Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ chuyên ngành Quản lý giáo dục (mã số: 62140501) với đề tài "Nghiên cứu mô hình trường Cao đẳng cộng đồng đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương ở Việt Nam" được nghiên cứu sinh Nguyễn Huy Vị thực hiện tại Trường Đại học Giáo dục – Đại học Quốc gia Hà Nội, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Đặng Xuân Hải, hoàn thành vào tháng 9 năm 2009.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Mô hình trường Cao đẳng cộng đồng (CĐCĐ – Community College) xuất hiện đầu tiên tại Hoa Kỳ vào năm 1901 với trường Joliet Junior College tại bang Illinois, khởi đầu cho quá trình dịch chuyển từ mô hình giáo dục đại học (GDĐH) tinh hoa sang GDĐH đại chúng. Tại Việt Nam, quá trình đổi mới kinh tế - xã hội (KT-XH) theo tinh thần Nghị quyết Đại hội VI của Đảng đòi hỏi nguồn nhân lực tại chỗ có kỹ thuật và kỹ năng thực hành phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH). Chủ trương phát triển CĐCĐ đã được khẳng định tại Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa VIII (12/1996), Quyết định số 47/2001/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về Quy hoạch mạng lưới trường ĐH, CĐ giai đoạn 2001–2010, và Kết luận Hội nghị Trung ương 6 Khóa IX.
Tuy nhiên, việc nghiên cứu và triển khai mô hình CĐCĐ tại Việt Nam bộc lộ nhiều khoảng trống:
- Các nghiên cứu trước đó của Bộ Giáo dục và Đào tạo (Bộ GD&ĐT) và Viện Nghiên cứu Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp (NCĐH&GDCN) chủ yếu dừng ở mức nghiên cứu lý thuyết, tư biện hoặc xây dựng đề án thử nghiệm ban đầu;
- Chưa có công trình làm rõ cấu trúc tổ chức và cơ chế quản lý thích ứng với điều kiện KT-XH đặc thù của các địa phương;
- Cơ chế tự-liên thông bên trong trường CĐCĐ và cơ chế chuyển tiếp sinh viên chương trình Khoa học cơ bản đại cương (KHCBĐC) lên các trường đại học 4 năm chưa được xác lập đồng bộ;
- Thiếu các phương án giải quyết mối quan hệ tương tác, chồng chéo giữa trường CĐCĐ với hệ thống trường Cao đẳng sư phạm (CĐSP) địa phương và các cơ sở giáo dục chuyên nghiệp (GDCN) hiện hữu;
- Khung pháp lý cho CĐCĐ vẫn dừng lại ở Quy chế tạm thời (Quyết định số 37/2000/QĐ-BGD&ĐT ngày 29/8/2000).
Mục tiêu và câu hỏi/giả thuyết nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu: Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của mô hình trường CĐCĐ trên thế giới và ở Việt Nam, nhằm hoàn thiện việc áp dụng và tiếp tục phát triển mô hình này tại các địa phương có điều kiện KT-XH còn khó khăn ở Việt Nam.
- Câu hỏi nghiên cứu lý luận:
- Phải chăng mô hình trường CĐCĐ ngày nay đã trở thành một giải pháp tích cực để thực hiện triết lý GDĐH đại chúng, đồng thời là tài sản văn minh chung mang tính nhân văn, dân chủ của nền GDĐH thế giới?
- Triết lý, sứ mệnh, mục tiêu và nội dung hoạt động đào tạo, nghiên cứu khoa học cũng như những đặc trưng chủ yếu của mô hình trường CĐCĐ phổ biến hiện nay là gì?
- Mô hình trường CĐCĐ có phải là giải pháp tối ưu đối với sự phát triển GDCN nói riêng và xây dựng nền GDĐH đại chúng nói chung đối với các địa phương ở Việt Nam?
- Áp dụng mô hình trường CĐCĐ như thế nào là thích hợp để đáp ứng nhu cầu phát triển KT-XH các địa phương ở Việt Nam?
- Các trường ĐH địa phương ở các tỉnh của Việt Nam hiện nay đang thực hiện các chức năng của trường CĐCĐ như thế nào?
