CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ MỞ RỘNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Các vấn đề về sự phát triển của các DNVVN, Ngân hàng hỗ trợ DNVVN và mở rộng tín dụng ngân hàng đối với DNVVN đã được đề cập trong rất nhiều các tài liệu, công trình nghiên cứu trong nước cũng như trên thế giới. Các nghiên cứu về Doanh nghiệp vừa và nhỏ Khái niệm doanh nghiệp vừa và nhỏ đã được biết đến trên thế giới từ những năm đầu thế kỷ XX, và khu vực DNVVN được các nước quan tâm phát triển từ những năm 50 của thế kỷ XX. Tuy nhiên, tùy tình hình đặc điểm kinh tế của từng nước mà có khái niệm về doanh nghiệp vừa và nhỏ khác nhau. Trong tài liệu“ Tổng quan doanh nghiệp vừa và nhỏ’” của tổ chức hợp tác va phát triển kinh tế OECD năm 2000, đã đưa ra tiêu chí phân loại doanh nghiệp nhỏ và vừa của một số quốc gia và khu vực như sau: Tại Nhật bản: doanh nghiệp sản xuất có dưới 300 lao động hoặc vốn đầu tư dưới 100 triệu Yên thì được coi là DNVVN Tại Mỹ: DNVVN là doanh nghiệp có dưới 500 lao động hoặc có số vốn đầu tư dưới 3,5 tr USD Ở Italia: DNVVN là doanh nghiệp tư nhân và độc lập có số công nhân dưới 200 người và có tổng doanh thu dưới 400 tr EUR.
8 Mặc dù khu vực DNVVN đã được các nước quan tâm và phát triển từ những năm 50 của thế kỷ XX. Tuy nhiên ở Việt Nam khái niệm DNVVN vừa mới được biết đến từ những năm 1990 đến nay. Trong cơ chế bao cấp, DNNN được chia thành doanh nghiệp loại 1, loại 2 loại 3 với tiêu chí phân loại là số lao động trong biên chế và phân cấp trung ương – địa phương. Trong đó DNVVN tương ứng với Doanh nghiệp loại 2 và loại 3.
Trước năm 1998, một số địa phương tổ chức đã xác định DNVVN dựa trên các tiêu chí khác nhau như: số lao động(dưới 500 người), giá trị tài sản cố định(dưới 10 tỷ), số dư vốn lưu động(dưới 8tỷ), doanh thu hàng tháng(dưới 20 tỷ). Ngày 20-6-1998, Chính phủ đã có công văn số 681/CP/KCN về việc định hướng chiến lược và chính sách phát triển DNVVN. Theo công văn này, DNVVN là những DN có số vốn đang ký dưới 5 tỷ đồng và số lao động thường xuyên là dưới 200 người. Ngày 23-11-2001, theo Nghị định 90/2001/NĐ-CP thì DNVVN là Doanh nghiệp có số vốn đăng ký dưới 10 tỷ đồng và số lao động dưới 300 người.
Đây là văn bản pháp luật đầu tiên chính thức quy định về DNVVN. Ngày 30-6-2009, theo NĐ56/2009/NĐ-CP; DNVVN được xác định theo các tiêu chí ngành nghề, số lao động, tổng nguồn vốn. Cho đến nay đây là văn bản mới nhất quy định việc phân loại DNVVN tại nước ta. DNVVN là loại hình doanh nghiệp với quy mô vốn và số lao động không đòi hỏi lớn so với loại hình DN lớn.
Chính vì thế mà DNVVN dễ thành lập và phát triển, do đó tại các quốc gia trên thế giới loại hình DNVVN có số lượng ngày càng tăng và đóng góp của DNVVN đối với toàn nền kinh tế ngày càng lớn. DNVVN có vai trò hết sức quan trọng đối với các quốc gia trên thế giới. Trong tài liệu “ Promoting SMEs for development”; báo cáo tại Hội nghị quản lý các DNVVN tổ chức lần thứ 2 tại Istanbul, Turkey, năm 2004. Đã đưa ra các số liệu thể hiện mức độ đóng góp vào GDP và việc làm tại các nước phát triển, các nước có thu nhập thấp, các nước có thu nhập trung bình của DNVVN và khu vực phi chính 9 thức.
