Chương 1: Tổng quan về cho vay KHCN trong lĩnh vực nông nghiệp- nông thôn tại Ngân hàng Thương mại - Chương 2: Thực trạng cho vay đối với KHCN trong lĩnh vực nông nghiệp- nông thôn tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam- chi nhánh tỉnh Bến Tre. - Chương 3: Giải pháp mở rộng cho vay KHCN trong lĩnh vực nông nghiệp- nông thôn tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam- chi nhánh tỉnh Bến Tre. CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CHO VAY KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TRONG LĨNH VỰC NÔNG NGHIỆP- NÔNG THÔN TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI. Tổng quan về tín dụng ngân hàng thƣơng mại 1.
Khái niệm tín dụng ngân hàng Trong nền kinh tế hàng hoá, luôn có một số người tạm thời thừa vốn và bên cạnh đó luôn có một số người tạm thời thiếu vốn. Hiện tượng này làm nảy sinh mối quan hệ kinh tế mà nội dung của nó là vốn được dịch chuyển từ nơi tạm thời thừa sang nơi thiếu với điều kiện hoàn trả vốn và lãi tiền vay là lợi nhuận thu được do sử dụng vốn vay. Đây chính là quan hệ tín dụng. Theo Luật các tổ chức tín dụng được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 16 tháng 06 năm 2010: cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ tín dụng khác.
Trong luận văn này, trên cơ sở xem xét tín dụng như là một chức năng cơ bản của ngân hàng, nên tín dụng được hiểu như sau: Tín dụng là một giao dịch về tài sản giữa bên cho vay (ngân hàng và các định chế tài chính khác) và bên đi vay (cá nhân doanh nghiệp và các chủ thể khác), trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời hạn nhất định theo thỏa thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán. Các hình thức tín dụng ngân hàng 1. Hoạt động cho vay: Là một hình thức cấp tín dụng, theo đó TCTD giao cho khách hàng một số tiền để sử dụng vào một mục đích và thời gian nhất định theo thỏa thuận, với nguyên tắc có hoàn trả gốc và lãi. Một số đặc trưng cơ bản của hoạt động cho vay như sau: 1 - Cho vay có hình thái tín dụng là tiền tệ.
Đây là điểm khác biệt và lợi thế của cho vay so với các hình thức cấp tín dụng khác (bảo lãnh hoặc cho thuê tài chính) vì nó có thể thỏa mãn mọi nhu cầu đa dạng của nhiều tầng lớp khác nhau trong nền kinh tế, trong xã hội. - Bản chất của cho vay là ứng trước nên độ rủi ro cao. Chính vì cho vay có độ rủi ro cao nên các ngân hàng thường áp dụng rất nhiều biện pháp đa dạng để tăng thêm độ an toàn khi cho vay, như quy định về mức vốn đối ứng của phương án vay, quy định về các khoản bảo đảm cho vay, quy trình giải ngân, giám sát khoản vay,…trong khi các quy định này không nhất thiết phải có trong các hình thức cấp tín dụng khác. - Đối tượng cho vay phong phú.
Sự phong phú của đối tượng cho vay xuất phát từ sự đa dạng về mục đích vay của khách hàng, hay nhu cầu vay đa dạng về thời hạn, quy mô,… - Phương thức cho vay đa dạng. Việc vận dụng phương thức cho vay nào là tùy thuộc vào quá trình tìm hiểu của ngân hàng về đặc điểm hoạt động, khả năng tài chính, về rủi ro đặc trưng của người vay,… 1. Hoạt động cho thuê tài chính. Cho thuê tài chính là hoạt động cấp tín dụng trung và dài hạn trên cơ sở hợp đồng cho thuê tài sản giữa bên cho thuê là tổ chức tín dụng với khách hàng thuê.
Theo đó bên cho thuê chuyển giao tài sản thuộc sở hữu của mình cho bên đi thuê sử dụng. Bên đi thuê có trách nhiệm hoàn trả tiền thuê (gồm gốc và phí) trong suốt thời gian thuê, khi kết thúc thời hạn thuê, khách hàng mua lại hoặc tiếp tục thuê tài sản đó theo các điều kiện đã thoả thuận trong hợp đông thuê. Hoạt động bảo lãnh Theo thông tư số 07/2015/TT-NHNN ngày 25/6/2015 quy định về bảo lãnh Ngân hàng của Ngân hàng nhà nước Việt Nam ban hành thì bảo lãnh Ngân hàng là cam kết bằng văn bản của tổ chức tín dụng (bên bảo lãnh) với bên (nhận bảo lãnh) về việc tổ chức tín dụng sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi khách hàng 2 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh. Khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho tổ chức tín dụng số tiền đã được trả thay theo thỏa thuận.
Hoạt động chiết khấu Chiết khấu là việc tổ chức tín dụng mua lại thương phiếu , giấy tờ có giá ngắn hạn khác của người thụ hưởng trước khi đến hạn thanh toán. Thực chất của chiết khấu là việc ngân hàng tái tài trợ cho một quan hệ tín dụng đã hình thành trước đó, mà trong quan hệ tín dụng này người đề nghị chiết khấu là chủ nợ, đã tài trợ vốn thông qua việc bán hàng hóa (nếu giấy nợ là thương phiếu) hoặc cho vay tiền, gửi tiền (nếu giấy nợ là các loại giấy tờ có giá khác). Trong chiết khấu, ngân hàng chuyển tiền hoặc giải ngân cho người chiết khấu và thu nợ từ một người khác (người phải thanh toán khi đáo hạn). Trong hoạt động này có một hoạt động đáng chú ý đó là hoạt động tái chiết khấu.
