CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở nghiên cứu 1. Giới thiệu về logistics ngược Cụm từ logistics ngược (RL: Reverse Logistics) hình thành vào khoảng thời gian từ 1970 và ngày càng có nhiều định nghĩa về logistics ngược, một trong những định nghĩa nhận được nhiều sự quan tâm xuất phát từ RevLog (1998) và nhóm nghiên cứu Rogers và Tibben-Lembke (1999) đã đưa ra. Tiếp theo đó, thêm một định nghĩa logistics ngược cũng được đưa ra đó là: “logistics ngược là quá trình lập kế hoạch, thực thi và kiểm soát một cách có hiệu quả và mang lại lợi nhuận các dòng nguyên vật liệu, sản phẩm dở dang, thành phẩm và thông tin liên quan từ điểm tiêu thụ tới điểm xuất xứ nhằm mục đích thu lại giá trị hoặc xử lý một cách hợp lý” (Rogers và Tibben-Lembke, 1999) (định nghĩa thứ hai).
Hai định nghĩa này cho thấy được hàm ý tương đồng trong việc hoạch định, triển khai, và kiểm soát những dòng ngược. Tuy vậy, vẫn có những khác biệt đáng chú ý giữa hai định nghĩa đó là: (i) khác với định nghĩa thứ hai, định nghĩa thứ nhất chưa xem xét đến điểm xuất xứ mà chỉ thể hiện điểm phục hồi phù hợp; (ii) định nghĩa thứ nhất cũng thể hiện rõ dòng ngược trả lại là dòng của của nguyên vật liệu thô, bán thành phẩm, bao bì đóng gói và các sản phẩm hoàn chỉnh từ sản xuất, kênh phân phối hoặc sử dụng mà không phải là dòng xuất phát từ “điểm tiêu thụ” đã được đề cập trong định nghĩa thứ hai; (iii) về mặt lợi ích của logistics ngược, tác giả nhận thấy thuật ngữ “mang lại lợi nhuận” đã thể hiện trong định nghĩa thứ hai nhưng lại không xuất hiện trong định nghĩa thứ nhất. Hơn nữa, cả hai định nghĩa đều không trực tiếp đề cập đến một khía cạnh lợi ích mà tác giả nhận thấy rất quan trọng đó là lợi ích liên quan đến vấn đề môi trường. Xem xét quan điểm này trong sự kết hợp với hai định nghĩa trên, tác giả phát triển khái niệm 2 logistics ngược để sử dụng như là nền tảng cơ sở cho việc thực hiện luận án, cụ thể như sau: “Logistics ngược là quá trình lập kế hoạch, thực thi và kiểm soát các dòng ngược của vật chất dưới các dạng nguyên liệu thô, sản phẩm dở dang, bao bì đóng gói, thành phẩm, và những thông tin liên quan từ sản xuất, phân phối hoặc tiêu thụ đến điểm xử lý hoặc điểm phục hồi thích hợp nhằm mang lại lợi ích về kinh tế và/hoặc lợi ích về môi trường” (RevLog, 1998; Rogers và Tibben-Lembke, 1999).
Một trong số các hoạt động của logistics ngược là thu gom và xử lý các sản phẩm trả lại, do đó đòi hỏi sự đầu tư vào các hệ thống logistics ngược và duy trì các hoạt động logistics ngược đang diễn ra. Stock và cộng sự (2006) cho rằng các chi phí đầu tư có thể gấp hai đến ba lần so với lô hàng xuất bán ra thị trường nước ngoài. Do đó, những năm trước đây logistics ngược chưa được nhận thức rõ ở nhiều doanh nghiệp (Daugherty và cộng sự, 2003; Stock và Mulki, 2009), một số tổ chức lại xem logistics ngược là một rủi ro tất yếu chứ không phải là cơ hội thực sự cho doanh nghiệp (Genchev và cộng sự, 2011). Tuy nhiên, các nghiên cứu cho thấy rằng việc thực hiện các hệ thống logistics ngược hiệu quả có thể cải thiện khả năng cạnh tranh bằng cách giảm chi phí (Jack và cộng sự, 2010; Srivastava và Srivastava, 2006), cải thiện lợi nhuận (Alfonso-Lizarazo và cộng sự, 2013; Das và Dutta, 2013; Nidumolu và cộng sự, 2009); gia tăng sự hài lòng của khách hàng (Li và Olorunniwo, 2008; Richey và cộng sự, 2005a); và giảm tác động môi trường (Lai và cộng sự, 2013; Sundarakani và cộng sự, 2010).
