LỜI MỞ ĐẦU 1. Lý do lựa chọn đề tài. Bình Dương là một tỉnh thuộc miền Đông Nam Bộ, nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, là một trong những tỉnh có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, phát triển công nghiệp năng động của cả nước. Mặc dù tỷ trọng ngành nông lâm nghiệp chỉ chiếm một phần nhỏ trong GDP của tỉnh, khoảng 4%, nhưng giá trị cây công nghiệp dài ngày lại giữ một vị trí khá quan trọng trong đời sống kinh tế của nhiều người dân trong tỉnh.
Phát triển cây CNDN tại Bình Dương một mặt nhằm tận dụng lợi thế so sánh của tỉnh có khí hậu và thổ nhưỡng thích hợp cho loại cây này, mặt khác còn tạo nhiều công ăn việc làm, mang lại cơ hội để nhiều người dân thoát nghèo vươn lên làm giàu. Sự phát triển cây CNDN, sẽ góp phần tích cực vào sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa lớn, hiện đại, tạo động lực để thúc đẩy nhanh công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn. Trong quyết định số 81/2007/QĐ-TTg ngày 05 tháng 06 năm 2007 của Thủ tướng chính phủ về Phê duyệt "Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bình Dương đến năm 2020" có đoạn viết: “Phát triển nông nghiệp ổn định, bền vững, năng suất cao trên cơ sở khai thác hợp lý các lợi thế về vị trí địa lý, các nguồn lực, giữ gìn và bảo vệ môi trường sinh thái. Chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp và kinh tế nông thôn theo hướng sản xuất hàng hóa có giá trị cao.
Phát triển nông thôn mới trong tiến trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa. Áp dụng công nghệ sinh học, chuyển đổi giống cây trồng, vật nuôi có năng suất và chất lượng cao trong nông nghiệp nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường. Đầu tư phát triển các vùng chuyên canh cây CNDN như cao su; cây ăn trái,…” (Chính phủ 2007). Trong những năm qua, giá trị sản lượng và giá trị xuất khẩu các sản phẩm từ cây CNDN của Việt Nam nói chung và của Bình Dương nói riêng luôn đạt tốc độ tăng trưởng cao.
Theo Tổng cục Thống kê Việt Nam, trong năm 2015 cây CNDN tiếp tục phát triển. Diện tích và sản lượng một số cây chủ yếu tăng so với năm 2014, trong đó diện tích chè ước tính đạt 134,7 nghìn ha, tăng 1,6% so với năm trước; sản lượng chè búp đạt 1 triệu tấn, tăng 1,9%; cà phê diện tích đạt z xiii 645,2 nghìn ha, tăng 0,6%, sản lượng đạt 1.445 nghìn tấn, tăng 2,6%; cao su diện tích đạt 981 nghìn ha, tăng 0,2%, sản lượng đạt 1.017 nghìn tấn, tăng 5,2%; hồ tiêu diện tích đạt 97,6 nghìn ha, tăng 14%, sản lượng đạt 168,8 nghìn tấn, tăng 11,3%. Riêng cây điều, mặc dù diện tích cho sản phẩm giảm 1,5% so với năm trước, nhưng do năng suất tăng nên sản lượng đạt xấp xỉ năm 2014. Các loại cây công nghiệp có giá trị kinh tế cao do sau quá trình chế biến giá trị sẽ gia tăng nhiều lần.
Bên cạnh đó, đây cũng là mặt hàng xuất khẩu có giá trị cao. Vì vậy, loại cây này không chỉ tạo việc làm, cải thiện đời sống cho các hộ nông dân mà còn góp phần tạo ra nguồn thu ngoại tệ lớn để tái đầu tư cho chính ngành này và các hoạt động kinh doanh khác, đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Trị giá xuất khẩu cà phê là 2.674 triệu USD, cao su là 1.532 triệu USD, hồ tiêu là 1.260 triệu USD và chè là 213 triệu USD. Bình Dương là một tỉnh nằm ở vị trí chuyển tiếp giữa sườn phía nam của dãy Trường Sơn, nối nam Trường Sơn với các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long.