- Các vấn đề nghiên cứu thực tiễn:
- Tính chất cộng đồng trong hệ thống giáo dục quốc dân (GDQD) nước ta đã tồn tại như thế nào trước và sau khi hệ thống các trường CĐCĐ được thiết lập trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế?
- Khi áp dụng mô hình trường CĐCĐ vào mỗi địa phương thì giải quyết mối quan hệ giữa trường CĐCĐ, trường CĐSP và các cơ sở GDCN khác của địa phương như thế nào là tối ưu?
- Có thể chuyển đổi các trường CĐSP địa phương thành các trường CĐCĐ, từ đó nâng cấp thành các trường đại học đa ngành, đa cấp thuộc địa phương hay không?
- Giả thuyết khoa học: Mô hình trường CĐCĐ đã được áp dụng ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển KT-XH địa phương. Song mô hình này hiện còn nhiều bất cập. Nếu xây dựng được các giải pháp hữu hiệu và khả thi, đảm bảo cơ sở lý luận và sát thực tiễn, thì loại hình trường này sẽ góp phần tích cực phát triển nguồn nhân lực địa phương và hiện thực hóa mục tiêu GDĐH đại chúng ở Việt Nam.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu: Hệ thống các cơ sở GDĐH ở địa phương gồm các trường CĐCĐ, trường CĐSP, trường ĐH thuộc địa phương.
- Đối tượng nghiên cứu: Cơ cấu tổ chức, quản lý và cơ chế hoạt động của trường CĐCĐ và trường có chức năng CĐCĐ trong môi trường KT-XH của các địa phương ở Việt Nam.
- Phạm vi giới hạn:
- Về lý luận: Tổng kết lý luận về các con đường hình thành, mô hình tổ chức và hoạt động của trường CĐCĐ; không đi sâu vào quản lý quá trình đào tạo chi tiết.
- Về thực tiễn: Khảo sát thực tế tại 9 cơ sở giáo dục ở cả ba miền: CĐCĐ Hải Phòng, CĐCĐ Quảng Ngãi, CĐSP Quảng Ngãi, CĐCĐ Tiền Giang, CĐSP Tiền Giang, ĐH Tiền Giang, CĐSP Phú Yên, ĐH Phú Yên, CĐCĐ Bình Thuận.
- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 12/2004 đến tháng 12/2008.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu quốc tế
Lịch sử nghiên cứu về CĐCĐ trên thế giới gắn liền với sự phát triển của hệ thống giáo dục đại học Hoa Kỳ và các quốc gia phát triển qua hơn một thế kỷ:
- Giai đoạn thập niên 1930: Các công trình nền tảng về tổ chức và chức năng trường cao đẳng 2 năm của Carnegie Foundation for the Advancement of Teaching với "State Higher Education in California" (1932) do Hội đồng Commission of Seven (Henry Suzello chủ trì) biên soạn; công trình "The Junior College" của Walter C. Eells (1931).
- Giai đoạn thập niên 1960–1970: Nghiên cứu tổng quan sự phát triển bùng nổ của CĐCĐ có công trình "The Community College" của James W. Thornton và "Profile of the Community College" của Charles R. Monroe.
- Giai đoạn thập niên 1980–1990: Các tranh luận học thuật về mục tiêu nghề nghiệp và chức năng chuyển tiếp đại học (collegiate function / transfer) được phân tích bởi Arthur M. Cohen và Florence B. Brawer qua các tác phẩm: "The Two-year College Instructor Today" (1977), "The Collegiate Function of Community College: Fostering Higher Learning Through Curriculum and Student Transfer" (1987), "Strengthening Collegiate Education in Community Colleges" (1994), và "The American Community Colleges" (1996).
- Mô hình tại các quốc gia khác: Hệ thống Viện Đại học Công nghệ (IUT) tại Pháp từ năm 1966, được Hội đồng các Giám đốc IUT (ADIUT) đánh giá qua ấn phẩm "40 ans (1966-2006) IUT-L'Expérience. Quatrième enquête nationale sur le devenir des diplômés de DUT – Les diplômés 2004" (2007). Nghiên cứu mô hình tương đương tại hơn 20 quốc gia: Canada (CAAT, CEGEP), CHLB Đức (Fachhochschule, Volkshochschule), Australia (College of Advanced Education, College of Further Education), Nhật Bản (Tanki-daigaku), Trung Quốc (Two-year Vocational University, Workers College), Thái Lan...
