Chương 1: Tổng quan về hoạt động cho vay của NHTM đối với DN VVN + Chương 2: Thực trạng hoạt động cho vay đối với DN VVN của ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội chi nhánh Huế + Chương 3: Định hướng và giải pháp nhằm phát triển hoạt động cho vay đối với DN VVN tại ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội chi nhánh Huế - Phần 3: Kết luận và kiến nghị SVTH: Lâm Thị Bảo Khánh 4 Khóa luận tốt nghiệp PHẦN 2: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHO VAY DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NHTM ĐỐI VỚI DN VVN 1. Khái niệm về ngân hàng thƣơng mại Ngân hàng là gì? Theo luật các tổ chức tín dụng năm 2010, ta có định nghĩa: “Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng đƣợc thực hiện toàn bộ hoạt động Ngân hàng và các hoạt động khác có liên quan. Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình Ngân hàng bao gồm: Ngân hàng thƣơng mại, Ngân hàng phát triển, Ngân hàng đầu tƣ, Ngân hàng chính sách, Ngân hàng hợp tác và các loại hình Ngân hàng khác”.
Ngân hàng thương mại cổ phần? Ngân hàng thƣơng mại cổ phần là cách gọi ở Việt Nam các Ngân hàng hoạt động kinh doanh, thƣơng mại theo mô hình cổ phần và tuân theo các luật riêng của Chính phủ và các quy chế, quy định của Ngân hàng Nhà Nƣớc Việt Nam khi hoạt động. Gọi là Ngân hàng thƣơng mại cổ phần để phân biệt với các Ngân hàng thƣơng mại nhà nƣớc và Ngân hàng thƣơng mại liên doanh và chi nhánh Ngân hàng thƣơng mại nƣớc ngoài tại Việt Nam. Hoạt động cho vay của ngân hàng thƣơng mại Cho vay là hoạt động kinh doanh chủ yếu của NHTM để tạo ra lợi nhuận. Doanh thu từ hoạt động cho vay sẽ bù đắp chi phí tiền gửi, chi phí dự trữ, chi phí kinh doanh và quản lý, chi phí vốn trôi nổi, chi phí thuế các loại và các chi phí rủi ro đầu tƣ.
Kinh tế càng phát triển, doanh số cho vay của các NHTM càng tăng nhanh và loại hình cho vay càng trở nên vô cùng đa dạng. Ở hầu hết các nƣớc phát triển hàng đầu thế giới, cho vay của các NHTM đã chuyển dần từ cho vay ngắn hạn sang cho vay dài hạn, khu vực cho vay ngắn hạn nhƣờng chỗ cho thị trƣờng tài chính - tiền tệ cung ứng. Tuy nhiên, ở Việt Nam, là nƣớc đang phát triển nên cho vay ngắn hạn vẫn chiếm bộ phận lớn hơn cho vay dài hạn, bởi các khoản đầu tƣ dài hạn thƣờng có độ rủi ro lớn hơn (trong đó có những tác nhân chủ yếu SVTH: Lâm Thị Bảo Khánh 5 Khóa luận tốt nghiệp nhƣ tình hình tăng trƣởng, lạm phát…). Vì vậy, có thể nói cho vay của NHTM hay nói rộng ra là tín dụng của NHTM là một lĩnh vực phức tạp và thƣờng xuyên cập nhật theo những biến chuyển của môi trƣờng kinh tế.
