Chương 1: Lí luận chung về hiệu quả kinh doanh ngân hàng Chương 2: Thực trạng hiệu quả kinh doanh của NHNo & PTNT chỉ nhánh tỉnh Vinh Long - | Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh tại NHNo & PTNT chỉ nhánh tỉnh Vĩnh Long. | CHUONG 1 LY LUAN CHUNG VE HIEU QUA KINH DOANH NGAN HANG | 1. Hiéu qua kinh doanh ngân hàng và các chỉ số đánh giá: 1. Khái niệm về hiệu quả kinh doanh ngân hang: 1.
Khái niệm về hiệu quả kinh đoanh ngân hàng Có nhiều quan điểm khác nhau về hiệu quả kinh doanh ngân hang: œ Theo lý thuyết hệ thống thì hiệu quả có thể được hiểu ở hai khía cạnh như sau: - Khả năng biến đổi các đầu vào thành các đầu ra hay khả năng sinh lời hoặc giảm thiểu chỉ phí để tăng khả năng cạnh tranh với các định chế tài chính khác. - Xác suất hoạt động an toàn của ngân hàng. Theo định nghĩa trong cuốn "Từ điển Toán kinh tế, Thống kê, kinh tế lượng Anh-Việt" của PGS.TS Nguyễn Khắc Minh thì "hiệu quả -efficiency" trong kinh tế được định nghĩa là "mối tương quan giữa đầu vào các yếu tố khan hiếm với đầu ra hàng hóa và dịch vụ. Mối tương quan này có thể được đo lường theo hiện vật được gọi là hiệu quả kỹ thuật hoặc theo chi phí được gọi là hiệu quả kinh tế.
Khái niệm hiệu quả được dùng để xem xét các tài nguyên được các thị trường phân phối tốt như thé nào. Lê Văn Tế trong cuốn “ Từ điển Kinh tế tài chính Ngân hàng” thì “ hiệu quả là mối quan hệ giữa các nhập lượng yếu tô và sản lượng hàng hoá và dịch vụ. Mối quan hệ này có thể được đo lường theo điều kiện vật lý (hiệu quả công nghiệp) hoặc theo điều kiện chỉ phí (hiệu quả kinh tế). Khái niệm hiệu quả được coi như một tiêu chuẩn để đo lường tính chất phân phối tài nguyên của thị trường”.
Bùi Xuân Phong trong cuốn “Phân tích hoạt động kinh doanh” đã định nghĩa “ hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp được hiểu là một đại lượng so sánh giữa chỉ phí bỏ ra và kết quả thu được. Theo nghĩa rộng hơn, nó là đại lượng so sánh giữa chì phí đầu vào và kết quả đầu ra”. Chi phí đầu vào bao gồm lao động, tư liệu lao động, đối tượng lao động và vốn kinh doanh (vốn cố định và vốn lưu động) còn kết quả đầu ra được đo bằng các chỉ tiêu như khối lượng sản phẩm (tỉnh bằng hiện vật và giá trị) và lợi nhuận ròng. Nói tóm lại, có nhiều quan điểm khác nhau về hiệu quả, tuỳ theo mục đích và lĩnh vực nghiên cứu mà định nghĩa về hiệu quả kinh doanh sẽ khác nhau.
Theo quan | điểm của tác giả thì “hiệu quả hoạt động kinh doanh ngân hàng là khả năng sử dụng các nguồn: nhân lực, trang thiết bị, công nghệ, vẫn.sao cho đạt được kết quả kinh doanh cao nhất với chỉ phí hợp lý nhất và khả năng giảm thấp rủi ro trong kinh doanh”. Hiệu quả kinh doanh ngân hàng bao gồm hiệu quả về mặt kinh tế và hiệu quả về mặt xã hội. Hiệu quả về mặt kinh tế là lợi ích sinh ra từ hoạt động của ngân hàng đối với nền kinh tế, bản thân ngân hàng và cả khách hàng như: tiết kiệm được chỉ phí xã hội; đây mạnh tốc độ lưu thông hàng hoá; thúc đây kinh tế phát triển; én dinh gia tri don vi tiên tệ, quốc gia; dem lại lợi nhuận, an toàn cho hoạt động kinh doanh của chính ngân hàng đó; tạo thu nhập cao, ổn định cho nhân viên ngân hàng; đem lại niềm tin và độ an toàn cho khách hàng khi giao dịch với ngân hàng,. Hiệu quả về mặt xã hội: một ngân hàng hoạt động kính doanh tốt sẽ mang lại không những hiệu quả kinh tế còn mang lại những hiệu quả về mặt xã hội.
