CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1.1 Lý do chọn đề tài Trong bối cảnh nền kinh tế thế giới đối mặt với nhiều rủi ro đến từ việc quản lý chi tiêu công yếu kém dẫn đến cuộc khủng hoảng nợ công ở các nước Châu Âu, thị trường tài chính phát triển quá nóng với các sự bùng nổ công cụ cho vay dưới chuẩn bắt nguồn sâu xa từ sự bất cân đối về nguồn vốn tín dụng toàn cầu tại Mỹ, hay sự leo thang trong cuộc chiến tranh thương mại giữa hai nền kinh tế hàng đầu thế giới Hoa Kỳ và Trung Hoa có thể dẫn đến suy thoái kinh tế toàn cầu, Chính phủ ở các quốc gia và các Ngân hàng trung ương có một số công cụ chính sách quan trọng được sử dụng trong điều hành kinh tế vĩ mô gồm có chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ. Nếu các chính sách này được áp dụng thích hợp thì cả hai đều có thể tạo nên tác động tương tự nhau nhằm kích thích kinh tế phát triển và góp phần kìm hãm khi nền kinh tế đang trong chu kỳ tăng trưởng nóng. Sử dụng chính sách tài khóa chính là việc các chính phủ áp dụng các công cụ như chi tiêu công và số thu từ thuế với mục tiêu tác động lên nền kinh tế. Ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp từ việc sử dụng chính sách tài khóa có thể tác động đến chi tiêu của các hộ gia đình, đầu tư tư nhân của các doanh nghiệp, tỷ giá, các mức thâm hụt ngân sách nhà nước và có khi là cả các mức lãi suất.
Chính sách tài khóa gắn liền với trường phái Keynes, tên một nhà kinh tế học ở nước Anh là John Maynard Keynes. Nhiều nghiên cứu của ông như “Lý thuyết tổng quát về việc làm, lãi suất và tiền tệ” đã tác động đến các tư tưởng mới nhằm lý giải về cách thức mà nền kinh tế đang vận hành và vẫn đang tiếp tục được nghiên cứu mãi cho đến hiện nay. Phần lớn lý thuyết này của ông được ra đời trong thời kỳ Đại khủng hoảng. Nhưng cho đến nay lý thuyết của Keynes đã được vận dụng đúng cũng như bị sử dụng sai nhiều lần, bởi vì nó khá là phổ biến và chỉ nên được áp dụng trong những trường hợp đặc thù để giảm tác động bởi suy thoái kinh tế.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 2 Nói một cách đơn giản hóa, các học thuyết kinh tế theo trường phái của Keynes đều dựa trên lý luận rằng sự chủ động can thiệp của chính phủ là cách tốt nhất lèo lái kinh tế. Điều này cho thấy rằng các chính phủ nên tận dụng các công cụ để gia tăng tổng cầu trong nền kinh tế bằng cách gia tăng chi tiêu công và tạo nên môi trường để tiền tệ lưu thông dễ dàng, nhằm kích thích kinh tế, tạo ra nhiều công ăn và việc làm đến cuối cùng làm gia tăng của cải xã hội. Các trường phái dựa trên lý thuyết Keynes cũng cho rằng bản thân chính sách tiền tệ cũng có những hạn chế và khiếm khuyết khi trong quá trình giải quyết tình trạng khủng hoảng trên thị trường tài chính, do đó đã tạo nên những tranh luận gay gắt trong cộng đồng các nhà kinh tế học theo trường phái Keynes và các nhà kinh tế ủng hộ cho chính sách tiền tệ. Chính sách tài khóa cái mà đã được sử dụng thành công trong suốt trong và sau thời kỳ Đại khủng hoảng nhưng các học thuyết Keynes đã tiếp tục bị hoài nghi ở sau những năm 80 sau một khoảng thời gian dài được ưa thích.
Cũng như chính sách tiền tệ, chính sách tài khóa được dùng để điều chỉnh sự gia tăng hoặc suy giảm GDP, một chỉ số thể hiện sự tăng trưởng của nền kinh tế. Một khi các chính phủ sử dụng quyền hạn như điều chỉnh giảm thuế hay lựa chọn gia tăng chi tiêu công có nghĩa là chính phủ đang tiến hành mới lỏng chính sách tài khóa. Nếu chỉ nhìn từ bên ngoài, bắt đầu từ những nỗ lực nới lỏng của các chính phủ có thể chỉ đem lại tác động tích cực thông qua việc kích thích kinh tế nhưng những hiệu ứng domino tiêu cực kèm theo lại có thể lớn hơn rất nhiều. Một khi tốc độ gia tăng chi tiêu công của chính phủ lớn hơn tốc độ gia tăng nguồn thu từ thuế, nợ công sẽ bị tích lũy nhiều dẫn đên gia tăng nợ công của quốc gia.
Ngoài ra khi các chính phủ tăng cường áp dụng biện pháp vay nợ bằng cách phát hành trái phiếu để thực hiện chính sách nới lỏng tài khóa, việc phát hành trái phiếu chính phủ sẽ phải cạnh tranh với khu vực tư nhân. Hiệu ứng này được gọi tên là hiệu ứng “chèn lấn” (crowding out) có thể đưa đến tác động xấu làm gia tăng các mức lãi suất gián tiếp trên thị trường vì chính phủ phải gia tăng cạnh tranh để có được nguồn tài chính. Trong trường hợp khả thi các biện pháp kích thích kinh tế như gia tăng chi tiêu công mới đầu có thể tạo nên một số tác động tích cực ngắn hạn, một phần không nhỏ của yếu tố tăng trưởng này có thể sẽ mất đi do chi phí vay nợ gia tăng lên với các trái chủ trong đó gồm TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 3 có cả chính phủ. Hơn nữa, các biện pháp khích thích tài khóa cũng đồng thời chịu tác động do tồn tại độ trễ hoặc do cần phải được thông qua ở nhiều khâu phê duyệt ở nhiều cấp khác nhau.