Vùng đất Bình Dương tương đối bằng phẳng, thấp dần từ bắc xuống nam. Các quy luật tự nhiên tác động lên vùng đất này tạo nên nhiều dạng địa hình khác nhau cùng với đất đai đa dạng và phong phú về chủng loại như: đất xám, đất nâu vàng trên phù sa cổ, đất phù sa Glây, đất dốc tụ,… Bên cạnh đó, khí hậu ở Bình Dương cũng như khí hậu của khu vực miền Đông Nam Bộ là nắng nóng và mưa nhiều, độ ẩm khá cao. Do đặc điểm khí hậu nhiệt đới ẩm và đất đai màu mỡ, Bình Dương là một tỉnh thuận lợi cho việc phát triển cây CNDN. Tuy vậy, sự phát triển của cây CNDN tại Việt Nam nói chung và tỉnh Bình Dương nói riêng còn chưa bền vững.
Chẳng hạn như, giá cao su sụt giảm trong giai đoạn 2011 do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế thế giới khiến cho các hoạt động sản xuất sử dụng mủ cao su bị đình trệ. Giá giảm ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế và thu nhập của nông dân nên họ bắt đầu phá bỏ cây cao su để chuyển sang trồng các loại cây khác có giá trị kinh tế. Ngoài nguyên nhân do biến động giá, phát triển cây CNDN chưa thực sự bền vững còn xuất phát từ việc thiếu hụt vốn cho trồng trọt của các hộ nông dân. Việc tiếp cận nguồn vốn tín dụng ngân hàng khó khăn đã khiến cho các hộ nông dân không thể cải tạo vườn cây già cỗi.
Điều này đã z xiv làm giảm năng suất của các loại cây CNDN và gia tăng chi phí trồng trọt. Bên cạnh đó, việc thiếu hụt vốn khiến cho người nông dân phải chấp nhận bán sản phẩm thô, bán non. Điều này đã khiến cho người nông dân phải chịu áp lực bị ép giá, ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế của các loại cây CNDN. Như vậy, có thể thấy trong bối cảnh hiện nay việc giải quyết tình trạng thiếu vốn tín dụng, đầu tư vốn chưa đúng mức cho việc phát triển bền vững cây CNDN là quan trọng và có ý nghĩa thiết thực.
Vì những lý do trên và để phát triển bền vững cây CNDN tại tỉnh Bình Dương, tác giả lựa chọn đề tài: “Mở rộng tín dụng ngân hàng để phát triển bền vững cây công nghiệp dài ngày của các ngân hàng thƣơng mại trên địa bàn tỉnh Bình Dƣơng”. Các kết quả được mong đợi sẽ đóng góp thêm vào lý luận và thực tiễn cho vấn đề nghiên cứu trong giai đoạn hiện nay. Tổng quan tình hình nghiên cứu 2.1 Các nghiên cứu có liên quan Phát triển cây công nghiệp lâu năm ở Việt Nam của Nguyễn Sinh Cúc (2005), đăng trên Tạp chí Cộng sản, đã nghiên cứu: Phát triển cây CNDN ở Việt Nam cho thấy các loại cây CNDN cho sản phẩm chủ yếu làm nguyên liệu cho các ngành công nghiệp chế biến và xuất khẩu. Do đó, các loại cây CNDN có giá trị kinh tế cao.