Hoạt động kinh doanh ngân hàng không chỉ xuất phát từ lợi ích của bản thân mình mà còn xuất phát từ lợi ích chung của nên kinh tế. Ngân hàng thương mại với vai trò to lớn trong quá trình tích tụ và tập trung vốn phục vụ cho yêu cầu phát triển sản xuất kinh doanh và lưu thông hàng hoá đã góp phần phát triển kinh tế, tạo thêm việc làm và thu nhập cho người lao động, ôn định xã hội và phát triên đât nước. Sự khác biệt giữa biện quả và kết quả kinh doanh ngân hang _ Kết quả hoạt động kinh doanh là toàn bộ những gì ngân hàng đạt được trong hoạt động kinh doanh của mình trong một thời kỳ nhất định. Kết quả hoạt động kinh đoanh được thể hiện trong từng hoạt động thông qua các chỉ tiêu đánh giá về tốc độ tăng trưởng qua nhiều thời kỳ hoặc so sánh, đối chiếu giữa những chỉ tiêu của kỳ phân.
tích với các chỉ tiêu nhiệm vụ đề ra, những chỉ tiêu nào đạt hoặc vượt kế hoạch thì được đánh giá là hoàn thành kế hoạch. Kết quả kinh doanh chưa so sánh giữa những, kết t quả đạt được với chỉ phí bỏ ra để đạt được kết quả kinh doanh đó. | v Hiệu quả kinh doanh là sự so sánh giữa những kết quả kinh doanh đạt được với chi phi bỏ ra để đạt được kết quả kinh đoanh đó và được đánh giá qua các chỉ số tài chính hoặc chỉ số kỹ thuật. Hiệu quả kinh đoanh là thước đo chất lượng, nó phản ánh trình độ tổ chức, quản lý kinh doanh của nhà quản trị.
Các chỉ tiêu đo lường hiệu quả kinh doanh của ngân hàng 1. Nhóm chi tiêu đánh giá kết quả kinh doanh: Kết quả hoạt động kinh doanh được đánh giá thông qua các chỉ tiêu về tốc độ tăng trưởng, cơ cầu và sự thay đổi cơ cầu trong từng hoạt động kinh doanh cụ thể. Các chỉ tiêu này có cùng công thức tính như sau: e Tốc độ tăng trưởng của (nguồn vốn, tài sẵn, thu nhập, chỉ phí, lợi nhuận,.): Tốc độ tăng trưởng. Tổng ( nguồn vốn, tài sản, thu nhập, của (nguồn vốn, tài chỉ phí, lợi nhuận,.) cuối kỳ “( —————-———— — x100)- 100 sản, thu nhập, chi so ở P Tổng ( nguồn vốn, tài sản, thu nhập, phí, lợi nhuận,.
x ae chỉ phí, lợi nhuận,.) đầu kỳ Chỉ tiêu này cho thấy tốc độ tăng trưởng của tổng ( nguồn vốn, tài sản, thu nhập, chi phí, lợi nhuận,.) kỳ này so với kỳ trước trong mối tương quan với mục tiêu kế hoạch đề ra. Đồng thời cho thấy những yếu tô thuận lợi và khó khăn tác động tạo nên kết quả kinh doanh đó nhằm giúp nhà quản trị ngân hàng có những định hưởng kinh đoanh bop ly hon. cầu và sự thay đãi cơ câu (nguân vốn, tài sản, thu nhập, chỉ phí.): Giá trị ( nguôn vôn, tải sản, thu nhập, chi phí,. Tỷ trọng của ( nguồn vốn, tài 2 x P x = sản, thu nhập, chị phí,.) thir 1 Tông ( nguồn vôn, tài sản, thu nhập, chi phí,.) Chỉ tiêu này cho thấy tính hợp lý của cơ cầu nguồn vốn thông qua xem xét tương quan giữa nguồn vốn huy động không kỳ hạn và có kỳ hạn; tính hợp lý trong cơ cầu tài sản thể hiện giữa các tài sản sinh lãi mà đặc biệt là tín đụng và các hoạt động đầu tư khác như mua chứng khoán (tín phiếu, trái phiếu kho bạc, trái phiếu công trình,.), đồng thời chỉ tiêu này còn cho thấy với sự thay đổi cơ cấu đó có tác động tích cực hay tiêu cực đến tình hình tài chính của ngân hàng trong ngan va dai han.