Các hướng nghiên cứu tại Việt Nam
- Giai đoạn trước 1975 tại miền Nam: Sự hình thành Viện ĐH cộng đồng Tiền Giang (1971 tại Mỹ Tho) và Viện ĐH cộng đồng Duyên hải Nha Trang (1972). Năm 1996, Nguyễn Văn Thùy và Trần Ngọc Lợi xuất bản cuốn "Đại học cộng đồng Hoa Kỳ", phân tích quá trình hình thành, chức năng đặc trưng của CĐCĐ Hoa Kỳ và khuyến nghị kinh nghiệm áp dụng.
- Giai đoạn Đổi mới từ thập niên 1990: Viện NCĐH&GDCN thuộc Bộ GD&ĐT chủ trì đề tài "Dự án nghiên cứu thiết lập mô hình trường đại học cộng đồng trong điều kiện KT-XH Việt Nam" (1995) do Đặng Bá Lãm làm chủ nhiệm, cùng các nghiên cứu của Lê Đông Phương, Phạm Quang Sáng, Đặng Văn Định, Nguyễn Việt Hùng, Trần Khánh Đức, Mai Văn Tỉnh, Đặng Xuân Hải.
- Giai đoạn từ năm 2001: Các nghiên cứu ứng dụng mô hình CĐCĐ cho khu vực Đồng bằng sông Cửu Long của Trần Phước Đường, Lê Quang Minh, Phạm Hữu Ngãi, Ngô Tấn Lực, Phan Văn Nhẫn.
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Luận án kế thừa các kết quả nghiên cứu trước để tập trung giải quyết những nội dung chưa được hoàn thiện:
- Xác lập cơ sở lý luận về cấu trúc tổ chức và cơ chế quản lý thích ứng của CĐCĐ trong môi trường quản lý phân cấp cho chính quyền địa phương tại Việt Nam;
- Xây dựng quy trình và cơ chế đào tạo chuyển tiếp/liên thông giữa CĐCĐ với các trường đại học 4 năm;
- Giải quyết mâu thuẫn về chức năng đào tạo giữa CĐCĐ và CĐSP địa phương;
- Luận giải bản chất trường ĐH địa phương như một dạng nhà trường cộng đồng cấp đại học và thiết kế mô hình đào tạo "tự-liên thông" bên trong trường ĐH địa phương.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
- Khái niệm Mô hình và Mô hình trong giáo dục: Luận án tiếp cận khái niệm mô hình từ góc độ triết học và thuật ngữ khoa học (Đặng Bá Lãm). Trong giáo dục, mô hình thuộc dạng mô hình nhận thức (conceptive model) về cơ cấu tổ chức và cơ chế hoạt động đào tạo.
| Kiểu phương pháp xây dựng mô hình GD |
Đặc điểm kỹ thuật |
Mức độ khách quan |
Chi phí thực hiện |
| Phương pháp nội quan |
Chuyên gia tự đề xuất mô hình dựa trên tri thức, kinh nghiệm và tài liệu |
Tính chủ quan cao |
Chi phí thấp nhất |
| Phương pháp chuyên gia |
Nhóm chuyên gia cùng phân tích và xây dựng mô hình |
Tính khách quan trung bình |
Chi phí trung bình |
| Phương pháp phân tích |
Phối hợp giữa nhóm chuyên gia nội dung và nhóm chuyên gia phương pháp theo quy trình thiết kế |
Tính khách quan khá cao |
Chi phí cao hơn chuyên gia |
| Phương pháp quan sát khách quan |
Quan trắc trực tiếp đối tượng nghiên cứu trong thời gian đủ dài |
Tính khách quan cao nhất |
Chi phí cao nhất |
- Khái niệm Cộng đồng và Giáo dục cộng đồng: Tiếp cận theo định nghĩa của Từ điển Bách khoa Việt Nam, Từ điển Hachette, Random House, Webster, UNESCO và các công trình của Đặng Xuân Hải, Đặng Quốc Bảo. Giáo dục cộng đồng (GDCĐ) hướng tới việc đáp ứng nhu cầu học tập suốt đời, lấy phương thức dạy kỹ năng sống và giải quyết chủ đề thực tiễn làm trọng tâm.
