CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ. Các phương pháp đánh giá đầu tư. Các phương pháp đánh giá dự án. Phương pháp hoàn vốn.
Thời gian hoàn vốn đơn giản, PB Đây là khoảng thời gian kỳ vọng thu hồi vốn đầu tư ban đầu của dự án nhưng chưa tính đến chi phí sử dụng vốn. Quy tắc tính chỉ tiêu này bao gồm 2 bước. Trước hết, xác định dòng tiền tích lũy trên cơ sở dòng tiền kỳ vọng của dự án. Dòng tiền tích lũy trả lời câu hỏi: Tại mỗi thời điểm của dự án số vốn chưa thu hồi hoặc thu nhập ròng là bao nhiêu? Dòng tiền tích lũy được tính toán bằng cách cộng lũy kế các dòng tiền của dự án.
Công thức tính thời gian hoàn vốn PB đơn giản như sau: PB = + b. Thời gian hoàn vốn chiết khấu, PBck Đây là khoảng thời gian cần thiết không chỉ để thu hồi vốn đầu tư ban đầu mà còn trang trải cả chi phí huy động vốn WACC của dự án. Quy tắc tính chỉ tiêu này so với thời gian hoàn vốn đơn giản có thêm bước xác định dòng tiền chiết khấu. Dòng tiền chiết khấu trả lời câu hỏi: thu nhập hàng năm của dự án sau khi trang trải chi phí vốn sẽ còn lại bao nhiêu? Dòng tiền chiết khấu được tính toán bằng cách tính giá trị hiện tại của các dòng tiền của dự án về thời điểm ban đầu, dùng chi phí vốn WACC làm tỷ suất chiết khấu.
Sau đó, trên cơ sở dòng tiền chiết khấu, người ta xác định dòng tiền lũy kế, rồi từ đó tính thời gian hoàn vốn. Giá trị hiện tại ròng NPV (Net Present Value) a. Định nghĩa NPV. Giá trị hiện tại ròng NPV là một phương pháp đánh giá khả năng sinh lợi của dự án trên cơ sở kỹ thuật dòng tiền chiết khấu.
Phương pháp này bao gồm 3 bước chính sau: Tính giá trị hiện tại của tất cả dòng tiền của dự án, kể cả dòng tiền vào và dòng tiền ra, dùng chi phí vốn WACC của dự án làm tỷ suất chiết khấu. Tính tổng các giá trị hiện tại để có thể nhận được NPV của dự án. 11/115 TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI LUẬN VĂN THẠC SỸ Nhận định về NPV: Khi một dự án có NPV < 0, có nghĩa là nó không sản sinh đủ thu nhập để trang trải vốn đầu tư ban đầu và chi phí huy động vốn cho đầu tư đó. Khi một dự án có NPV = 0, có nghĩa là thu nhập của nó vửa đủ để thu hồi vốn đầu tư, và cho các nhà đầu tư được hưởng tỷ suất thu hồi yêu cầu của họ, tức là chi phí huy động vốn.
Khi dự án có NPV > 0 thì NPV là lãi ròng của dự án sau khi đã trang trải vốn đầu tư ban đầu và chi phí vốn huy động. Nếu 2 dự án loại trừ lẫn nhau, dự án nào có NPV lớn hơn thì dự án đó tốt hơn với điều kiện NPV mang dấu dương. Cach tinh Về mặt toán học, quá trình tính NPV được biểu diễn theo công thức (7-1) sau đây = CF0 + + + +…. + (7-1) = PF0 + CF1(PVIFk%,1) + CF2(PVIFk%,2) + … + CFn(PVIFk%,n) Trong công thức trên, CFt là dòng tiền kỳ vọng của dự án ở cuối năm thứ t và các dòng tiền này có thể mang dấu âm hoặc dương tùy thuộc là dòng tiền ra hay dòng tiền vào, còn không là chi phí vốn của dự án.