Đối với thu nhập và chi phí, chỉ tiêu này cho biết khoản mục thu nhập, chi phí nào là chủ yếu của ngân hàng và những thay đổi bất thường của những khoản mục này từ đó giúp nhà quản trị đưa ra những biện pháp phù hợp để tăng thu nhập, giảm chi phí hợp lý. Nhóm chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh: >> Nhóm chỉ tiêu đảnh giá hiệu quả nguồn vẫn: Nguồn vốn của NHTM là toàn bộ các nguồn tiền tệ mà ngân hàng tạo lập, huy động được để cho vay, đầu tư, thực hiện các dịch vụ ngân hàng. Nguồn vốn của NHTM bao gồm: vốn chủ sở hữu, vốn huy động, vốn đi vay và một số vến khác. Khi huy động tiền gửi, ngân hàng phải duy trì dự trữ bắt buộc và sau khi trừ đi các khoản dự trữ để đảm bảo khả năng thanh toán, ngân hàng có thể cho vay, đầu tư phần tiên gửi còn lại.
Theo quy định của NHNN chỉ nhánh trích dự trữ bắt buộc và dự trữ thanh toán về nội và ngoại tệ theo quy định. Tiền gửi dự trữ bắt buộc và tiền gửi dự trữ thanh toán được tập trung về Trụ sở chính NHNo & PTNT Việt Nam gửi tại NHNN. Từ số dư phải tính trích dự trữ thanh toán bình quân hàng quý ngân hàng được giao một hạn mức tồn quỹ tiền mặt để lại đơn vị đảm bảo cho hoạt động cho vay và chỉ trả, số còn lại chuyển tập trung một tài khoản tại Trụ sở chính. Ngoài ra chỉ nhánh còn.
phải mua báo hiểm tiền gửi cho loại tiền gởi tiết kiệm cá nhân của khách hàng với tỷ lệ 0,15% trên tổng nguồn vốn huy động. Để đánh giá hiệu quả nguồn vốn cần đánh giá khả năng ngân hàng huy động vốn với chỉ phí hợp lý cũng như khả năng đáp ứng các yêu cầu xin vay của khách hàng. Những chỉ tiêu cần chú ý: e Lãi suất phải trả bình quân: ` Tổng lãi phải trả Lãi suât phải trả bình quân = Tổng nguồn vốn Trong đó: Tổng lãi phải trả = lãi suất bình quân của từng loại tiền gửi, tiền vay x số dư từng loại tiên gửi, tiên vay. Chỉ tiêu này cho biết chỉ phí vốn bình quân thực tế của mỗi đồng vốn mà ngân hàng có được từ huy động và đi vay.
Chỉ tiêu này càng cao thì lãi phải trả càng lớn _ gay bất lợi cho hoạt động kinh doanh ngân hàng. e Tỷ lệ sinh lời tỗi thiểu dé bù đắp chỉ phí vẫn: Tỷ lệ sinh lời tối thiểu Chi phi tra lãi + chỉ phí hoạt động khác - để bù đấp chỉphíivốn _ Tổng tài sản sinh lời Trong đó: Chi phí hoạt động khác = chỉ phí tiền lương cho nhân viên + chỉ phi quản lý phát sinh khi huy động tiền gửi (chi vật liệu va giấy tờ in, hội nghị, chỉ bưu phí và điện thoại). | | Chỉ tiêu này cho biết tỷ lệ sinh lời tối thiểu từ đầu tư vào các tài sản sinh lời ( tín dụng và đầu tư chứng khoán) mà ngân hàng phải đạt được để có thể bù đắp tổng chỉ phí huy động vốn.