- Khái niệm Trường Cao đẳng cộng đồng: Xem xét sự chuyển biến từ Junior College sang Community College trên thế giới và chuẩn hóa khái niệm theo quy định pháp lý của Việt Nam (Quy chế tạm thời theo Quyết định 37/2000/QĐ-BGD&ĐT và dự thảo Quy chế sửa đổi năm 2005).
- Khung phân tích mục tiêu giáo dục: Vận dụng quan điểm biện chứng về sự dịch chuyển sang GDĐH đại chúng; Chiến lược phát triển giáo dục 2001–2010; Bốn trụ cột giáo dục thế kỷ XXI của UNESCO ("Học để biết; Học để làm; Học để chung sống; Học để làm người").
Phương pháp nghiên cứu
Luận án phối hợp đồng bộ các phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Thu thập, phân tích và tổng hợp các văn kiện của Đảng, Nhà nước, Bộ GD&ĐT, các công trình học thuật trong và ngoài nước;
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: Đúc kết quá trình vận hành CĐCĐ tại Hoa Kỳ, các nước phát triển và 9 trường CĐCĐ thí điểm ở Việt Nam;
- Phương pháp phỏng vấn: Sử dụng phiếu hỏi (bảng hỏi anket) và đàm thoại trực tiếp đối với cán bộ quản lý, giảng viên, sinh viên và đại diện cộng đồng;
- Phương pháp quan sát: Đối chiếu thông tin phỏng vấn với tình hình hoạt động thực tế tại các cơ sở giáo dục;
- Phương pháp chuyên gia: Tham vấn các nhà quản lý, nhà nghiên cứu giáo dục trong việc xác định mô hình và đánh giá giải pháp;
- Phương pháp xử lý số liệu: Ứng dụng các phần mềm thống kê toán học để xử lý và biểu diễn số liệu điều tra.
Nguồn tư liệu và dữ liệu
- Văn bản pháp quy: Nghị quyết Trung ương 2 Khóa VIII, Quyết định 47/2001/QĐ-TTg, Kết luận Trung ương 6 Khóa IX, Tờ trình số 8195/ĐH (1996), Quyết định số 37/2000/QĐ-BGD&ĐT, Quyết định số 09/2008/QĐ-BGDĐT;
- Dữ liệu thống kê quốc tế: Thống kê của Bộ Giáo dục Hoa Kỳ (NCES), tư liệu Hiệp hội CĐCĐ Hoa Kỳ (AACC), số liệu của Hiệp hội ADIUT Pháp;
- Dữ liệu khảo sát thực tế: Số liệu tuyển sinh, cơ cấu ngành nghề, đội ngũ và tổ chức bộ máy giai đoạn 2002–2007 của 9 trường CĐCĐ đầu tiên tại Việt Nam và các trường CĐSP, ĐH địa phương tại Hải Phòng, Hà Tây, Quảng Ngãi, Tiền Giang, Bình Thuận, Phú Yên.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lý luận của mô hình trường Cao Đẳng Cộng Đồng
Chương 1 tập trung hệ thống hóa quá trình phát triển, triết lý và các thành tố cấu thành mô hình CĐCĐ trên thế giới:
- Lịch sử hình thành tại Hoa Kỳ: Khởi đầu từ sáng kiến của William Rainey Harper năm 1896 tại Viện ĐH Chicago (tách 2 năm đầu thành Junior College với bằng Associate Degree), dẫn đến sự ra đời của Joliet Junior College (1901).
- Các mốc phát triển chính tại Hoa Kỳ:
- Giai đoạn 1910–1928: Thành lập Hiệp hội AAJC năm 1920; số trường CĐ 2 năm tăng nhanh.
- Giai đoạn 1930–1940: Bùng nổ tại bang California giải quyết mâu thuẫn giữa GDĐH tinh hoa và nhu cầu nhân lực sản xuất; Báo cáo Suzello (1932) đề xuất tên gọi Community College.
