CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MỞ RỘNG CHO VAY THEO CHUỖI GIÁ TRỊ NÔNG NGHIỆP 1. Cơ sở lý luận về chuỗi giá trị nông nghiệp 1. Chuỗi giá trị 1. Khái niệm chuỗi giá trị Khái niệm chuỗi giá trị được các học giả nghiên cứu, mở rộng theo những cách tiếp cận khác nhau.
Cho đến nay, có ba dòng nghiên cứu chính về chuỗi giá trị là: Khung khái niệm của Porter (1995); Tiếp cận “filière” và Tiếp cận toàn cầu do Kaplinsky (1999), Gereffi (1994, 1999, 2003) và Gereffi và Korzeniewicz (1994) đề xuất. Khung khái niệm của M.Porter xác định chuỗi giá trị theo nghĩa hẹp: một chuỗi giá trị gồm một chuỗi các hoạt động được thực hiện trong phạm vi một công ty để sản xuất ra một sản lượng nào đó. Các hoạt động giá trị có thể chia ra làm hai loại chính: hoạt động chính và hoạt động hỗ trợ. Hoạt động sơ cấp là những hoạt động mang tính vật chất liên quan đến việc tạo ra sản phẩm, bán và chuyển giao cho khách hàng cũng như những công tác hỗ trợ sau bán hàng.
Các hoạt động hỗ trợ cho các hoạt động sơ cấp bao gồm các hoạt động thu mua, phát triển công nghệ, quản trị nguồn nhân lực, cơ sở hạ tầng của doanh nghiệp… 2 Một khái niệm khác tương tự với chuỗi giá trị trong một vài khía cạnh là khái niệm “filière” (từ tiếng Pháp có nghĩa là “sợi chỉ”). Khái niệm này được sử dụng để mô tả dòng đầu vào vật chất và dịch vụ trong quá trình sản xuất ra một sản phẩm sau cùng (hàng hóa hay dịch vụ). Khái niệm chuỗi (Filière) luôn bao hàm nhận thức kinh nghiệm thực tế được sử dụng để lập sơ đồ dòng chuyển động của các hàng hóa và xác định những người tham gia vào hoạt động. Phương pháp này có các đặc điểm chính là (1) tập trung vào những vấn đề của các mối quan hệ định lượng và vật chất trong chuỗi; (2) sơ đồ hóa các dòng chảy của hàng hóa vật chất và (3) sơ đồ hóa các quan hệ chuyển dạng sản phẩm.
Trong phân tích, phương pháp phân tích ngành hàng có hai cách phân tích chính. Cách thứ nhất tập trung vào đánh giá kinh tế và tài chính, mà chủ yếu là tập trung vào phân tích việc tạo ra thu nhận và phân phối thu nhập trong ngành hàng, tách chi phí và thu nhập giữa các thành phần thương mại địa phương và quốc tế, và phân tích vai trò của ngành hàng đối với nền kinh tế quốc gia và sự đóng góp của nó vào GDP. Cách thứ hai là tập trung vào phân tích chiến lược, đánh giá sự ảnh hưởng lẫn nhau của các mục tiêu, sự ràng buộc và kết quả của từng tác nhân tham gia ngành hàng; xây dừng các chiến lược cá nhân và tập thể. Luồng tư tưởng mới đây nhất là phương pháp tiếp cận toàn cầu, khái niệm các chuỗi giá trị được áp dụng để phân tích toàn cầu hóa đã được các tác giả Kaplinsky đề xuất (1999), Gereffi (1994; 1999; 2003) và Gereffi, và Korzeniewicz (1994).
