Phần mở đầu đã đƣợc đề cập và kết luận bên dƣới, khóa luận sẽ có kết cấu chính nhƣ sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về cho vay khách hàng cá nhân của Ngân hàng thƣơng mại: chƣơng này trình bày về cơ sở lý luận về hoạt động cho vay cá nhân của ngân hàng thƣơng mại. Chƣơng 2: Thực trạng về hoạt động cho vay mua ô tô đối với khách hàng cá nhân tại Ngân hàng TMCP Công thƣơng Việt Nam – chi nhánh Bình Dƣơng: giới thiệu tổng quan về ngân hàng TMCP Công thƣơng Việt Nam – CN Bình Dƣơng, trình bày về thực trạng cho vay mua ô tô tại ngân hàng, đánh giá quy trình cho vay tại ngân hàng và đƣa ra các con số về dƣ nợ và doanh số để thấy đƣợc tình hình hiện tại của ngân hàng, sau đó rút ra những ƣu điểm và hạn chế trong quy trình cho vay. Chƣơng 3: Những kiến nghị mở rộng hoạt động cho vay mua ô tô đối với khách hàng cá nhân tại Ngân hàng TMCP Công thƣơng Việt Nam – chi nhánh Bình Dƣơng: trình bày định hƣớng phát triển tại ngân hàng trong tƣơng lai, đƣa ra kiến nghị giúp ngân hàng phát huy điểm mạnh, khắc phục điểm yếu để mở rộng hoạt động cho vay mua ô tô. 4 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHO VAY KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.1 KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC TRƢNG CỦA CHO VAY KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.1 Khái niệm cho vay khách hàng cá nhân: Cho vay là hoạt động truyền thống và quan trọng nhất của NHTM.
Cho vay chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng tài sản, tạo thu nhập từ lãi lớn nhất và cũng là hoạt động mang lại nhiều rủi ro nhất cho ngân hàng. Theo Bùi Diệu Anh (2009), “Tín dụng ngân hàng đƣợc hiểu là một giao dịch giữa hai chủ thể, trong đó bên cấp tín dụng (ngân hàng/ tổ chức tín dụng khác) chuyển giao một tài sản cho bên nhận tín dụng (doanh nghiệp, cá nhân hoặc chủ thể khác) sử dụng theo nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”. Do đó, căn cứ trên đối tƣợng khách hàng, NHTM có 2 nhóm sản phẩm chính: cho vay cá nhân và cho vay pháp nhân.Rose, 2004), cho vay là chức năng kinh tế hàng đầu của Ngân hàng, để tài trợ cho chi tiêu của các doanh nghiệp, các cá nhân và các cơ quan chính phủ. Theo Tín dụng tiêu dùng (Tài liệu học tập – ĐH Ngân hàng, 2016), cho vay tiêu dùng là khoản vốn ngân hàng tài trợ cho nhu cầu chi tiêu của ngƣời tiêu dùng, bao gồm cá nhân và hộ gia đình.
Đây là một nguồn tài chính quan trọng giúp ngƣời dân trang trải nhu cầu nhà ở, đồ dùng gia đình và xe cộ. Nhƣ vậy, có thể hiểu: Cho vay khách hàng cá nhân là hình thức cấp tín dụng mà trong đó NHTM giao cho khách hàng là cá nhân, hộ gia đình, hộ kinh doanh một khoản tiền để sử dụng trong một thời hạn nhất định theo nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi với mục đích đáp ứng nhu cầu vay vốn để tiêu dùng và phục vụ mục đích sản xuất, kinh doanh. Cho vay khách hàng cá nhân đóng góp lớn đến sự lƣu thông các nguồn vốn trong xã hội, lƣu chuyển vốn từ nơi thừa đến nơi thiếu, từ nơi hiệu quả thấp đến 5 nơi hiệu quả cao để đáp ứng nhu cầu vốn cho kinh doanh hoặc tiêu dùng của cá nhân và hộ gia đình.2 Đặc điểm của cho vay khách hàng cá nhân 1.1 Uy tín của khách hàng là yếu tố quan trọng để cấp tín dụng: Cơ sở cấp tín dụng dựa trên niềm tin về uy tín trả nợ và khả năng trả nợ: ngƣời cho vay là cá nhân hoặc hộ gia đình, khi nguồn thu nhập trả nợ của khách hàng đƣợc ƣớc tính bằng tổng thu nhập trừ cho tổng chi phí thì uy tín hay ý thức hay thiện chí trả nợ của khách hàng trở nên quan trọng trong việc khảo sát tổng chi phí để đánh giá nguồn trả nợ.2 Thời hạn cho vay của các khoản vay đối với KHCN tùy thuộc vào tính chất nguồn thu nhập: Nguồn trả nợ của khách hàng cá nhân thƣờng xác định theo nguồn thu nhập, do đó thời hạn cho vay có thể là ngắn hạn, trung hạn hoặc dài hạn tùy thuộc vào mục đích vay vốn và phƣơng thức cho vay. Đối với các khoản vay để bổ sung vốn lƣu động phục vụ sản xuất kinh doanh có thời hạn vay phù hợp với chu kỳ sản xuất kinh doanh của các cá nhân và hộ gia đình sẽ có thời hạn vay thƣờng là ngắn hạn.