Hoạt động cho vay của NHTM đối với DN VVN Hiện nay, các NHTM sử dụng rất nhiều các phƣơng thức cho vay phù hợp với từng đối tƣợng khách hàng, trong đó có khach hàng DN VVN nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng cũng nhƣ công tác quản lý tiền vay của ngân hàng. Trên cơ sở nhu cầu sử dụng vốn vay của DN VVN và khả năng kiểm tra giám sát việc sử dụng vốn vay, ngân hàng sẽ thỏa thuận với DN VVN về việc lựa chọn phƣơng án cho vay theo một trong những phƣơng thức sau: - Cho vay phục vụ sản xuất kinh doanh đối với DN VVN : đây là hình thức cấp tín dụng của ngân hàng dành cho các DN VVN có nhu cầu mở rộng phát triển sản xuất kinh doanh. Điển hình có các gói sản phẩm nhƣ Cho vay bổ sung vốn lƣu động theo món hoặc theo hạn mức phục vụ sản xuất kinh doanh, Cho vay tài trợ xuất nhập khẩu với nhiều phƣơng thức thanh toán khác nhau cũng đang đƣợc các NHTM cung cấp, Cho vay đầu tƣ TSCĐ… - Cho vay theo dự án mức đầu tƣ: theo phƣơng thức này, NHTM sẽ cho các DN VVN vay vốn để thực hiện các dự án đầu tƣ phát triển, sản xuất kinh doanh, dịch vụ và các dự án đầu tƣ phục vụ đời sống với quy mô vay vốn linh hoạt, phụ thuộc vào từng dự án. Căn cứ để phát triển tiền vay bao gồm: hợp đồng tín dụng, hợp đồng và chứng từ cung cấp vật tƣ, thiết bị, công nghệ… - Cho vay từng lần: đƣợc áp dụng với các DN VVN có nhu cầu vay vốn không thƣờng xuyên , không ổn định, kinh doanh theo từng thƣơng vụ, thời vụ.
Với mỗi hợp đồng tín dụng, NHTM có thể giải ngân một hoặc nhiều lần phù hợp với tiến độ và yêu cầu sử dụng vốn thực tế của từng doanh nghiệp. Thời hạn cho vay sẽ đƣợc xác định dựa trên chu kỳ sản xuất kinh doanh và khả năng trả nợ của doanh nghiệp ngay từ khi ký kết hợp đồng tín dụng. - Chiết khấu bộ chứng từ có giá: đối với các DN VVN hoạt động trong lĩnh vực xuất khẩu theo phƣơng thức L/C hoặc nhờ thu kèm chứng từ, có nhu cầu thu hồi vốn sớm nhằm tăng khả năng lƣu chuyển quay vòng vốn của mình, NHTM sẽ tiến hành cấp tín dụng cho các DN này thông qua việc chiết khấu bộ chứng từ của lô hàng xuất khẩu. SVTH: Lâm Thị Bảo Khánh 6 Khóa luận tốt nghiệp Bên cạnh các phƣơng thức cho vay kể trên, còn có các phƣơng thức khác nhƣ Cho vay trả góp, Cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng… phù hợp với quy định của Ngân hàng Nhà nƣớc Việt Nam.
Vai trò hoạt động cho vay đối với DN VVN của NHTM Hoạt động cho vay của NHTM đối với DN VVN là một hoạt động góp phần quan trọng trong sự phát triển kinh tế của mỗi đất nƣớc. Xét về phía NHTM, hoạt động chính là huy động vốn và sử dụng nguồn vốn huy động đƣợc để thu lợi nhuận. Số lƣợng DN VVN hiện nay lại rất lớn, chiếm đại đa số trong tổng các DN, nhu cầu vay vốn của họ ngày càng tăng. Vì vậy, nếu khai thác tốt đối tƣợng khách hàng này sẽ đem đến cho NHTM một nguồn thu lớn bởi nghiệp vụ tín dụng nói chung và cho vay nói riêng là những nghiệp vụ sinh lời chủ yếu của NHTM.
Xét về phía các DN VVN, hoạt động cho vay của NHTM sẽ góp phần thu hút vốn đầu tƣ cho nền kinh tế, giúp DN VVN có thể dễ dàng tiếp cận nguồn vốn trong quá trình sản xuất kinh doanh, phát triển khả năng sản xuất, mở rộng hơn nữa quy mô của mình. Với vai trò là trung gian tài chính, NHTM đóng vai trò cầu nối cho nền kinh tế, cầu nối giữa ngƣời thừa vốn và các DN VVN cần vốn để đầu tƣ. - DOANH NGHIỆP - CÁ NHÂN - HỘ GIA ĐÌNH NHTM DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ Bên cạnh đó, hoạt động cho vay của NHTM còn góp phần mở rộng sản xuất, thúc đẩy đổi mới công nghệ, thiết bị, cải tiến khoa học kĩ thuật cho các DN VVN. Việc vay vốn không những giải quyết đƣợc nhu cầu vốn kinh doanh mà còn thay đổi cách nghĩ, cách làm của các DN VVN để sử dụng vốn có hiệu quả kinh tế và vấn đề mở rộng sản xuất kinh doanh, thúc đẩy đổi mới công nghệ , thiết bị, cải tiến khoa học kĩ thuật sẽ làm tiền đề cho sự phát triển có hiệu quả đó.