Hoạt động tái chiết khấu là việc mua lại thương phiếu, giấy tờ có giá ngắn hạn khác đã được chiết khấu trước khi đến hạn thanh toán. Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với phát triển kinh tế - xã hội 1. Là trung gian điều hoà quan hệ cung cầu về vốn trong nền kinh tế Trong nền kinh tế, tại một thời điểm tất yếu sẽ phát sinh hai loại nhu cầu là người thừa vốn cho vay để hưởng lãi và người thiếu vốn đi vay để tiến hành sản xuất kinh doanh. Hai loại nhu cầu này ngược nhau nhưng cũng chung một đối tượng đó là tiền, chung nhau về tính tạm thời và cả hai bên đều thoả mãn nhu cầu và đều có lợi.
Ngân hàng ra đời với vai trò là nơi hiểu biết rõ nhất về tình hình cân đối giữa cung và cầu vốn trên thị trường như thế nào.Và với hoạt động tín dụng, ngân hàng đã giải quyết được hiện tượng thừa vốn, thiếu vốn này bằng cách huy động mọi nguồn tiền nhàn rỗi để phân phối lại vốn trên nguyên tắc có hoàn trả phục vụ kịp thời cho nhu cầu sản xuất, kinh doanh. Thúc đẩy quá trình tập trung vốn, tập trung sản xuất. 3 Bất kỳ một quốc gia nào muốn phát triển nền kinh tế cũng cần phải có một nguồn vốn đầu tư lớn để đổi mới công nghệ, tăng năng suất lao động, giảm giá thành sản phẩm, chiến thắng trong cạnh tranh. Nhưng để có lượng vốn đầu lớn như vậy thì chỉ có quan hệ tín dụng với đáp ứng được điều đó bởi quan hệ tín dụng sẽ tập trung huy động mọi nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế và đáp ứng nhu cầu đó.
Hỗ trợ cho quá trình sản xuất đƣợc thực hiện bình thƣờng liên tục và phát triển Hoạt động tín dụng ngân hàng ra đời đã biến các phương tiện tiền tệ tạm thời nhàn rỗi trong xã hội thành những phương tiện hoạt động sản xuất, kinh doanh có hiệu quả, động viên nhanh chóng nguồn vật tư, lao động và các nguồn lực sẵn có khác đưa vào sản xuất, phục vụ và thúc đẩy sản xuất lưu thông hàng hoá đẩy nhanh quá trình tái sản xuất mở rộng. Mặt khác việc cung ứng vốn một cách kịp thời của tín dụng ngân hàng để đáp ứng được nhu cầu về vốn lưu động, vốn cố định, tạo điều kiện cho quá trình sản xuất được liên tục tránh tình trạng ứ tắc, đồng thời tạo điều kiện cho khách hàng có vốn để ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật nhằm thúc đẩy nhanh quá trình sản xuất và tái sản xuất mở rộng từ đó thúc đẩy nền kinh tế phát triển nhanh chóng. Thúc đẩy việc sử dụng vốn có hiệu quả Đặc trưng cơ bản của tín dụng là cho vay có hoàn trả và có lợi tức. Khi sử dụng vốn vay của ngân hàng, khách hàng phải tôn trọng mọi điều kiện ghi trong hợp đồng tín dụng, trả nợ vay đúng hạn cả gốc và lãi.
Do đó thúc đẩy khách hàng vay phải tìm mọi biện pháp tăng hiệu quả sử dụng vốn, giảm chi phí, tăng vòng quay vốn. để tạo điều kiện nâng cao doanh lợi. Muốn vậy khách hàng phải tự vươn lên thông qua các hoạt động của mình. Tạo điều kiện mở rộng và phát triển quan hệ kinh tế đối ngoại Tín dụng ngân hàng trở thành một trong những phương tiện nối liền kinh tế các nước với nhau bằng các hoạt động tín dụng quốc tế như các hình thức tín dụng giữa các 4 chính phủ, giữa các tổ chức cá nhân với chính phủ, giữa các cá nhân với cá nhân.Sự phát triển ngày càng tăng trong hoạt động ngoại thương và số thành viên tham dự hoạt động ngaỳ càng lớn làm cho nhu cầu về hoạt động tài chính càng trở nên cần thiết.
Vì vậy việc tạo điều kiện thuận lợi về tài chính là một công cụ cạnh tranh có hiệu quả bên cạnh các yếu tố cạnh tranh khác như giá cả, chất lượng sản phẩm, dịch vụ, thương mại. đã vượt ra khỏi phạm vi của một nước ra phạm vi của thế giới có tác dụng thúc đẩy nền sản xuất mang tính quốc tế hoá, hình thành thị trường khu vực và thị trường thế giới, tạo ra bước phát triển mới trong quan hệ hợp tác và cạnh tranh giữa các nước với nhau. Tổng quan về cho vay khách hàng cá nhân trong lĩnh vực nông nghiệp- nông thôn. Khái niệm cho vay khách hàng cá nhân trong lĩnh vực nông nghiệp nông thôn Cho vay là hoạt động truyền thống và quan trọng nhất của Ngân hàng thương mại.
Cho vay chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng tài sản, tạo thu nhập từ lãi lớn nhất và cũng là hoạt động có nhiều rủi ro nhất.Các ngân hàng thương mại có hai hình thức cho vay chính là cho vay khách hàng cá nhân và cho vay khách hàng doanh nghiệp.