Kaplinsky và Morris 2001 đã quan sát được rằng trong quá trình toàn cầu hóa, người ta nhận thấy khoảng cách thu nhập trong nội địa và giữa các nước tăng lên. Raphael Kaplinsky (2001) đưa ra những khái niệm về chuỗi giá trị: Chuỗi giá trị đơn giản: Chuỗi giá trị gồm một loạt các hoạt động cần thiết để sản xuất ra một sản phẩm hoặc dịch vụ từ giai đoạn xây dựng khái niệm, qua các giai đoạn khác nhau của sản xuất phân phối đến người tiêu dùng cuối cùng tái chế sau sử dụng. Trong chuỗi giá trị đơn giản, có bốn mắt xích: thiết kế, sản xuất, tiếp thị và tiêu thụ, mỗi mắt xích có nhiều hoạt động và các mắt xích trong nội bộ chuỗi thường có bản chất hai chiều (xem hình 1. 3 Nguồn: Raphael Kaplinsky and Mike Morris, 2001 Hình 1.2: Mô hình chuỗi giá trị đơn giản Chuỗi giá trị mở rộng: là một phức hợp những hoạt động do nhiều người tham gia khác nhau thực hiện (người sản xuất sơ cấp, người chế biến, thương nhân, người cung cấp dịch vụ,.) để biến nguyên liệu thô thành thành phẩm được bán lẻ.
Chuỗi giá trị theo nghĩa rộng bắt đầu từ hệ thống sản xuất nguyên vật liệu và chuyển dịch theo các mối liên kết với các đơn vị sản xuất, kinh doanh, lắp ráp, chế biến,. điều này được minh họa cụ thể bằng chuỗi giá trị ngành lâm nghiệp và sản xuất đồ gỗ (xem hình 1.3) 4 Nguồn: Raphael Kaplinsky and Mike Morris, 2001 Hình 1.3: Mô hình chuỗi giá trị ngành lâm nghiệp và sản xuất đồ gỗ Chuỗi giá trị bao gồm các chức năng trực tiếp như sản xuất hàng hóa cơ bản, thu gom, chế biến, bán sỉ, bán lẻ, cũng như các chức năng hỗ trợ như cung cấp vật tư nguyên liệu đầu vào, dịch vụ tài chính, đóng gói và tiếp thị. Khái niệm chuỗi giá trị bao gồm cả các vấn đề về tổ chức và điều phối, chiến lược và mối quan hệ quyền lực của các tác nhân khác nhau trong chuỗi, ví dụ về chuỗi giá trị ngành lâm nghiệp, đồ gỗ nêu trên sẽ minh họa cho chuỗi giá trị mở rộng. 5 Từ các lý thuyết về chuỗi giá trị của các học giả trên thế giới, các nhà nghiên cúu ở Việt Nam cũng đã thực hiện nhiều nghiên cứu về chuỗi giá trị, việc nghiên cứu chuỗi giá trị được thực hiện chủ yếu đối với các ngành nông nghiệp.
Theo Trần Tiến Khai và ctg (2012) khi nghiên cứu về Ước lượng lợi ích tài chính của chuỗi giá trị dừa Bến Tre cho rằng chuỗi giá trị là tất cả các hoạt động để sản xuất ra một sản phẩn hàng hóa (dịch vụ) và mang sản phẩm (dịch vụ) này đến người tiêu dùng cuối cùng. Mỗi quan điểm nghiên cứu có cách tiếp cận khác nhau về chuỗi giá trị, tuy nhiên, có thể khái quát để đưa ra khái niệm về chuỗi giá trị như sau: chuỗi giá trị là một loạt các hoạt động sản xuất kinh doanh có quan hệ với nhau, từ việc cung cấp đầu vào, sản xuất, thu gom, chế biến và cuối cùng là bán sản phẩm cho người tiêu dùng. Trong chuỗi giá trị có các “khâu”, được hiểu là các hoạt động của chuỗi. Bên cạnh các Khâu, chuỗi giá trị còn có các “tác nhân”, Tác nhân là những người thực hiện các chức năng của các khâu trong chuỗi, ví dụ như nhà cung cấp đầu vào cho sản xuất, nông dân sản xuất nông sản, thương lái vận chuyển hàng hóa,.
Ngoài ra, còn có các “Nhà hỗ trợ chuỗi giá trị” với nhiệm vụ hỗ trợ giúp phát triển chuỗi bằng cách tạo điều kiện nâng cấp chuỗi giá trị. Các mối liên kết của chuỗi giá trị - Mối liên kết ngang trong chuỗi giá trị Theo Porter (1985) mặc dù chuỗi giá trị bao gồm nhiều hoạt động giá trị bên trong, là những mảng bộ phận sẵn có cấu thành nên lợi thế cạnh tranh nhưng chuỗi giá trị không chỉ là một tập hợp những hoạt động độc lập mà là một hệ thống của các hoạt động đó. Mối liên kết ở đây chính là quan hệ giữa phương pháp thực hiện một hoạt động giá trị và chi phí hoặc việc thực hiện một hoạt động khác. - Mối liên kết dọc trong chuỗi giá trị Những mối liên kết không chỉ tồn tại bên trong chuỗi giá trị mà còn tồn tại giữa các chuỗi giá trị với nhau.