Còn đối với các khoản vay để phục vụ nhu cầu tiêu dùng của các cá nhân và hộ gia đình thƣờng có thời hạn là trung hạn hoặc dài hạn phụ thuộc vào khả năng đáp ứng của NHTM và khả năng trả nợ của KHCN.3 Đối tƣợng cấp tín dụng khó phân biệt một cách cụ thể: Mục đích cho vay cá nhân nhằm phục vụ nhu cầu tiêu dùng hoặc sản xuất kinh doanh nhỏ của cá nhân và hộ gia đình. Căn cứ vào mục đích cho vay, có thể chia thành 2 nhóm: - Cho vay tiêu dùng: Khoản vay cá nhân cho mục đích này trực tiếp phục vụ cho nhu cầu chi tiêu cho cuộc sống nhƣ mua nhà đất, mua ô tô, mua sắm vật dụng trang thiết bị gia đình, xây dựng, sửa chữa nhà, du học. 6 - Cho vay phục vụ sản xuất kinh doanh: khoản vay này đáp ứng nhu cầu bổ sung vốn lƣu động và vốn cố định thiếu hụt trong hoạt động sản xuất kinh doanh.4 Hoạt động cho vay cá nhân có thể thỏa thuận hai bên hoặc ba bên: - Thỏa thuận hai bên – cho vay trực tiếp: là hình thức cho vay tƣơng đối phổ biến với khách hàng của ngân hàng không có nhu cầu vay thƣờng xuyên, không có điều kiện để đƣợc cấp hạn mức thấu chi. Theo hình thức này, khách hàng chỉ khi có nhu cầu thời vụ, hay mở rộng sản xuất lớn mới vay ngân hàng.
- Thỏa thuận ba bên – cho vay gián tiếp: là hình thức cho vay thông qua các tổ chức trung gian. Ngân hàng cho vay qua các tổ, đội, nhóm nhƣ Hội phụ nữ, Hội cựu chiến binh. Ngân hàng cũng có thể cho vay thông qua ngƣời bán lẻ các sản phẩm đầu vào của quá trình sản xuất, giúp hạn chế ngƣời vay sử dụng tiền sai mục đích.5 Rủi ro của các khoản vay Số lƣợng các khoản vay ở KHCN là rất lớn giúp NHTM phân tán đƣợc rủi ro nhƣng các khoản vay này vẫn chứa đựng nhiều rủi ro. Là do tình hình tài chính của KHCN thƣờng xuyên thay đổi theo tình trạng công việc và sức khỏe của họ.
KHCN thành lập cơ sở sản xuất kinh doanh thƣơng là tự phát nên đôi khi hoạt động chƣa tốt do trình độ quản lý kém, thiếu kinh nghiệm, chuyên môn chƣa áp dụng khoa học công nghệ hiện đại dẫn đến khả năng cạnh tranh trên thị trƣờng không cao. Tình hình tài chính của KHCN không ổn định khiến ngân hàng phải đối mặt với nguy cơ khó thu hồi nợ khi khách hàng phá sản, thất nghiệp,. Ngoài ra, NHTM còn khó khăn trong việc thẩm định và quyết định cho vay KHCN do thông tin không cân xứng, thông tin cá nhân không đƣợc tiết lộ. Điều này làm cho NHTM khó có thể đƣa ra quyết định cho vay và quản lý các khoản vay.6 Lãi suất cho vay 7 Lãi suất của các khoản vay KHCN thƣờng cao hơn các khoản vay khác của NHTM do các khoản vay KHCN có chi phí lớn, nhiều rủi ro và đối tƣợng KHCN thƣờng ít nhạy cảm.