Tỷ suất sinh lợi nội tại, IRR( Internal Rate of Return) a. Định nghĩa IRR và cách tính. Để hiểu rõ bản chất của phương pháp IRR cần xem xét và trả lời câu hỏi sau: Nếu đầu tư 100 tỷ đồng vào dự án A và trong 3 năm tới lần lượt nhận được các khoản thu nhập hàng năm là 10, 60 và 80 tỷ đồng thì trong đầu tư này mỗi năm doanh nghiệp sẽ được hưởng một tỷ suất sinh lợi là bao nhiêu phần trăm? Tỷ suất sinh lợi đó được gọi là tỷ suất sinh lợi nội tại IRR của dự án A. Để xác định IRR chúng ta phải sử dụng nguyên tắc giá trị hiện tại: Giá trị của vốn đầu tư chính là giá trị hiện tại của tất cả các lợi ích tương lai mà đầu tư đó mang lại, được chiết khấu về thời điểm ban đầu với một tỷ suất chiết khấu chính là tỷ suất sinh lợi nội tại của dự án.
Nói cách khác, IRR thực chất là một tỷ suất chiết khấu sao cho giá trị hiện tại của các dòng tiền ra của dự án bằng với giá trị hiện tại của các dòng tiền vào của dự án. 12/115 TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI LUẬN VĂN THẠC SỸ Điều này cũng có nghĩa IRR là một tỷ suất chiết khấu sao cho NPV của dự án = 0 (bằng không). Phương pháp tính toán IRR có dạng như sau : = CF0 + + +…. Nhận xét chung về phương pháp IRR của dự án.
Phương pháp IRR cho biết khả năng sinh lợi của dự án tính bằng tỷ lệ phần trăm, vì vậy rất thuận tiện cho việc so sanhs các cơ hội đầu tư. Tiêu chí đánh giá dự án này rất quan trọng vì nếu tỷ suất sinh lợi nội tại lớn hơn chi phí huy động vốn thì sẽ xuất hiện một mức thặng dư nhất định sau khi đã hoàn thành trả vốn và chi phí vốn, hiển nhiên là phần thặng dư này sẽ thuộc về chủ đầu tư của dự án. Ngược lại, nếu IRR thấp hơn chi phí vốn, việc thực hiện dự án sẽ mang lại những tổn thất tài chính cho chủ đầu tư. Như vậy, IRR có thể coi là ngưỡng hóa vốn của dự án và do đó rất hữu ích cho việc đánh giá dự án.
Một vài đặc điểm khác và hạn chế của phương pháp IRR sẽ được làm rõ hơn ở phần đối chiếu hai phương pháp NPV và IRR. Ươc tính dòng tiền dự án. Các nguyên tắc xác định dòng tiền của dự án. Để đảm bảo tính hợp lý và độ chính xác cần thiết, việc xác định dòng tiền dự án phải tuân thủ một số nguyên tắc nhất định.
Các nguyên tắc này đảm bảo nhận dạng đúng dòng tiền liên quan (relavant cash flow) của dự án. Dòng tiền liên quan là những dòng tiền thuộc về dự án có ảnh hưởng và mối liên hệ trực tiếp hoặc gián tiếp đến thu nhập và chi phí của dự án. Trong quá trình lập dòng tiền dự án có rất nhiều thông tin hoặc tham số dường như thuộc về dự án nhưng trên thực tế lại không hề ảnh hưởng đến dự án đang xem xét. Nhận dạng và loại bỏ các thông tin như vậy là vô cùng cần thiết, tuy nhiên do nhiều nguyên nhân khác nhau công việc này không phải là đơn giản.
Hai nguyên tắc sau đây sẽ trợ giúp cho cán bộ lập dự án trong nhiệm vụ này: a. Nguyên tắc 1: Thu nhập của dự án phải là thu nhập tài chính, không phải là thu nhập kế toán vì những lý do sau: Thứ nhất, dòng tiền để đo độ “trung thực” hơn của lợi nhuận hoặc chi phí liên quan đến một dự án. Dòng tiền chính là thu nhập tài chính hàng năm của dự án mà chúng ta tìm 13/115 TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI LUẬN VĂN THẠC SỸ hiểu khi nghiên cứu báo cáo tài chính. Như đã biết, để thực hiện một dự án, doanh nghiệp phải mua và chi trả cho các tài sản và nguồn lực bằng tiền, khi đó họ phải chịu một chi phí cơ hội không thể dùng số tiền đó vào một phương án khác.
