Đặt vấn đề: Việt Nam là một trong những nƣớc đang phát triển, trong những năm gần đây nguồn ngân sách đầu tƣ cho việc đầu tƣ xây dựng giao thông đƣờng bộ là một bộ phận quan trọng trong hạ tầng kinh tế - xã hội nói chung và cơ sở hạ tầng giao thông nói riêng, do vậy phát triển cơ sở hạ tầng giao thông đƣờng bộ cần đƣợc ƣu tiên đầu tƣ nhằm tạo tiền đề phát triển kinh tế - xã hội, đáp ứng tiến trình hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế, góp phần bảo đảm quốc phòng, an ninh và phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa. Việt Nam đã nhận thức đƣợc rằng để có thể xây dựng cơ sở hạ tầng mà không phải tự tài trợ từ nguồn thu nhập hoặc tích lũy hạn hẹp của mình thì việc thu hút và sử dụng nguồn vốn của khu vực tƣ nhân và nƣớc ngoài là yêu cầu tất yếu. Do vậy, việc đầu tƣ theo phƣơng thức BOT để phát triển và nâng cấp hệ thống cơ sở hạ tầng vốn còn yếu kém nhằm hỗ trợ và rút ngắn quá trình Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa ở nƣớc ta. An Giang là tỉnh nằm ở phía Tây Nam Tổ quốc, nơi đầu nguồn sông Mê Kông, có sông Tiền và sông Hậu đi qua làm nên mùa nƣớc nổi hàng năm khi hiền hòa -khi dữ dội.
Phía Tây Bắc giáp Campuchia với gần 100 Km đƣờng biên giới, Tây Nam giáp Kiên Giang, Đông Nam giáp Cần Thơ, Đông Bắc Giáp giáp Đồng Tháp. An Giang có diện tích 3.536 Km2, dân số trên 2,2 triệu ngƣời, gồm các dân tộc Kinh, Hoa, Chăm, Khmer. Hệ thống đƣờng giao thông bộ khá thuận tiện. An Giang đầu tƣ xây dựng Cầu Vĩnh Lộc thuộc huyện An Phú, cầu Long Điền B – Kiến Thành, Chợ Mới – Tân Long thuộc huyện Chợ Mới, cầu Bình Thủy thuộc huyện Châu Phú đòi hỏi một lƣợng vốn lớn so với nguồn vốn ngân sách của tỉnh, đặc biệt trong giai đoạn triết giảm đầu tƣ công theo tinh thần Nghị quyết số 11 của Chính phủ [1].
Việc huy động vốn đầu tƣ từ trực tiếp của doanh nghiệp, các tổ chức tín dụng, các quỹ đầu tƣ tài chính, các thành phần kinh tế sẽ làm giảm bớt gánh nặng cho ngân sách nhà nƣớc, 14 tạo điều kiện cho việc phát triển vùng, đảm bảo an sinh xã hội. Vì vậy việc đầu tƣ xây dựng cầu Cầu Vĩnh Lộc, cầu cầu Long Điền B – Kiến Thành, cầu Chợ Mới – Tân Long, cầu Bình Thủy theo hình thức BOT là hoàn toàn hợp lý. Vì vậy, nghiên cứu về xác định và mô phỏng các yếu tố rủi ro trong hình thức PPP phát triển cơ sở hạ tầng giao thông đƣờng bộ Việt Nam nói chúng và tỉnh An Giang nói riêng hiện nay là cần thiết và cấp bách. Xuất phát từ những lý do trên, tác giả lựa chọn đề tài “Mô phỏng rủi ro đầu tƣ các dự án xây dựng theo hình thức đối tác công tƣ (PPP) ở An Giang” để nghiên cứu.
Tính cấp thiết của đề tài: 1. Về mặt lý luận: Đề tài muốn khảo sát và tìm hiểu về tài chính của các dự án cầu đƣờng bộ trên cơ sở hệ thống cơ sở lý luận về hình thức PPP, xác định và phân tích các yếu tố rủi ro trong hình thức PPP phát triển cơ sở hạ tầng giao thông đƣờng bộ (CSHT GTĐB). Về mặt thực tiễn: Nghiên cứu rủi ro tài chính các dự án nhằm xác định chính xác, đầy đủ và phân bổ các yếu tố rủi ro trong các dự án giao thông đƣờng bộ theo hình thức PPP ở Việt Nam. Từ đó, đƣa ra một số đề xuất giúp các bên đối tác kiểm soát một số yếu tố rủi ro cơ bản nhằm phát triển cơ sở hạ tầng giao thông đƣờng bộ (CSHT GTĐB) ở Việt Nam nói chung và ở An Giang nói riêng.