- Giai đoạn 1946–1970: Báo cáo của Hội đồng Tổng thống Harry S. Truman (1947) khẳng định GDĐH đại chúng; Đạo luật GDĐH 1965 và Đạo luật GD người lớn tổng quát 1966.
- Năm 1990: Hiệp hội AACJC chính thức đổi tên thành Hiệp hội các trường CĐCĐ Hoa Kỳ (AACC).
| Năm |
Tổng số trường CĐ 2 năm tại Hoa Kỳ |
Số sinh viên CĐ 2 năm tại Hoa Kỳ |
| 1910 |
3 |
– |
| 1918 |
46 |
4.418 |
| 1930 |
277 |
55.301 |
| 1940 |
456 |
149.854 |
| 1980 |
Tuyển sinh CĐCĐ: 1.000.000 |
Tỷ lệ vào CĐCĐ: 49,2% |
- Kinh nghiệm quốc tế: Luận án phân tích mô hình tại Canada (CAAT, CEGEP), Pháp (hệ thống 115 IUT với bằng DUT 2 năm), CHLB Đức (Fachhochschule), Australia, CHLB Nga, Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc và Thái Lan (phân tích sơ đồ quản lý vĩ mô và vi mô).
- 7 đặc trưng cốt lõi của mô hình CĐCĐ:
- Vị trí và cơ chế quản lý: Cơ sở giáo dục gắn chặt với chính quyền địa phương, chịu sự điều tiết của cộng đồng;
- Sứ mệnh: Thực hiện GDĐH đại chúng, phục vụ bình đẳng cơ hội học tập cho mọi người dân;
- Chương trình đào tạo: Đa cấp, đa ngành, tích hợp giữa đào tạo nghề nghiệp ngắn hạn và chương trình chuyển tiếp (transfer) 2 năm đầu lên ĐH 4 năm;
- Người học: Đối tượng tuyển sinh mở rộng, linh hoạt, phục vụ mọi lứa tuổi và trình độ;
- Người dạy: Giảng viên chú trọng kỹ năng thực hành nghề nghiệp và gắn kết thực tiễn địa phương;
- Cơ cấu tổ chức: Bộ máy linh hoạt, có hội đồng tư vấn cộng đồng kết nối doanh nghiệp;
- Cơ sở vật chất – tài chính: Kết hợp ngân sách nhà nước, đóng góp địa phương, học phí và tài trợ từ doanh nghiệp.
Chương 2: Các mô hình trường Cao đẳng cộng đồng đã hình thành ở Việt Nam
Chương 2 phân tích thực trạng các mô hình trường CĐCĐ tại Việt Nam qua các thời kỳ:
- Tiền thân trước năm 1975: Hoạt động của Viện ĐH cộng đồng Tiền Giang (1971) và Viện ĐH cộng đồng Duyên hải Nha Trang (1972) tại miền Nam.
- Giai đoạn Đổi mới: Kết quả Dự án nghiên cứu của Viện NCĐH&GDCN do ADB tài trợ (đề xuất thí điểm 5 trường tại Hải Phòng, Hà Tây, Thanh Hóa, Phú Yên, Đồng Tháp); quá trình hình thành hệ thống 9 trường CĐCĐ đầu tiên (Hải Phòng, Hà Tây, Quảng Ngãi, Bà Rịa - Vũng Tàu, Tiền Giang, Đồng Tháp, Trà Vinh, Vĩnh Long, Kiên Giang).
- Thực trạng và bất cập trong tổ chức, hoạt động:
- Khảo sát cơ cấu đào tạo cho thấy các trường CĐSP địa phương có xu hướng mở rộng đào tạo ngoài sư phạm để bù đắp chỉ tiêu khi nhu cầu giáo viên giảm;
- Tồn tại sự cạnh tranh, phân tán nguồn lực giữa trường CĐSP và trường CĐCĐ trên cùng một địa bàn tỉnh;
- Chỉ tiêu tuyển sinh cao đẳng chính quy tại các trường CĐCĐ từ 2002 đến 2007 có sự tăng trưởng nhưng chưa ổn định;
- Cơ chế đào tạo liên thông và chuyển tiếp còn thiếu hành lang pháp lý đồng bộ; cơ sở vật chất và đội ngũ giảng viên chưa đáp ứng yêu cầu đào tạo kỹ thuật thực hành.