Ở các nước phát triển: DNVVN đóng góp trên 55% GDP và 65% tổng số việc làm; khu vực phi chính thức đóng góp trên 12% GDP và 18% tổng số việc làm. Ở các nước có thu nhập trung bình: DNVVN đóng góp 40% vào GDP và 55% tổng số việc làm, khu vực phi chính thức đóng góp 30% vào GDP và 49% tổng số việc làm. Ở các nước thu nhập thấp DNVVN đóng góp 15% vào GDP và 31% tổng số việc làm; còn khu vực phi chính thức đóng góp đóng góp 45% vào GDP và 41% tổng số việc làm. Như vậy, tầm quan trọng của DNVVN tỷ lệ nghịch với sự phát triển kinh tế.
Ở các nước thu nhập thấp, đặc biệt là trong nền kinh tế chậm phát triển, đóng góp của DNVVN đến việc làm và GDP là ít hơn so với khu vực kinh tế phi chính thức. Trong khi đó ở các nước càng phát triển thì tỷ lệ đóng góp của DNVVN đến việc làm và GDP càng cao hơn so với khu vực phi chính thức. Các DNVVN mang lại lợi ích về mặt kinh tế, vì thế mà ở các nước phát triển khuyến khích càng nhiều các doanh nghiệp, các chủ thể có thể tham gia vào khu vực chính thức. Các nước đang phát triển cần có chính sách phân chia lại khu vực chính thức và phi chính thức để tăng GDP và giải quyết vấn đề việc làm.
Trong nghiên cứu “ Vai trò DNVVN trong cung ứng và tăng tốc độ lưu thông hàng hóa” của Thạc sỹ Nguyễn Đức Toàn; năm 2012 đã chỉ ra được những đóng góp của DNVVN vào nền kinh tế Việt Nam: Các DNVVN của Việt Nam hiện nay chiếm khoảng 98% tổng số doanh nghiệp trên toàn quốc với tỷ trọng GDP cung cấp cho nền kinh tế của các DNVVN có xu hướng ngày càng tăng. Nếu năm 2002 chiếm 9,02%, đến năm 2004 tỷ lệ này khoảng 24%–25,5%, năm 2006 tỷ trọng đóng góp khoảng 26% GDP và năm 2009 tỷ trọng đóng góp hơn 30% GDP. DNVVN có vai trò trong tạo việc làm và thu nhập cho người lao động: Năm 2008, số lao động hoạt động trong DNVVN chiếm tỷ trọng 62,18%, với tổng mức thu nhập là 13.831 triệu đồng, trong khi đó tổng thu nhập lao động toàn nền kinh tế là 21. Năm 2009, số lao động hoạt động trong DNVVN chiếm tỷ trọng 66,74%, với tổng mức thu nhập là 18.110 triệu đồng, trong khi đó tổng thu nhập lao động toàn nền kinh tế là 28.
10 DNVVN còn có vai trò trong việc thu hút vốn đầu tư. Năm 2008, phân theo qui mô vốn cả nước có 154.766 DNVVN với số vốn đăng ký 348.033 tỷ đồng, tăng 17,35% so với năm 2007; Năm 2009, phân theo qui mô vốn cả nước có 186.254 DNVVN với số vốn đăng ký 418.844 tỷ đồng, tăng 20,35% so với năm 2008. Bên cạnh ba vai trò quan trọng trên của DNVVN đối với nền kinh tế, Trong cuốn sách “DNVVN Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế” của TS Trần Kim Hào, TS Nguyễn Hữu Thắng, Nhà xuất bản chính trị quốc gia Năm 2006 đã đưa ra thêm các vai trò quan trọng khác của DNVVN: góp phần làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế, làm tăng hiệu quả và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, đóng góp không nhỏ vào ngân sách nhà nước, đóng góp vào quá trình tăng tốc độ công nghệ, đóng góp không nhỏ vào xuất khẩu, là tiền đề tạo ra những doanh nghiệp lớn, làm lành mạnh môi trường đầu tư và kinh doanh, ngoài ra còn góp phần tạo ra môi trường kinh tế mang tính văn hóa thị trường, góp phần tạo ra những nhà quản lý giỏi. Tóm lại, DNVVN có vai trò hết sức quan trọng đối với phát triển kinh tế xã hội của mọi quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam.