Tuy nhiên, việc phát triển các loại cây CNDN đang gặp phải những rào cản như: biến đổi khí hậu ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng của cây, sâu bệnh phát triển, lạm dụng phân hóa học quá nhiều, tình trạng đốt phá rừng, thiếu vốn. Trong đó tác giả nhấn mạnh đến tình trạng được mùa mất giá gây khó khăn cho các hộ nông dân, từ đó dẫn đến tình trạng thiếu vốn cho phát triển cây CNDN. Trên cơ sở phân tích thực trạng để đánh giá những thành tựu đạt được và chỉ ra những rào cản, tác giả đã đề xuất một số giải pháp có tính định hướng nhằm khắc phục các hạn chế và góp phần phát triển bền vững cây CNDN. Trong đó, tác giả nhấn mạnh cần phải gia tăng việc đầu tư phát triển cây công nghiệp dài ngày thông qua việc chuyển hướng đầu tư từ đầu tư chiều rộng sang đầu tư chiều sâu, ứng dụng rộng rãi các tiến bộ khoa học, công nghệ nhất là công nghệ z xv sinh học vào sản xuất để tăng năng suất, nâng cao chất lượng.
Để làm được điều này cần thiết phải có nguồn vốn tín dụng ngân hàng. Phát triển bền vững ngành cao su Việt Nam trong hội nhập kinh tế quốc tế (2012) của Trần Đức Viên, đăng trên Tạp chí Khoa học và Phát triển, đã nghiên cứu: Tình hình sản xuất và xuất khẩu cao su của Việt Nam cho thấy sản lượng và giá trị cao su xuất khẩu không ngừng gia tăng qua các năm trong giai đoạn nghiên cứu. Tuy nhiên do tác động của việc tham gia vào thị trường thế giới và WTO. Nghiên cứu cũng điểm lại một số chính sách của Việt Nam liên quan đến sản xuất và xuất khẩu cao su, tổng hợp những tác động của quá trình hội nhập quốc tế đối với ngành cao su.
Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp phát triển bền vững ngành cao su Việt Nam trong quá trình hội nhập. Các giải pháp được tác giả đưa ra tập trung vào nâng cao năng lực cạnh tranh cho ngành cao su như: hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan đến ngành cao su, xây dựng chính sách thúc đẩy đầu tư các ngành công nghệ mũi nhọn sử dụng sản phẩm cao su, khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia đầu tư bằng cách xã hội hóa lĩnh vực trồng cao su ở các vùng kinh tế phù hợp, khuyến khích các doanh nghiệp nước ngoài, các nhà đầu tư cá nhân tham gia vào lĩnh vực trồng, khai thác và chế biến mủ cao su. Bên cạnh đó, tác giả cũng kiến nghị cần đa dạng hóa hoạt động nhằm hạn chế rủi ro có thể xảy ra khi giá cao su xuống thấp. Giải pháp nâng cao hiệu quả và phát triển bền vững cây cao su trên địa bàn tỉnh Quảng Bình (2014) của Nguyễn Đức Lý, đăng trên tạp chí Thông tin khoa học và công nghệ Quảng Bình, đã nghiên cứu Phát triển cây cao su trên địa bàn tỉnh Quảng Bình cho thấy cây cao su có vị trí và tầm quan trọng đối với kinh tế tỉnh Quảng Bình, chỉ ra những khó khăn trong quá trình phát triển, đồng thời đưa ra các kiến nghị nhằm phát triển bền vững cây cao su ở tỉnh Quảng Bình.
Tác giả kiến nghị Chính phủ cần có chính sách cho khoanh nợ, giãn nợ, xóa nợ và cho vay với lãi suất ưu đãi với thời gian từ 6-7 năm mới trả gốc và lãi để z xvi doanh nghiệp, hộ gia đình có điều kiện tiếp tục trồng mới cao su, cho vay vốn ưu đãi đối với người trồng cây cao su; bảo hiểm đối với cây cao su. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn giao Tập đoàn Công nghiệp cao su Việt Nam, Viện nghiên cứu cây cao su Việt Nam nghiên cứu lai tạo chọn giống và điều chỉnh quy trình kỹ thuật cây cao su phù hợp điều kiện Bắc Trung bộ nói chung và tỉnh Quảng Bình nói riêng.