Khi quyết định vay vốn, KHCN không quan tâm nhiều đến lãi suất cho vay mà họ thƣờng quan tâm đến số tiền của khoản vay, thời hạn vay và số tiền lãi họ phải trả định kỳ.3 Ý nghĩa của hoạt động cho vay khách hàng cá nhân 1.1 Đối với NHTM: Ngân hàng có thể mở rộng mối quan hệ với nhiều đối tƣợng KHCN khác nhau, đa hóa hoạt động kinh doanh, nâng cao thƣơng hiệu, phân tán rủi ro và gia tăng lợi nhuận. - Đa dạng hóa các hoạt động kinh doanh: hoạt động cho vay KHCN là một mảng hoạt động quan trọng trong việc đa dạng hóa các hoạt động tài chính của Ngân hàng, đáp ứng kịp thời nhu cầu mở rộng phát triển của Ngân hàng. Trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt để tranh giành thị trƣờng nhƣ hiện nay, các Ngân hàng đang dành sự quan tâm rất lớn đến mảng dịch vụ bán lẻ nói chung, cũng nhƣ cho vay KHCN nói riêng vì đây là thị phần rộng lớn và cần đƣợc triển khai hơn thế nữa. - Nâng cao thƣơng hiệu: Do đối tƣợng khách hàng vô cùng lớn nên việc phát triển cho vay cá nhân sẽ giúp hình ảnh thƣơng hiệu của Ngân hàng đƣợc trải rộng khắp nơi.
Hoạt động cho vay KHCN tạo điều kiện thuận lợi cho Ngân hàng bán chéo các sản phẩm dịch vụ của Ngân hàng: bảo hiểm, phát hành thẻ, tiền gửi tiết kiệm, dịch vụ ngân hàng điện tử,. thỏa mãn tối đa nhu cầu của khách hàng, tạo nên nét khác biệt với các ngân hàng cạnh tranh, từ đó góp phần nâng cao thƣơng hiệu ngân hàng. - Phân tán rủi ro: Nếu chỉ tập trung vào cho vay khách hàng doanh nghiệp có nhu cầu vốn lớn, nếu khi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp gặp khó khăn ảnh hƣởng đến khả năng trả nợ sẽ ảnh hƣởng rất lớn đến hoạt động kinh 8 doanh của ngân hàng. Do vậy, phát triển hoạt động cho vay KHCN nhƣ một sự phân tán rủi ro vì KHCN đông, số tiền cho vay lại nhỏ hơn bên doanh nghiệp, nếu có rủi ro xảy ra cũng không ảnh hƣởng nhiều đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
- Gia tăng lợi nhuận: Mảng cho vay mua ô tô mang lại lợi nhuận không nhỏ cho ngân hàng do lãi suất cho vay mua ô tô cao, thị trƣờng ô tô tại Việt Nam đang phát triển và là một thị trƣờng tiềm năng. Đây là một lĩnh vực mới và là một “miếng mồi ngon” nên rất nhiều ngân hàng tham gia vào hoạt động cho vay trong lĩnh vực này, thông qua hoạt động này ngân hàng mở rộng mối quan hệ với các đại lý xe qua đó họ có thể đánh giá khách hàng một cách đầy đủ hơn.2 Đối với khách hàng: Cuộc sống của con ngƣời luôn tồn tại những nhu về cầu vật chất và tinh thần, những nhu cầu đó ngày càng đa dạng và cao hơn bắt đầu từ những hàng hóa thiết yếu rồi đến những hàng hóa xa xỉ hơn cùng với sự phát triển của nền kinh tế. Nhƣng việc thỏa mãn những nhu cầu đó lại phụ thuộc vào khả năng thanh toán hiện tại.