Tuy nhiên, do quy mô hoạt động nhỏ do đó các DNVVN rất cần vốn để mở rộng sản xuất kinh doanh và Ngân hàng chính là kênh tài trợ vốn lớn nhất dành cho các DN này. Có rất nhiêu tài liệu phân tích về vấn đề ngân hàng hỗ trợ vốn cho các DNVVN, sau đây luận văn xin đưa ra một số các tài liệu nghiên cứu, bài viết tiêu biểu mà tác giả đã tìm hiểu và nghiên cứu. Các nghiên cứu về việc hỗ trợ vốn của ngân hàng dành cho các DNVVN Trong tài liệu nghiên cứu “ Financing SMEs and Entrepreneurs” organisation for economic co-operation and development; november 2006. Tài liệu đã đưa ra những trở ngại của DNVVN trong việc tiếp cận nguồn tài chính: Do sự thiếu thông tin về cả hai phía ngân hàng và doanh nghiệp, do những quy định cứng nhắc hoặc thiếu sót trong khuôn khổ pháp lý, do các sản phẩm và dịch vụ tài chính không đáp ứng được nhu cầu 11 của các DN.
Các ngân hàng từ chối cung cấp tài chính cho các DNVVN bởi các DNVVN thường là các công ty rất trẻ do đó thiếu điều kiện về tài sản đảm bảo, hoặc các công ty có khả năng đạt được lợi nhuận lớn tuy nhiên nguy cơ thua lỗ cũng rất lớn. Các DNVVN cho thấy mô hình hoạt động sản xuất với sự biến động liên tục của tốc độ tăng trưởng và thu nhập, với những biến động lớn hơn so với các công ty lớn, tỷ lệ sống thấp hơn so với các công ty lớn. Cho vay DNVVN rủi ro hơn so với cho vay các công ty lớn, do đó các khoản tín dụng dành cho DNVVN thường các Ngân hàng tính với lãi suất cao hơn. Điều này làm khó khăn cho các DNVVN vay tiền vì giá tín dụng là quá cao.
Trong bài viết “Banks can do more to help SMEs” năm 2011,đã đưa ra những lợi ích của NHTM khi thực hiện hỗ trợ và tư vấn cho các DNVVN, bên cạnh lợi nhuận đạt được từ việc hỗ trợ tín dụng, NHTM có thể tận dụng các mối quan hệ với DNVVN, các NHTM có thể tiếp cận với số lượng lớn các DNVVN khác, ngoài ra có cả các công ty lớn bởi hầu hết các doanh nghiệp vừa và nhỏ là một phần của chuỗi sản xuất, cung ứng hàng hóa trong đó có người mua và nhà cung cấp liên kết với các công ty lớn của địa phương hoặc đa quốc gia. Như vậy, có thể thấy rằng, việc cho vay đối với các DNVVN không những chỉ đem lại lợi nhuận cho ngân hàng, mà còn đem lại nguồn khách hàng tiềm năng cho các ngân hàng và phát triển kinh tế đất nước. Do đó, cần phải mở rộng tín dụng đối với nhóm khách hàng này. Các nghiên cứu về mở rộng tín dụng đối với các DNVVN Có rất nhiều nghiên cứu về mở rộng tín dụng đối với các DNVVN ở nước ta.
Mỗi một nghiên cứu lại tiếp cận phương pháp phân tích theo các chỉ tiêu khác nhau, nhưng các tài liệu nghiên cứu đều đưa ra những nhận định, định nghĩa giống nhau về hoạt động mở rộng tín dụng là sự tăng lên về quy mô và chất lượng tín dụng. Cụ thể, luận 12 văn xin được trích một số quan điểm của các nghiên cứu đã được công bố trong nước thời gian qua.