Mục tiêu nghiên cứu: 1. Mục tiêu tổng quát: Trên cơ sở hệ thống cơ sở lý luận về hình thức PPP, xác định thực trạng và mô phỏng các yếu tố rủi ro về tài chính, tiến độ thực hiện dự án trong hình thức PPP phát triển cơ sở hạ tầng giao thông đƣờng bộ ở Việt Nam. Luận án sử dụng phƣơng pháp nghiên cứu định tính, định lƣợng nhằm xác định chính xác và đầy đủ và mô phỏng các yếu tố rủi ro trong các dự án giao thông đƣờng bộ theo hình thức PPP ở An Giang. Từ đó, đƣa ra một số đề xuất giúp các bên đối tác kiểm soát một số yếu tố rủi ro cơ bản nhằm phát triển cơ sở hạ tầng giao thông đƣờng bộ ở An Giang.
Mục tiêu cụ thể: - Phân tích các yếu tố rủi ro đến hiệu quả thực hiện dự án công trình giao thông bằng hình thức đối tác PPP - Mô phỏng rủi ro về tài chính của các dự án trong công trình giao thông đƣờng bộ bằng mô phỏng Monte Carlo. - Đề xuất giải pháp ứng biến rủi ro của dự án xây dựng công trình giao thông theo hình thức PPP. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu: 1. Đối tƣợng nghiên cứu: Đề tài của luận văn đƣợc thực hiện mô phỏng các yếu tố rủi ro về tài chính các dự án cầu đƣờng bộ theo hình thức PPP đầu tƣ cho các công trình giao thông sử dụng vốn ngân sách trên địa bàn tỉnh.
Phạm vi nghiên cứu: - Phạm vi không gian: đề tài sẽ tiến hành nghiên cứu xác định và mô phỏng các yếu tố rủi ro tài chính trong các dự án giao thông đƣờng bộ theo hình thức PPP ở Việt Nam. - Phạm vi thời gian: thu thập tài liệu, số liệu nghiên cứu từ năm 2010 đến 2015 đối với hình thức PPP, xác định và phân bổ các yếu tố rủi ro trong các dự án giao thông đƣờng bộ theo hình thức PPP và kiến nghị cho An Giang trong giai đoạn từ 2016 đến 2020. Đặc biệt các dự án này xây dựng chiếm đa số tại tỉnh An Giang đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 [2]. - Tiêu chí đánh giá hiệu quả dự án trong nghiên cứu này chỉ xem xét về mặt tài chính bao gồm giá trị hiện tại (Net Present Value, NPV), suất thu lời nội tại (Interal Rate of Return, IRR), và thời gian hoàn vốn (Payback Period, PP).
Các tiêu chí đánh giá khác không đƣợc xem xét vì một số nguyên nhân nhất định. Đóng góp của đề tài: 1. Đóng góp về mặt học thuật: Kết quả của đề tài có thể làm cơ sở để cho thấy sự rủi về tài chính, cũng nhƣ 16 tiến độ thực hiện dự án. Giúp cho chủ đầu tƣ và nhà đầu tƣ có sự lựa chọn phƣơng thức đầu tƣ nhƣng đảm bảo tính công bằng có lợi cho đôi bên mà vẫn đảm bảo chất lƣợng của sản phẩm và tiến độ thực hiện các dự án đầu tƣ xây dựng công trình giao thông trên địa bàn tỉnh.