- Vị trí của Trường Đại học địa phương: Luận án chứng minh trường ĐH địa phương là một dạng nhà trường cộng đồng ở bậc đại học, có sứ mệnh và chức năng bao hàm toàn bộ chức năng của trường CĐCĐ.
Chương 3: Hoàn thiện và phát triển mô hình trường Cao Đẳng cộng đồng ở Việt Nam
Chương 3 đề xuất hệ thống nguyên tắc, giải pháp và kết quả thử nghiệm thực tế:
- 4 nguyên tắc hoàn thiện và phát triển: Nguyên tắc kế thừa; Nguyên tắc thực tiễn; Nguyên tắc chất lượng và hiệu quả; Nguyên tắc bền vững.
- Hai nhóm giải pháp cụ thể:
NHÓM 1: Hoàn thiện mô hình CĐCĐ trong hệ thống GDQD
NHÓM 2: Phát triển chức năng CĐCĐ ở các trường ĐH địa phương
- Thử nghiệm giải pháp tại 2 cơ sở thực tế:
- Trường CĐCĐ Bình Thuận: Thử nghiệm phương án cải tiến cơ cấu tổ chức bộ máy, cơ chế quản lý và định hướng phát triển đào tạo theo hướng CĐCĐ có thực hiện một phần chức năng đào tạo đại học (được chuyên gia đánh giá cao về tính khả thi).
- Trường ĐH Phú Yên: Thử nghiệm phát huy các chức năng CĐCĐ và áp dụng mô hình đào tạo tự-liên thông nội bộ từ trình độ cao đẳng lên đại học.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt lý luận
- Làm sáng tỏ bản chất, triết lý và nội dung hoạt động của trường CĐCĐ trong mối tương quan so sánh với các loại hình trường cao đẳng chuyên ngành truyền thống;
- Khái quát hóa các đặc trưng phổ quát của mô hình CĐCĐ trên thế giới, từ đó xác lập cơ sở khoa học để vận dụng vào bối cảnh KT-XH của các địa phương tại Việt Nam;
- Luận giải khoa học về mô hình trường ĐH địa phương như một dạng thiết chế nhà trường cộng đồng cấp đại học, làm cơ sở lý luận cho việc tích hợp chức năng CĐCĐ vào trường ĐH địa phương.
Đóng góp mới về mặt thực tiễn
- Xây dựng hệ thống 7 giải pháp đồng bộ hoàn thiện mô hình trường CĐCĐ với tư cách là một loại hình cơ sở giáo dục chính thức trong hệ thống GDQD Việt Nam;
- Thiết kế hoàn chỉnh mô hình đào tạo chuyển tiếp và liên thông giữa cấp học CĐCĐ và bậc đại học 4 năm;
- Thiết kế và triển khai mô hình đào tạo "tự-liên thông" (self-transfer) bên trong trường ĐH địa phương;
- Triển khai thử nghiệm thành công phương án cải tiến cơ cấu tổ chức tại Trường CĐCĐ Bình Thuận và mô hình tự-liên thông tại Trường ĐH Phú Yên, cung cấp căn cứ thực chứng cho việc hoạch định chính sách giáo dục địa phương.
Kiến nghị và giải pháp đề xuất
- Đối với Chính phủ và Bộ GD&ĐT: Cần sớm ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động chính thức của trường CĐCĐ thay thế Quy chế tạm thời năm 2000; hoàn thiện hành lang pháp lý cho cơ chế liên thông, chuyển tiếp tín chỉ giữa CĐCĐ và các trường ĐH; có chính sách quy hoạch hợp nhất hoặc chuyển đổi các trường CĐSP địa phương thành trường CĐCĐ hoặc sáp nhập vào trường ĐH địa phương.