Tibben-Lembke (1998) cho rằng logistics ngược có thể kết tinh một loạt các lợi thế nhận thức trong phạm vi môi trường, kinh tế, xã hội và cạnh tranh. Những yếu tố này thúc đẩy sự chấp nhận hoạt động logistics ngược bởi các tổ chức chuỗi cung ứng, đặc biệt là trong ngành bán lẻ vì đó là nơi giữ vai trò quan trọng trong việc tuyên truyền các giá trị, trách nhiệm môi trường và nguyên tắc trong xã hội (Dias và Braga, 2016). Trách nhiệm của ngành bán lẻ được đưa ra bởi tính đại diện của họ trong trong chuỗi cung ứng, vì các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực bán lẻ thường trực tiếp tiếp cận với khách hàng tiêu dùng, và do đó họ nhận được nhiều thông tin về mong muốn và nhu cầu của các khách hàng. Bernon và cộng sự (2011) đã nhận định rằng, mặc dù có khá nhiều nghiên cứu đã có sự đóng góp cho 3 việc phát triển các lý thuyết logistics ngược trong lĩnh vực bán lẻ, tuy nhiên điều này vẫn còn tiếp tục phát triển và chưa thực sự lớn mạnh.
Đối mặt với một thị trường có mức độ cạnh tranh cao, các doanh nghiệp tìm cách thiết lập các mối quan hệ tích hợp hiệu quả để đạt được các mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận thông qua một chuỗi cung ứng cạnh tranh hơn. Sự thành công của chuỗi cung ứng là thông qua việc chia sẻ tài nguyên, công nghệ và thông tin để đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng (Zimmermann và cộng sự, 2016). Các hoạt động logistics kinh doanh gồm logistics xuôi và logistics ngược đều có vai trò quan trọng trong chuỗi cung ứng. Trong đó logistics xuôi bao hàm việc lập kế hoạch, triển khai và kiểm soát lưu lượng hàng hóa, dịch vụ và thông tin từ điểm xuất xứ đến điểm tiêu thụ (Beh và cộng sự, 2016).
Logistics ngược gồm lập kế hoạch các dòng ngược của sản phẩm và bao bì đóng gói, bắt đầu từ điểm tiêu thụ được đưa trở lại vào chuỗi sản xuất, như là sản phẩm dở dang hoặc nguyên liệu cho các chuỗi sản xuất khác (Dias và Braga, 2016). Theo Marchesini và Alcântara (2016), các hoạt động logistics ngược có liên quan trực tiếp đến quản lý thu hồi, bao gồm một trong tám quá trình kinh doanh, các quá trình này được xác định bởi diễn đàn chuỗi cung ứng toàn cầu, bao gồm cả dòng xuôi và dòng ngược, cụ thể là: (i) Quản lý quan hệ khách hàng; (ii) Quản lý dịch vụ khách hàng; (iii) Quản lý nhu cầu; (iv) Thực hiện đơn đặt hàng; (v) Quản lý luồng sản xuất; (vi) Quản lý quan hệ nhà cung ứng; (vii) Phát triển sản phẩm và tiếp thị; và (viii) Quản lý thu hồi. Có thể hiểu rằng logistics ngược chính là một phần của quản lý chuỗi cung ứng, nói cách khác logistics ngược được xem như một quá trình con nằm trong quản lý thu hồi của một chuỗi quá trình cung ứng. Bối cảnh logistics ngược trên thế giới và tại Việt Nam 1.