Đóng góp về mặt thực tiễn: Nghiên cứu để xác định đƣợc rủi ro về tài chính và tiến độ thực hiện dự án công trình giao thông đƣờng bộ đơn, phƣơng pháp lựa chọn phù hợp với từng loại công trình xây dựng giao thông đƣờng bộ trên địa bàn tỉnh An Giang. Từ đó giúp các bên liên quan thực hiện dự án, công trình có giải pháp hữu hiệu trong việc lực chọn các nhà đầu tƣ và nhà đầu tƣ cũng thấy đƣợc lợi nhuận trong thực hiện dự án, chất lƣợng và đảm bảo tiến độ xây dựng. Một ví dụ đơn giản của mô hình mô phỏng là của công ty RC. Quyết định đầu tƣ cây cầu Tấn Mỹ + Mỹ Luông – Huyện Chợ Mới, Tỉnh An Giang đƣợc mô tả bởi một loạt các phƣơng trình nhƣ sau: Chi đầu tƣ = 5.000 USD Doanh thu = 3.000 USD Tỷ số biến phí = 0,5.
Chi phí cố định = 50. Giá trị thu hồi = 3.000 USD Dòng tiền = Doanh thu (1- tỷ số biến phí) – Chi phí cố định NPV = Dòng tiền x PVFA5,10% + Giá trị thu hồi x PVF5,10% - Chi đầu tƣ Mô hình này có thể là dễ dàng khi sử dụng máy tính bởi chƣơng trình Excel hay những chƣơng trình tính toán khác. Việc thử nghiệm mô phỏng sau đó bao gồm thay đổi những giá trị nhập liệu (input) trong 5 phƣơng trình đầu tiên để xác định sự tác động của sự kết hợp đa dạng của những biến số đầu vào này đến giá trị NPV. Nếu bạn bắt đầu hoài nghi rằng chỉ có rất ít khác biệt giữa phân tích độ nhạy đơn giản và phân tích mô phỏng thì bạn đã hoàn toàn đúng.
Sự khác biệt là một trong những cách chính yếu để so sánh. Một mô hình mô phỏng, là một tập hợp của rất nhiều chƣơng trình trong máy tính có thể mô tả những tình huống rất phức tạp 17 và có thể sử dụng để kiểm tra sự tác động từ việc thay đổi rất nhiều biến số trong sự kết hợp với nhau. Tuy vậy, mô hình mô phỏng Monte Carlo thì hoàn toàn khác ở điểm xác suất thì kết hợp một cách trực tiếp trong mô hình mô phỏng. 18 Chƣơng 2: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2.
Khái niệm và phân loại Đầu tƣ phát triển cơ sở hạ tầng giao thông đƣờng bộ: 2. Khái niệm Đầu tƣ phát triển là bộ phận cơ bản của đầu tƣ, là việc chi dùng vốn trong hiện tại để tiến hành các hoạt động đầu tƣ nhằm làm tăng thêm hoặc tạo ra những tài sản vật chất và tài sản trí tuệ, gia tăng năng lực sản xuất, tạo thêm việc làm và vì mục tiêu phát triển [3]. Cơ sở hạ tầng là toàn bộ những quan hệ sản xuất hợp thành cơ cấu kinh tế của một xã hội, là tổ hợp các công trình vật chất, kĩ thuật đóng vai trò nền tảng cho các hoạt động kinh tế - xã hội. Cơ sở hạ tầng giao thông đƣờng bộ là toàn bộ cầu, đƣờng, các công trình trên đƣờng (công trình chiếu sáng, thoát nƣớc, các điểm trung chuyển hàng hóa, các điểm đầu cuối, .), hệ thống công nghệ và trang thiết bị quản lý đóng vai trò nền tảng cho các hoạt động kinh tế - xã hội.
Đầu tƣ phát triển cơ sở hạ tầng giao thông đƣờng bộ là hoạt động đầu tƣ nhằm xây mới, nâng cấp, cải tạo cầu, đƣờng, các công trình trên đƣờng, hệ thống công nghệ và trang thiết bị quản lý. Phân loại Gồm 4 căn cứ đƣợc sử dụng nhằm phân loại các hình thức đầu tƣ phát triển. Phân loại theo nguồn vốn (vốn trong nƣớc và nƣớc ngoài) [4], [5]. Đầu tư bằng nguồn vốn trong nước: Đầu tƣ phát triển bằng nguồn vốn trong nƣớc là các hoạt động đầu tƣ đƣợc tài trợ từ vốn của Nhà nƣớc, nguồn vốn từ đối tác tƣ nhân.