Vì vậy, để tương thích, doanh nghiệp cũng cần phải đo lường lợi nhuận ròng tương lai bằng tiền. Nếu như trong thực tiễn kế toán cũng trình bày các giao dịch bằng tiền thì sẽ không có vấn đề gì xảy ra. Nhưng các quy tắc kế toán lại quan tâm đến việc phân bổ chi phi đầu tư suốt đời sống kinh tế hữu ích chứ không phải là thời điểm chúng xuất hiện. Điều này làm cho số liệu kế toán không phản ánh đúng “độ lớn thực tế” của dòng tiền vào hoặc dòng tiền ra tại những thời điểm khác nhau trong suốt đời sống của dự án.
Thứ hai, dùng dòng tiền có thể tránh được tình trạng lưỡng ý về mặt ké toán. Chúng ta biết rằng, trên thực tế có nhiều cách xác định giá trị hàng tồn kho, phân bổ chi phí chung, chọn phương pháp khấu hao để tính toán chi phái và thu nhập. Tất cả các phương pháp này đều chỉ được thể hiện nếu tuân thủ các quy tắc thực hành kế toán được chấp nhận rộng rãi. Như vậy, với cùng một dự án có thể có các số liệu thu nhập kế toán khác nhau tùy thuộc vào việc quy tắc kế toán nào được áp dụng.
trong khi đó, người ta chỉ có thể có một bộ số liệu duy nhất về các dòng tiền của dự án. Doanh nghiệp bỏ tiền ra để đầu tư và chỉ nhận được một dòng tiền tương lai duy nhất, koong có tình trạng lưỡng ý trong các dòng tiền. Nguyên tắc 2: Dòng tiền tăng thêm. Khi đánh giá dự án, chúng ta chỉ quan tâm đến các dòng tiền nảy sinh trực tiếp từ quyết định chấp nhận dự án.
Những dòng tiền này, được gọi là dòng tiền tăng thêm (incremental cash flow) , biểu thị những thay đổi (hoặc chênh lệch) của dòng tiền tổng của doanh nghiệp, xuất hiện như là kết quả trực tiếp của việc lựa chọn dự án. Các vấn đề sau đây cần được lưu ý khi xác định dòng tiền tăng thêm. - Chi phí chìm (sink cost): Chi phí chìm là những chi phí đã được cam kết và thực hiện, do đó nó không còn chịu ảnh hưởng của việc chấp nhận hay loại bỏ dự án. Chẳng hạn, chi phí khảo sát địa điểm đặt nhà máy mới được thực hiện từ trước, chi phí sửa chữa nhà xưởng từ năm ngoái trước khi dự án được cân nhắc đặt tại khu vực có thể không liên quan vì đây là những chi phí đã bỏ ra và không thể thu hồi lại được.
Nhiều khi trong thực tế, nếu tính đến chi phí như vậy, một dự án có thể không đáng giá vì NPV âm. Tuy nhiên, nếu tuân thủ nguyên tắc dòng tiền tăng thêm thì dự án lại hoàn toàn có thể đáng giá 14/115 TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI LUẬN VĂN THẠC SỸ - Chi phí cơ hội (Opportunity costs): Trên thực tế, doanh nghiệp có thể có những tài sản có thể sinh lợi ngay cả khi không sử dụng cho dự án đang được xem xét. Nếu sử dụng các tài sản như vậy thì chi phí cơ hội cần được lưu ý. Chẳng hạn, doanh nghiệp sở hữu một diện tích đất thích hợp cho việc mở văn phòng chi nhánh mới.