Bối cảnh logistics ngược trên thế giới Logistics ngược ngày càng nhận được nhiều sự quan tâm trong lý thuyết quản trị chuỗi cung ứng và marketing vì nó cho thấy khả năng của doanh nghiệp trong quá trình phân phối để có sự chi phối tích cực trong những mối quan hệ gắn liền với khách hàng (Horvath và cộng sự, 2005). Mặc dù doanh nghiệp luôn có sự chú trọng trong hoạt động logistics xuôi (từ nhà cung cấp đến khách hàng tiêu dùng) nhưng thực tế cho thấy các dòng ngược ngày càng tăng lên do xuất hiện nhiều nhu cầu trả lại sản 4 phẩm của khách hàng tiêu dùng, điều này dễ dàng nhìn thấy trong lĩnh vực ngành công nghiệp bao gồm cả lĩnh vực kinh doanh sản phẩm hàng điện tử. Theo chỉ thị 2002/96/EC về việc hướng dẫn trong xử lý chất thải đối với các thiết bị điện điện tử (WEEE: Waste Electrical and Electronic Equipment), các hoạt động thu gom, phục hồi và tái chế các sản phẩm điện điện tử được yêu cầu mang tính bắt buộc, tỷ lệ cho phép tối thiểu bình quân mỗi người mỗi năm là 04 ki lô gam (Georgiadis và Besiou, 2010). Tương tự với WEEE, các pháp chế cũng được ban hành tại quốc gia Hoa Kỳ, Canada, Trung Quốc, và Nhật Bản (Neto và cộng sự, 2010), tổng giá trị sản phẩm trả lại từ khách hàng chiếm ở mức khoảng 15% doanh thu đối với các nhà bán hàng đại chúng và đạt mức 35% đối với các nhà bán lẻ sản phẩm điện tử tại nhiều quốc gia đang phát triển (Jayaraman và Luo, 2007; Kang và Johnson, 2009).
So với việc giải quyết logistics xuôi thì logistics ngược gặp nhiều rủi ro và tốn kém hơn do tính phức tạp và không chắc chắn (Ha, 2012). Chi phí logistics ngược của sản phẩm hết hạn sử dụng và quản lý hàng trả lại của khách hàng đã trở thành một hạng mục quan trọng trong cơ cấu chi phí của các doanh nghiệp, chiếm khoảng 5.0% tổng chi phí trong lĩnh vực bán lẻ và ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận với khoảng 1.0% tổng chi phí của các doanh nghiệp bán lẻ (UK Department of Transport, 2004). Vào đầu những năm 1990, logistics ngược trên thực tế không phải là một phần chính trong hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp vì nó không phải là động lực chính của chuỗi cung ứng để tạo ra sự khác biệt và giảm chi phí, gần như hầu hết các doanh nghiệp xem logistics ngược như một trung tâm chi phí thay vì trung tâm lợi nhuận, điều này cho thấy rằng logistics ngược như là một lĩnh vực bị bỏ quên và chưa được quản lý một cách hợp lý mang tính chiến lược. Tuy nhiên, do áp lực pháp lý, các ưu đãi kinh tế và các yêu cầu thay đổi nhanh chóng của môi trường, 60.0% các nhà sản xuất và bán lẻ trong một cuộc khảo sát năm 2008 ở Châu Âu cho biết rằng logistics ngược hiệu quả là rất quan trọng đối với hoạt động tổng thể của doanh nghiệp (Greve và Davis, 2015).
Việc quản lý hiệu quả các dòng ngược có thể tiết kiệm tới 10% tổng chi phí logistics ngược của các doanh nghiệp và cải thiện khả năng logistics ngược có thể tăng kết quả kinh tế lên tới 5. Gắn liền với quá trình phát triển, nhiều nhà sản xuất và doanh nghiệp bán lẻ đã dần nhận ra tác động 5 của các sản phẩm trả lại, đồng thời xem việc quản lý hoạt động logistics ngược như là một chiến lược thu hồi vốn đầu tư và là một cách để giúp doanh nghiệp giảm được chi phí hoạt động. Do đó, logistics ngược đã thu hút sự quan tâm chú ý của nhiều học viên và học giả trên thế giới (Jack và cộng sự, 2010; Rahman và Subramanian, 2012; Silva và cộng sự, 2013). Bán Nguyên vật Sản Người Phân phối liệu thô xuất bán lại Trả lại Thiết bị Đánh giá sản phẩm phục hồi trả lại Logistics xuôi Logistics ngược Xử lý phế thải Hình 1.