Trong đó, vốn quyết định mọi vấn đề trong kinh doanh. Đặc biệt trong xu thê hội nhập nền kinh tế thị trƣờng thì đây là vấn đề quan trọng cần giải quyết của các DN VVN. SVTH: Lâm Thị Bảo Khánh 7 Khóa luận tốt nghiệp Vì vậy, có thể thấy, hoạt động cho vay của NHTM đối với DN VVN là một hoạt động không thể thiếu trong nền kinh tế. Một nền kinh tế muốn phát triển mạnh và bền vững thì không thể thiếu hoạt động nêu trên.
Các chỉ tiêu phản ánh hoạt động cho vay đối với DN VVN 1. Số lượng DN VVN vay vốn tại ngân hàng Đây là chỉ tiêu cụ thể nhất phản ánh quá trình mở rộng hoạt động cho vay của ngân hàng. Chỉ tiêu này đƣợc tính bằng tổng số các doanh nghiệp vừa và nhỏ có quan hệ vay vốn với ngân hàng trong một khoảng thời gian xác định. Dư nợ cho vay của DN VVN Đây là chỉ tiêu phản ánh khối lƣợng vốn mà khách hàng còn nợ ngân hàng tại một thời điểm cụ thể.
Chỉ tiêu này thƣờng đƣợc thể hiện là số dƣ cuối kỳ của doanh nghiệp trên bảng cân đối kế toán của ngân hàng. Theo thời gian, nếu chỉ tiêu này càng ngày càng tăng sẽ chứng tỏ hoạt động cho vay đối với DN VVN càng đƣợc mở rộng. Tỷ trọng dư nợ cho vay của DN VVN (1) Tỷ trọng dƣ nợ cho vay của DN VVN đƣợc xác định bởi công thức: Dƣ nợ cho vay của DN VVN (1) = * 100% Tổng dƣ nợ cho vay Chỉ tiêu trên thể hiện tỷ lệ cho vay đối với DN VVN so với Tổng dƣ nợ của ngân hàng. Nếu chỉ tiêu này cao, chứng tỏ hoạt động mở rộng chovay đối với DN VVN càng đƣợc chú trọng.
Tốc độ tăng trưởng dư nợ cho vay của DN VVN qua các năm (2) Tốc độ tăng trƣởng dƣ nợ của DN VVN qua các năm đƣợc xác định bởi công thức: (Dƣ nợ cho vay năm nay – Dƣ nợ cho vay năm trƣớc) (2) = * 100% Dƣ nợ cho vay năm trƣớc Chỉ tiêu trên sẽ phản ánh tình hình cho vay đối với DN VVN đang tăng lên hay giảm xuống. Nếu chỉ tiêu này dƣơng sẽ chứng tỏ hoạt động cho vay đối với DN VVN năm nay đã đƣợc mở rộng hơn so với năm trƣớc. Sự gia tăng này càng lớn, càng rõ rệt và nổi bật sẽ chứng tỏ ngân hàng đang ngày càng chú trọng phát triển hoạt động cho vay đối với DN VVN. SVTH: Lâm Thị Bảo Khánh 8 Khóa luận tốt nghiệp 1.
Nợ xấu và tỷ trọng nợ xấu của hoạt động cho vay đối với DN VVN (3) Nợ xấu của cho vay đối với DN VVN (3) = * 100% Dƣ nợ của DN VVN Bản thân nợ xấu là một hiện tƣợng tự nhiên, phù hợp quy luật phát triển kinh tế gắn liền với rủi ro trong hoạt động ngân hàng. Song vấn đề sẽ trở nên nghiêm trọng khi tỷ lệ này vƣợt quá ngƣỡng cho phép – ngƣỡng mà nhiều nhà kinh tế đã thống nhất là an toàn nếu nằm trong khoảng từ 1% - 3%.