mại như giữ dự trữ ngân hàng và duy trì các yêu cầu về vốn tối thiểu.
Các ngân hàng thương mại chấp nhận nhiều loại tiền gửi khác nhau của công chúng, đặc biệt là từ khách hàng của mình, bao gồm tiền gửi tiết kiệm tài khoản, tiền gửi tài khoản định kỳ và tiền gửi cố định. Các khoản tiền gửi này được trả lại bất cứ khi nào khách hàng yêu cầu hoặc sau một khoảng thời gian nhất định. Các ngân hàng thương mại cung cấp các khoản cho vay và ứng trước dưới nhiều hình thức khác 9 nhau, bao gồm cơ sở thấu chi, tín dụng tiền mặt, chiết khấu hóa đơn, chuyển tiền theo cuộc gọi, v. Họ cũng cho vay không kỳ hạn và có kỳ hạn cho tất cả các loại khách hàng đi cùng với sự bảo đảm.
Chức năng tạo tín dụng ra đời trên cơ sở tín dụng và trung gian thanh toán. Các ngân hàng thương mại sử dụng tiền gửi mà họ thu được để cho vay. Trên cơ sở luân chuyển séc và thanh toán chuyển khoản, các khoản vay được chuyển thành tiền gửi phái sinh. Ở một mức độ nhất định, nguồn vốn phái sinh tăng lên gấp mấy lần tiền gửi ban đầu, điều này giúp cải thiện đáng kể động lực phát triển kinh tế của các ngân hàng thương mại.
Sự hình thành, tồn tại và phát triển của ngân hàng luôn gắn liền với sự phát triển của nền kinh tế thị trường và đời sống xã hội của người lao động. Nền kinh tế ngày càng phát triển làm đời sống người lao động được cải thiện nâng cao kéo theo các sự phát triển của các dịch vụ tài chính, ngân hàng có tác động đến vị thế là những định chế tài chính quan trọng trong nền kinh tế đất nước của các ngân hàng thương mại. - Phân loại các ngân hàng thương mại: NHTM cổ phần Ngân hàng NHTM NHTM 100% vốn nhà nước thương mại nước ngoài NH liên doanh Biểu đồ 2. Phân loại các Ngân hàng thương mại Nguồn: Tác giả tổng hợp 10 2.
Các nhân tố ảnh hưởng đến giá cổ phiếu: 2. Các nhân tố vĩ mô: - Lãi suất Ngân hàng nhà nước có thể tăng hoặc giảm lãi suất để ổn định hoặc kích thích nền kinh tế. Đây được gọi là chính sách tiền tệ. Nếu một công ty vay tiền để mở rộng và cải thiện hoạt động kinh doanh của mình, lãi suất cao hơn sẽ ảnh hưởng đến chi phí nợ của nó.
Trong thời điểm lãi suất cao hơn, các khoản đầu tư trả lãi có xu hướng hấp dẫn các nhà đầu tư hơn so với cổ phiếu. - Triển vọng kinh tế Nếu có vẻ như nền kinh tế đang phát triển, giá cổ phiếu có thể tăng. Các nhà đầu tư có thể mua nhiều cổ phiếu hơn khi nghĩ rằng họ sẽ thấy lợi nhuận trong tương lai và giá cổ phiếu cao hơn. Nếu triển vọng kinh tế không chắc chắn, các nhà đầu tư có thể giảm mua hoặc bắt đầu bán.
- Lạm phát Lạm phát nghĩa là giá tiêu dùng cao hơn. Điều này thường làm chậm doanh số bán hàng và giảm lợi nhuận. Giá cao hơn cũng thường dẫn đến lãi suất cao hơn. Những thay đổi này sẽ có xu hướng làm giảm giá cổ phiếu.
Tuy nhiên, hàng hóa có thể hoạt động tốt hơn với lạm phát, do đó giá của chúng có thể tăng lên. - Những cú sốc về kinh tế và chính trị Những thay đổi trên thế giới có thể ảnh hưởng đến cả nền kinh tế và giá cổ phiếu. Ví dụ, chi phí năng lượng tăng có thể dẫn đến giảm doanh thu, giảm lợi nhuận và giảm giá cổ phiếu. Một hành động khủng bố cũng có thể dẫn đến suy thoái hoạt động kinh tế và giảm giá cổ phiếu.
- Giá trị của đồng nội tệ Nhiều công ty trong nước bán sản phẩm cho người mua ở các nước khác. Khi đồng nội tệ tăng giá, khách hàng của họ sẽ phải chi nhiều hơn để mua hàng hóa. Điều này có thể làm giảm doanh số bán hàng, do đó có thể dẫn đến giá cổ phiếu thấp hơn. Khi giá của đồng đô la nội tệ, nó làm cho người khác mua sản phẩm của chúng tôi rẻ hơn.
Điều này có thể làm cho giá cổ phiếu tăng lên 11 2. Các nhân tố vi mô: - Quy mô doanh nghiệp: Quy mô là một thước đo tài chính quan trọng được sử dụng để thể hiện quy mô của ngân hàng, theo nhiều cách, quy mô của doanh nghiệp có thể được đo lường, ví dụ: thông qua doanh thu, vốn đã trả, vốn sử dụng, tổng tài sản, doanh thu thuần, vốn hóa thị trường … Các doanh nghiệp lớn có nguồn vốn rất lớn và tiềm lực kinh tế mạnh nên có sức cạnh tranh mạnh hơn, nhận lực và thương hiệu tốt hơn so với các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Các công ty và doanh nghiệp lớn luôn tạo nên sự phát triển kinh tế đồng đều và lâu dài giúp hoạt động kinh tế luôn được ổn định và giảm bớt các biến động. Có nhiều nghiên cứu đã tìm hiểu về mối quan hệ giữa thị giá cổ phiếu và quy mô của doanh nghiệp.
Qua các nghiên cứu, tác giả đã nhận ra mối tương quan thuận chiều giữa thị giá và quy mô. Simerly & Li (2000) cho rằng các nghiên cứu về tài chính trước đây đã chỉ ra rằng quy mô công ty có thể dự đoán giá cổ phiếu trong tương lai. Nghiên cứu được thực hiện bởi Ramzan (2011) cho thấy quy mô doanh nghiệp có mối quan hệ tỷ lệ thuận với giá thị trường của cổ phiếu. - Cấu trúc vốn: Cấu trúc vốn là sự kết hợp cụ thể giữa nợ và vốn chủ sở hữu được một công ty sử dụng để tài trợ cho hoạt động và tăng trưởng chung của nó.
Khi các nhà đầu tư đề cập đến cấu trúc vốn, họ rất có thể đang đề cập đến tỷ lệ nợ trên tài sản (D/A) của một công ty, cung cấp cái nhìn sâu sắc về mức độ rủi ro của hoạt động vay nợ của một công ty. Thông thường, một công ty được tài trợ nhiều bằng nợ có cấu trúc vốn tích cực hơn và do đó gây ra rủi ro lớn hơn cho các nhà đầu tư. Tuy nhiên, rủi ro này có thể là nguồn gốc chính cho sự tăng trưởng của công ty.