CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MỞ RỘNG CHO VAY HỘ KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. KHÁI QUÁT VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY VÀ MỞ RỘNG CHO VAY CỦA NHTM 1. Khái quát về cho vay và mở rộng cho vay a. Cho vay “Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời hạn nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.
Thời hạn nhất định ở đây chính là thời hạn cho vay” [6], [26]. Thời hạn cho vay là khoảng thời gian được tính từ khi khách hàng bắt đầu nhận được vốn vay cho đến thời điểm trả hết nợ gốc và lãi vay đã được thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng giữa tổ chức tín dụng và khách hàng. Đối với NHTM, cho vay là một hoạt động tín dụng của ngân hàng nhằm thực hiện điều hòa vốn trong nền kinh tế dưới hình thức phân phối nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi để đáp ứng nhu cầu về vốn phục vụ sản xuất kinh doanh và đời sống. Phân loại cho vay của NHTM Có nhiều cách để phân loại cho vay, trong luận văn tác giả xin tập trung nghiên cứu các cách phân loại như sau: - Căn cứ vào mục đích, có các loại sau: + Cho vay kinh doanh: là hình thức cho vay của ngân hàng nhằm đáp ứng nhu cầu vốn kinh doanh cho các doanh nghiệp, hộ sản xuất kinh doanh + Cho vay tiêu dùng: là loại cho vay của ngân hàng nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của hộ gia đình, cá nhân như chi tiêu thường xuyên, sửa chữa nhà cửa, mua sắm… Luan van 7 - Căn cứ vào thời hạn cho vay, có các loại sau: + Cho vay ngắn hạn: là khoản cho vay có thời hạn đến 12 tháng và được sử dụng để bù đắp sự thiếu hụt vốn lưu động của các DN, nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của cá nhân + Cho vay trung và dài hạn: là khoản cho vay có thời hạn từ 1 năm trở lên.
Ở Việt Nam hiện nay các khoản cho vay trên 1 đến 5 năm được gọi là cho vay trung hạn, các khoản vay có thời hạn trên 5 năm gọi là cho vay dài hạn - Căn cứ vào hình thức bảo đảm tiền vay, có các loại sau: + Cho vay có tài sản bảo đảm: là việc cho vay của NHTM theo đó nghĩa vụ trả nợ của người vay được cam kết bảo đảm thực hiện bằng tài sản cầm cố, thế chấp, tài sản hình thành từ vốn vay của khách hàng hoặc có sự bảo lãnh của bên thứ ba + Cho vay không có tài sản bảo đảm là trường hợp NHTM cho khách hàng vay vốn không có tài sản cầm cố, thế chấp, hoặc không có bảo lãnh của người thứ 3 mà ngân hàng chỉ dựa vào uy tín của khách vay. - Căn cứ vào phương thức cho vay, có các loại sau: + Cho vay từng lần: Áp dụng đối với những khách hàng vay không thường xuyên hoặc khách hàng thường xuyên nhưng chưa được ngân hàng tín nhiệm cho áp dụng hạn mức tín nhiệm, thường yêu cầu khách hàng phải có đảm bảo tín dụng và áp dụng cho các khoản vay dài hạn hoặc cho vay các dự án. Mỗi lần vay vốn khách hàng và NHTM thực hiện thủ tục vay vốn cần thiết và ký hợp đồng tín dụng theo quy định + Cho vay hạn mức tín dụng: Áp dụng cho khách hàng có nhu cầu vay vốn thường xuyên và được ngân hàng tín nhiệm, thường khi cho vay loại này, ngân hàng không yêu cầu đảm bảo tín dụng. Cho vay theo hạn mức là loại tín dụng ngân hàng theo đó ngân hàng xem xét, quyết định cấp cho khách hàng một hạn mức tín dụng nhất định.
Khách hàng chỉ cần lập hồ sơ xin vay vào Luan van 8 đầu kỳ kế hoạch còn trong kỳ, mỗi khi phát sinh nhu cầu vốn trong phạm vi hạn mức tín dụng được cấp, không cần phải lập hồ sơ mà chỉ cần lập các chứng từ chứng minh nhu cầu vốn vay để ngân hàng xem xét phát tiền vay theo hạn mức + Cho vay theo dự án đầu tư: Ngân hàng cho khách hàng vay vốn để thực hiện các dự án đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh và các dự án khác phục vụ cho hoạt động tiêu dùng + Cho vay đồng tài trợ: Một nhóm tổ chức tín dụng cùng cho vay đối với một dự án vay vốn hoặc phương án vay vốn của khách hàng, trong đó có một tổ chức tín dụng làm đầu mối dàn xếp phối hợp với các tổ chức tín dụng khác để thực hiện + Cho vay trả góp: Ngân hàng và khách hàng xác định và thỏa thuận số lãi vốn vay phải trả cộng với số nợ gốc được chia ra để trả nợ theo nhiều kỳ hạn trong thời hạn cho vay + Cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng: Ngân hàng cam kết đảm bảo sẵn sàng cho khách hàng vay vốn trong phạm vi hạn mức tín dụng nhất định. Ngân hàng và khách hàng thỏa thuận thời hạn hiệu lực của hạn mức tín dụng dự phòng, mức phí trả cho hạn mức tín dụng dự phòng + Cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng: Ngân hàng cho vay chấp nhận cho khách hàng được sử dụng vốn vay trong phạm vi hạn mức tín dụng để thanh toán mua hàng hóa, dịch vụ và rút tiền mặt tại các máy rút tiền tự động + Cho vay theo hạn mức thấu chi: Ngân hàng thỏa thuận bằng văn bản cho khách hàng được chi vượt số tiền hiện có trên tài khoản thanh toán của khách hàng phù hợp với các quy định của Nhà nước và NHTM Việt Nam về hoạt động thanh toán qua các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán. Mở rộng cho vay Mở rộng cho vay của NHTM là việc ngân hàng tăng cường sử dụng các nguồn lực của mình như vốn, hệ thống mạng lưới, công nghệ, nguồn nhân lực…nhằm tăng quy mô cho vay, trên cơ sở kiểm soát mức rủi ro và đảm bảo khả năng sinh lời phù hợp với mục tiêu và chiến lược kinh doanh của ngân hàng trong từng thời kỳ. Như vậy, trong quá trình mở rộng cho vay, mục tiêu tăng quy mô cho vay là mục tiêu ưu tiên, mục tiêu về hạn chế rủi ro là mục tiêu kiểm soát được xem xét tùy thuộc vào chiến lược kinh doanh của ngân hàng trong từng thời kỳ.
Kết quả cuối cùng của việc mở rộng cho vay được đánh giá qua các chỉ tiêu: Thứ nhất, sự tăng lên về quy mô cho vay được phản ánh qua các tiêu chí: Tốc độ tăng DNCV, tốc độ tăng số lượng khách hàng vay vốn, tăng dư nợ bình quân trên một khách hàng trên cơ sở kiểm soát rủi ro tín dụng và tăng trưởng thu nhập từ hoạt động cho vay. Thứ hai, sự mở rộng cho vay về chất lượng được phản ánh qua tiêu chí: Chất lượng nợ tốt, thể hiện việc thẩm định trước, trong và sau khi cho vay tốt, ngân hàng kiểm soát được các khoản cho vay, cung cấp các khoản cho vay cho khách hàng kịp thời, hợp lý giúp khách hàng làm ăn hiệu quả, trả nợ đúng hạn, hạn chế tỷ lệ, tốc độ tăng nợ xấu, nợ quá hạn. Thứ ba, ngoài những tiêu chí nêu trên, để đánh giá sự mở rộng cho vay còn có các chỉ tiêu khác như mở rộng mạng lưới cho vay và các phương thức cho vay. Ngoài ra, nếu mở rộng cho vay mà các sản phẩm và dịch vụ khác không phát triển, không đem lại lợi nhuận tổng thể, cũng như đa dạng sản phẩm, dịch vụ để bảo đảm ngân hàng phát triển bền vững thì việc mở rộng cho vay cũng chưa được đánh giá cao.
Đặc điểm của HKD a. Khái niệm HKD Theo điều 49 Nghị định số 43/2010/NĐ-CP ngày 14/5/2010 về đăng ký doanh nghiệp theo quy định “Hộ kinh doanh do một cá nhân là công dân Việt Nam hoặc một nhóm người hoặc một hộ gia đình làm chủ, chỉ được đăng ký kinh doanh tại một địa điểm, sử dụng không quá mười lao động, không có con dấu và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh” b. Đặc điểm HKD - Hộ kinh doanh được thành lập bởi một cá nhân, hoặc hộ gia đình hoặc một nhóm người đều không có tư cách pháp nhân. Hộ kinh doanh hưởng toàn bộ lợi nhuận (sau khi đã thực hiện các nghĩa vụ tài chính và thanh toán theo quy định của pháp luật) và chịu mọi nghĩa vụ.
- Hầu hết hộ kinh doanh hình thành một cách tự phát, quy mô hoạt động kinh doanh nhỏ, phân tán ở nhiều nơi không tập trung, kinh tế của hộ thường gắn với điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội. - Hộ kinh doanh không phải là một thực thể độc lập, tách biệt với chủ nhân của nó. Nên về nguyên tắc chủ nhân của hộ kinh doanh phải chịu trách nhiệm vô hạn đối với khoản nợ của hộ kinh doanh, có nghĩa là chủ nhân của hộ kinh doanh phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình kể cả tài sản không đưa vào kinh doanh. - Phần lớn hộ kinh doanh có trình độ kinh doanh, trình độ quản lý mang tính truyền thống, thủ công, quy mô hoạt động manh mún, cơ sở vật chất cũ, vốn chủ sở hữu nhỏ, hạn chế trong việc áp dụng những tiến bộ kỹ thuật vào quản trình sản xuất kinh doanh, hạn chế kiến thức về pháp luật, cơ chế tín dụng và các chủ trương, chính sách của Nhà nước cũng như các thông tin về Luan van 11 nền kinh tế thị trường…do đó định hướng đầu tư cho hoạt động kinh doanh thường ít chính xác.
- Hoạt động sản xuất kinh doanh của hộ không cố định, họ có thể chuyển hướng sang hoạt động sản xuất kinh doanh khác một cách nhanh chóng, nếu thấy hoạt động kinh doanh ngành khác đem lại lợi nhuận cao hơn.