Hiện nay, nợ công đã vượt quá mức giới hạn an toàn ở một số nền kinh tế phát triển cao, và đang phát triển, nó đang trở thành một chủ đề nóng hổi được quan tâm hiện nay bởi vì nó có thể là yếu tố gây ra nguy cơ đe dọa đến sự hồi phục yếu ớt của nền kinh tế toàn cầu, làm cho các nhà lập chính sách phải lo ngại đến một kịch bản kinh tế lại tiếp tục rơi vòng xoáy suy thoái kéo dài. Nợ công đồng thời có nhiều ảnh hưởng tích cực nhưng cũng còn không ít ảnh hưởng tiêu cực. Để nhận ra những ảnh hưởng tích cực cũng như tiêu cực để tăng cường phát huy các mặt tích cực, đồng thời hạn chế những mặt tiêu cực là điều quan trọng trong việc xây dựng và thực thi các chính sách vĩ mô. Một trong số các tác động tích cực mà nợ công đem lại gồm có: Nợ công có thể làm gia tăng nguồn lực cho chính phủ, để từ đó góp phần tăng cường vốn để đầu tư xây dựng và phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng đặc biệt ở các nước đang phát triển.
Mặt khác, huy động trái phiếu chính phủ để sử dụng được các nguồn tiền nhàn rỗi trong khu vực xã hội. Thông qua vay nợ mà các khoản tiền tiết kiệm nhàn rỗi này được đưa vào sử dụng, có thể mang lại hiệu quả cho cả khu vực công và khu vực tư nhân. Khi tình trạng nợ công gia tăng cao, vượt qua những giới hạn an toàn, thì nền kinh tế trở nên dễ bị tổn thương và phải gánh chịu các sức ép từ bên trong và cả bên ngoài. Hiện này, nợ công không chỉ là vấn đề mà các nước chậm và đang phát triển phải đối mặt.
Khi so sánh các khoản nợ công so với GDP, gánh nặng nợ công lớn nhất là ở các nước phát triển, đặc biệt khu vực đồng tiền chung Châu Âu đang phải đứng trước những thách thức to lớn khi Hy Lạp phải sử dụng đến gói cứu trợ của EU và IMF nhằm tránh rơi vào tình trạng vỡ nợ. Bên cạnh đó, một khi tỷ lệ nợ công quá cao, sẽ dẫn đến tình trạng thắt chặt chi tiêu công, buộc các chính phủ phải thực hiện các chính sách nhằm "thắt lưng buộc bụng" với mục tiêu giảm thâm hụt là điều kiện bắt buộc để nhận được hỗ trợ tín dụng từ những tổ chức quốc tế, tuy nhiên, "thắt lưng buộc bụng" lại có thể dẫn tới hàng loạt các cuộc biểu tình nhằm phản đối của các cử tri, tạo nên tình trạng căng thẳng kéo dài, kèm theo những TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 4 bất ổn trong hệ thống chính trị và xã hội, vì các người nghèo và người yếu thế là những các đối tượng bị ảnh hưởng nặng nề nhất bởi chính sách cắt giảm phúc lợi xã hội, giảm chi tiêu công của chính phủ. Hiện nay, nền kinh tế toàn cầu vừa mới thoát khỏi tình trạng khủng hoảng, mới bắt đầu có một số dấu hiệu hồi phục là kết quả của việc sử dụng các gói kích thích kinh tế mà các chính phủ đã tung ra trong thời gian trước đây, nên việc cắt giảm chi tiêu công, và gia tăng thuế sẽ làm suy giảm đầu tư công, lại kìm hãm sự hồi phục kinh tế, dẫn đến tăng trưởng với tốc độ chậm lại, thậm chí còn có thể đưa nền kinh tế vào tình trạng "khủng hoảng kép". Trầm trọng hơn, việc thông qua các gói kích thích kinh tế là nguyên nhân làm gia tăng nợ công nhanh chóng, vì vậy trong trường hợp khủng hoảng lại tiếp tục diễn ra thì các chính phủ liệu có còn đủ khả năng để xoay xở, và cứu vãn nền kinh hay không? Khi nợ công tăng cao liên tục, nền kinh tế sẽ bị hạ bậc tín nhiệm dẫn đến suy giảm niềm tin của các cử tri và các nhà đầu tư phần nào cũng bị lung lay, đây là lúc mà nền kinh tế có nguy cơ trở thành một mục tiêu để tấn công của giới đầu cơ quốc tế.
Khi chính phủ muốn duy trì việc huy động bằng trái phiếu trên thị trường tài chính đồng nghĩa với việc chấp nhận các mức chi phí sử dụng vốn cao hơn và sau đó lại tiếp tục rơi vào vòng xoáy: lại tiếp tục bị hạ bậc tín nhiệm. Đo đó nghiên cứu này nhằm nghiên cứu việc thực thi chính sách tài khóa trên thực tế của chính phủ ở các quốc gia. Các chính phủ có thực hiện chính sách tài khóa phản chu kỳ kinh tế nhằm đưa nền kinh tế trở lại quỹ đạo tăng trưởng hay ngược lại thực hiện chính sách tài khóa thuận chu kỳ kinh tế để bàn tay thị trường tự điều tiết. Trong điều kiện nợ công gia tăng cao ở một số quốc gia do chính phủ gia tăng để tài trợ cho chi tiêu công đầu tư phát triển và chi thường xuyên, việc phát hành trái phiếu chính phủ không còn thuận lợi có ảnh hưởng như thế nào đến việc thực hiện chính sách tài khóa của các quốc gia.