Đó là mối liên kết giữa chuỗi giá trị của nhà cung cấp, chuỗi giá trị của nhà sản xuất và chuỗi giá trị của kênh phân phối. Những liên kết này gọi là liên kết dọc. Đó là phương thức mà nhà cung cấp, nhà sản xuất và kênh phân phối tương tác với nhau xét về mặt chi phí hoặc hiệu quả. Chuỗi giá trị nông nghiệp 1.
Khái niệm chuỗi giá trị nông nghiệp Chuỗi giá trị cũng được áp dụng phổ biến trong phân tích sản phẩm nông nghiệp, nhất là khi vấn đề truy nguyên nguồn gốc nông sản và an toàn thực phẩm đang là vấn đề được quan tâm gần đây. Theo Casuga và các ctg (2008) chuỗi giá trị nông nghiệp là một loạt các hoạt động bắt đầu bằng sản xuất, chế biến và nhằm mục đích gia tăng giá trị cho sản phẩm cuối cùng và kết thúc bằng tiếp thị và bán hàng cho người dùng cuối. Chuỗi giá trị nông nghiệp bao gồm cung cấp đầu vào, sản xuất, phân phối/tiếp thị và tiêu dùng. Cung cấp đầu vào bao gồm mua sắm nguyên liệu cho sản xuất.
Trong giai đoạn này, đầu vào sản xuất được cung cấp trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua thương lái hoặc trung gian cho người sản xuất. Ví dụ các nhà cung cấp hạt giống có thể trực tiếp đầu tư cho nông dân hoặc gián tiếp thông qua thương lái hoặc các tổ chức trung gian khác. Chế biến hoặc sản xuất bao gồm chuyển đổi nguyên liệu thô thành thành phẩm. Trong giai đoạn này, những người thu mua mua các sản phẩm nông nghiệp từ các nhà sản xuất và phân phối lại cho các đối tượng khác trong kênh tiếp thị.
Miller & Jones (2010) cho rằng, chuỗi giá trị nông nghiệp bao gồm tất các hoạt động và các người tham gia có liên quan để đưa một sản phẩm nông nghiệp từ nhà cung cấp đầu vào, qua người trồng trọt (nông dân) để đến tay người tiêu dùng. Trong các nghiên cứu của mình, các học giả Việt Nam cũng đã đưa ra khái niệm về chuỗi giá trị nông nghiệp, Theo Đặng Thị Huyền Anh (2017) Chuỗi giá trị nông sản (hay còn gọi là chuỗi sản xuất nông nghiệp) bao gồm tập hợp các chủ thể cung cấp các công đoạn nhằm đưa nông sản từ khâu sản xuất ngoài đồng ruộng tới sản phẩm dịch vụ cuối cùng, mỗi công đoạn đều góp phần tạo ra giá trị gia tăng cho sản phẩm. Chuỗi giá trị nông nghiệp là tổng thể các hoạt động liên quan đến sản xuất và tiêu thụ hàng hóa nông sản. Trong chuỗi giá trị diễn ra quá trình tương tác giữa yếu tố cần và đủ để tạo ra một hoặc nhóm hàng hóa nông sản và các hoạt động phân phối, tiêu thụ sản phẩm này theo một phương thức nhất định.
Giá trị tạo ra của chuỗi 7 bao gồm các giá trị tạo ra và tăng thêm tại mỗi công đoạn tiếp theo của chuỗi trong quá trình đi đến sản phẩm cuối cùng (Nguyễn Văn Phận và ctg, 2017). Vậy, Chuỗi giá trị nông nghiệp là một loạt các hoạt động từ khâu cung cấp vật tư đầu vào hoặc vốn cho hoạt động sản xuất nông nghiệp để tạo ra nông sản, trải qua các công đoạn thu mua, sơ chế/chế biên, làm sạch, đóng gói và phân phối sản phẩm nông nghiệp đến tay người tiêu dùng.