- Đối với Ủy ban nhân dân các tỉnh/thành phố: Tăng cường phân cấp quản lý, đầu tư nguồn lực cơ sở vật chất, đặt hàng đào tạo nhân lực trực tiếp phục vụ các quy hoạch phát triển KT-XH địa phương.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế của luận án:
- Luận án tập trung giải quyết bài toán ở cấp độ vĩ mô và trung mô về mô hình tổ chức, cơ chế quản lý và mô hình liên thông đào tạo; chưa đi sâu nghiên cứu chi tiết công tác quản lý quá trình dạy học, phương pháp kiểm tra đánh giá chi tiết cho từng chuyên ngành đào tạo cụ thể;
- Phạm vi khảo sát thực nghiệm tập trung chủ yếu tại một số địa bàn đại diện (Hải Phòng, Hà Tây, Quảng Ngãi, Bình Thuận, Phú Yên, Tiền Giang), chưa bao quát toàn bộ các tỉnh miền núi phía Bắc và Tây Nguyên.
- Hướng nghiên cứu tiếp:
- Nghiên cứu cơ chế tài chính tự chủ và chính sách xã hội hóa nguồn lực cho trường CĐCĐ trong điều kiện đổi mới quản lý dịch vụ công;
- Xây dựng bộ tiêu chuẩn kiểm định chất lượng giáo dục đặc thù dành riêng cho loại hình trường CĐCĐ tại Việt Nam;
- Nghiên cứu giải pháp chuyển đổi toàn diện hệ thống các trường CĐSP còn lại trên phạm vi cả nước.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo khoa học có giá trị đối với các nhóm đối tượng:
- Cơ quan quản lý nhà nước (Bộ GD&ĐT, Sở GD&ĐT, UBND các tỉnh): Sử dụng các luận cứ khoa học và giải pháp quy hoạch mạng lưới trường cao đẳng, đại học địa phương; xây dựng chính sách liên thông giáo dục và chuyển đổi cơ cấu hệ thống các trường CĐSP;
- Lãnh đạo và cán bộ quản lý các trường CĐCĐ, CĐSP, ĐH địa phương: Tham khảo khung cơ cấu tổ chức bộ máy, quy trình thiết kế chương trình đào tạo chuyển tiếp và mô hình đào tạo tự-liên thông đã được thử nghiệm tại Bình Thuận và Phú Yên;
- Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học chuyên ngành Quản lý giáo dục: Tham khảo phương pháp luận ứng dụng phương pháp mô hình hóa trong khoa học giáo dục, hệ thống dữ liệu lịch sử và tổng quan quốc tế về hệ thống giáo dục cộng đồng.
Câu hỏi thường gặp
1. Trường Cao đẳng cộng đồng ra đời đầu tiên ở đâu và do ai khởi xướng ý tưởng?
Trường CĐCĐ xuất hiện sớm nhất là Joliet Junior College tại bang Illinois, Hoa Kỳ vào năm 1901. Ý tưởng nền tảng bắt nguồn từ đề xuất cải cách đại học năm 1896 của William Rainey Harper (Viện trưởng Viện ĐH Chicago), khi ông chủ trương tách 2 năm đầu của chương trình đại học 4 năm ra khỏi viện đại học để giao cho trường cấp dưới đảm nhiệm và cấp văn bằng Associate Degree (Bằng đại cương).
2. Giai đoạn đầu Đổi mới, dự án nghiên cứu nào của Bộ GD&ĐT đã đặt nền móng thử nghiệm CĐCĐ tại Việt Nam?
Đó là "Dự án nghiên cứu thiết lập mô hình trường đại học cộng đồng trong điều kiện KT-XH Việt Nam" do Viện Nghiên cứu ĐH&GDCN thực hiện dưới sự tài trợ của Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) vào năm 1995, do Đặng Bá Lãm làm chủ nhiệm. Dự án đã khảo sát tiền khả thi và đề xuất thành lập thí điểm 5 trường đầu tiên tại Hải Phòng, Hà Tây, Thanh Hóa, Phú Yên và Đồng Tháp.
3. Luận án chỉ ra mô hình CĐCĐ có thể giải quyết 5 vấn đề bất cập nào của giáo dục đại học và chuyên nghiệp Việt Nam?
- Vấn đề liên thông và chuyển tiếp đào tạo giữa cấp cao đẳng 2–3 năm lên cấp cử nhân đại học 4 năm;
- Tình trạng mất cân đối trong phân luồng ngành nghề giữa khuynh hướng hàn lâm ("dạy và học Chữ") và hướng thực hành nghề nghiệp ("dạy và học Nghề");
- