CHƯƠNG 1: CĂN CỨ XÂY DỰNG ĐỀ ÁN MỞ RỘNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Những vấn đề chung về hoạt động tín dụng tại ngân hàng thương mại 1. Khái niệm hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại Tín dụng ngân hàng là một lĩnh vực quan trọng trong hệ thống tài chính, đóng vai trò thiết yếu trong việc cung cấp vốn cho nền kinh tế. Khái niệm tín dụng ngân hàng thường được hiểu theo nhiều khía cạnh, bao gồm bản chất, chức năng, các loại hình và cơ chế hoạt động của nó.
Bản chất của tín dụng ngân hàng chính là mối quan hệ giữa ngân hàng và người vay tiền, trong đó ngân hàng cung cấp các khoản vay cho cá nhân hoặc doanh nghiệp, và người vay phải hoàn trả số tiền đó kèm theo lãi suất theo các điều kiện đã thỏa thuận. Tín dụng ngân hàng không chỉ đơn thuần là việc cho vay tiền mà còn bao gồm cả quá trình xét duyệt, quản lý rủi ro và thu hồi nợ. Ngân hàng thực hiện chức năng này với mục tiêu kiếm lợi nhuận từ việc thu lãi suất và phí dịch vụ, đồng thời hỗ trợ tăng trưởng kinh tế thông qua việc cung cấp vốn cho các hoạt động sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng. trong cuốn sách "The Economics of Money, Banking, and Financial Markets" (11th Edition), Mishkin định nghĩa tín dụng ngân hàng là “quá trình ngân hàng cung cấp vốn thông qua các khoản vay và thẻ tín dụng, đồng thời đóng vai trò trung gian trong việc điều tiết cung cầu tiền tệ và quản lý rủi ro” (Mishkin, 2021)., and Gertler, Mark trong bài viết "Monetary Policy and Financial Stability: A Review of Recent Research" xuất bản trên Journal of Economic Perspectives, các tác giả định nghĩa tín dụng ngân hàng là “hoạt động mà các ngân hàng sử dụng tiền gửi để cấp vốn cho các khoản vay, qua đó ảnh hưởng đến cả sự ổn định tài chính và tăng trưởng kinh tế” (Bernanke and Gertler, 2023)., and Stein, Jeremy C.
trong nghiên cứu "Monetary Policy and Financial Market Stability" xuất bản trên Brookings Papers on Economic Activity, tác giả mô tả tín dụng ngân hàng là “quá trình trong đó ngân hàng cung cấp các khoản vay cho nền kinh tế, đồng thời sử dụng các công cụ tài chính để quản 6 lý rủi ro và điều tiết lãi suất” (Hanson and Stein, 2022). Theo khoản 4, điều 4 Luật các tổ chức tín dụng Việt Nam năm 2024 định nghĩa: Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng, thư tín dụng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác (Quốc hội, 2024). Cũng theo Luật các tổ chức tín dụng điều 4 khoản 7 định nghĩa: Cho vay là hình thức cấp tín dụng thông qua việc bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định, trong một thời gian nhất định, theo nguyên tắc có hoàn trả đầy đủ tiền gốc, lãi theo thỏa thuận cho bên cho vay (Quốc hội, 2024). Trong đề án sử dụng khái niệm theo nghĩa hẹp đó là hoạt động cho vay theo định nghĩa được ghi trong Luật các tổ chức tín dụng.
Đặc điểm hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại Thứ nhất, cơ sở quyết định một khoản tín dụng là lòng tin của ngân hàng về việc sử dụng vốn vay đúng mục đích của khách hàng và có khả năng hoàn trả nợ vay đúng hạn. Còn người đi vay thì tin tưởng vào khả năng kiếm được tiền trong tương lai để trả nợ gốc và lãi vay. Thứ hai, tín dụng là sự chuyển giao quyền sử dụng một số tiền (hiện kim) hoặc tài sản (hiện vật) từ chủ thể này sang chủ thể khác, chứ không làm thay đổi quyền sở hữu chúng. Tín dụng cấp cho khách hàng là từ nguồn vốn huy động của ngân hàng mà chủ yếu là tiền gửi của các cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước.
Do đó, khách hàng nhận được khoản vay chỉ nắm giữ mang tính chất “tạm thời” và sử dụng vào mục đích đã cam kết với ngân hàng. Thứ ba, tín dụng bao giờ cũng có thời hạn và phải hoàn trả vô điều kiện. Ngân hàng thực hiện chức năng “đi vay để cho vay”, do đó mọi khoản tín dụng đều phải có thời hạn để đảm bảo cho ngân hàng hoàn trả vốn huy động khi khách hàng gửi tiền cần rút hoặc ngân hàng lại sử dụng nguồn vốn đó cho khách hàng khác vay. Chính vì khách hàng không phải là chủ sở hữu thực sự của số tiền vay nên đương nhiên phải cam kết hoàn trả vô điều kiện khoản vay này cho ngân hàng.
Thứ tư, giá trị tín dụng không những được bảo toàn mà còn được nâng cao 7 nhờ lợi tức tín dụng. Giá trị hoàn trả phải lớn hơn giá trị lúc cho vay, bởi khách hàng phải trả giá cho quyền sử dụng vốn vay. Khoản lợi tức này luôn dương để bù đắp chi phí hoạt động và tạo ra lợi nhuận cho ngân hàng. Thứ năm, đặc trưng bản chất nhất của tín dụng là tiềm ẩn rủi ro cao.
Cho dù khách hàng có thiện chí trả nợ nhưng nếu gặp môi trường kinh doanh bất lợi, biến động các chỉ số kinh tế, sự cố bất khả kháng… thì cũng dễ gây ra khó khăn trong việc trả nợ và tất yếu ngân hàng gặp RRTD. Phân loại tín dụng của ngân hàng thương mại * Căn cứ vào thời hạn tín dụng Tín dụng ngắn hạn: Là loại tín dụng có thời hạn dưới 1 năm. Tín dụng này thường sử dụng để bổ sung sự thiếu hụt tạm thời vốn lưu động của doanh nghiệp hoặc phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng bức thiết của dân cư. Tín dụng trung hạn: Là loại tín dụng có thời hạn từ 1 năm đến 5 năm.
Loại tín dụng này phục vụ cho nhu cầu mua sắm tài sản cố định, đầu tư mở rộng sản xuất với quy mô nhỏ, thu hồi vốn nhanh. Việc phân loại tín dụng căn cứ vào thời hạn trung hạn chỉ có ý nghĩa tương đối, điều quan trọng là tín dụng mua sắm tài sản có thời gian khấu hao ngắn, dưới 5 năm hoặc 1 năm trở lên được coi là căn cứ phân loại thích hợp. Tín dụng dài hạn: Là loại tín dụng có thời hạn cho vay từ 5 năm trở lên. Loại tín dụng này được dùng để đầu tư phát triển hạ tầng cơ sở của nền kinh tế quốc dân, đầu tư chiều sâu để nâng cao năng suất lao động và tạo vị thế cho các ngành công nghiệp then chốt và khả năng hợp tác chuyên ngành và đa ngành, đồng thời góp phần đổi mới cơ cấu của nền kinh tế quốc dân.
* Căn cứ vào quy trình nghiệp vụ Cho vay: là việc Ngân hàng cung cấp nguồn tài chính cho khách hàng trong đó họ sẽ hoàn trả tài chính cho ngân hàng trong một thời hạn thỏa thuận và thường kèm theo lãi suất. Cho vay là nguồn thu lợi nhuận lớn nhất của ngân hàng. Ngân hàng có thể cho vay bằng tiền mặt hoặc chuyển khoản, tiền có thể chuyển tới tài khoản của khách hàng hoặc người bán của khách hàng. Ngân hàng cũng thiết kế nhiều kiểu cho vay phù hợp với từng khách hàng Chiết khấu: Là việc ngân hàng mua lại có thời hạn, hoặc có bảo lưu quyền 8 truy đòi các giấy tờ có giá của khách hàng.
Giấy tờ có giá có đặc điểm chung là giấy nợ, được hiểu là một lệnh hay cam kết vô điều kiện để thanh toán một khoản tiền xác định cho người thụ hưởng khi được yêu cầu hoặc tại một thời điểm xác định. Chiết khấu là việc ngân hàng ứng trước tiền cho khách hàng tương ứng với giá trị của giấy nợ trừ đi phần thu nhập của ngân hàng để sở hữu một giấy nợ chưa đến hạn. Đối với ngân hàng việc bỏ tiền ra để thu về một khoản tiền lớn hơn trong tương lai với lãi suất xác định trước được coi như là hoạt động tín dụng. Cho thuê tài chính: là việc ngân hàng bỏ tiền mua tài sản để cho khách hàng thuê theo những thỏa thuận nhất định.
Hoạt động cho thuê bắt nguồn từ nhu cầu của các doanh nghiệp sản xuất hoặc cung cấp thiết bị, nhà cửa có giá trị lớn, thời gian sử dụng lâu dài. Do người mua không đủ tiền mua hoặc có nhu cầu sử dụng trong thời gian ngắn hơn thời gian khấu hao của tài sản… đã làm nảy sinh nhu cầu cho thuê trong khi các doanh nghiệp sản xuất và cung cấp có nhu cầu tiêu thụ để tăng doanh thu và hao mòn của tài sản. Có hai hình thức cho thuê chủ yếu đó là cho thuê hoạt động và cho thuê tài chính. Cho thuê hoạt động đáp ứng nhu cầu thực tế trong thời gian ngắn hạn, người đi thuê không có ý định sử dụng tài sản lâu dài.
Cho thuê tài chính đáp ứng nhu cầu thuê trong thời gian dài và người đi thuê có quyền mua lại tài sản hoặc sở hữu tài sản khi hết hợp đồng thuê. Hoạt động cho thuê của ngân hàng chủ yếu là hoạt động cho thuê tài chính. Bảo lãnh: Cam kết bảo lãnh là văn bản bảo lãnh của tổ chức tín dụng, bao gồm; Thư bảo lãnh và hợp đồng cấp bảo lãnh. Thư bảo lãnh là cam kết đơn phương bằng văn bản của tổ chức tín dụng về việc tổ chức sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ cam kết với bên nhận bảo lãnh.
Hợp đồng cấp bảo lãnh là văn bản thỏa thuận giữa tổ chức tín dụng với khách hàng và các bên liên quan về quyền và nghĩa vụ các bên trong việc thực hiện bảo lãnh của tổ chức tín dụng cho khách hàng. Trong các hình thức cấp tín dụng trên, hình thức cho vay chiếm tỷ trọng chi phối. Do đó, trong phạm vị hẹp tín dụng có thể hiểu là hoạt động cho vay là hoạt động cho vay. Đặc biệt đối với các chi nhánh ngân hàng cấp tỉnh, cho vay gần như chiếm tỷ trọng tuyệt đối.
Do đó, trong giới hạn của đề án này hoạt động tín dụng được giới hạn trong phạm vi hoạt động cho vay. 9 * Căn cứ vào hình thức đảm bảo Về nguyên tắc, mọi khoản tín dụng của ngân hàng đều có bảo đảm. Tuy nhiên ngân hàng chỉ ghi vào hợp đồng tín dụng loại bảo đảm mà ngân hàng có thể bán đi để thu nợ khi khách hàng không trả nợ.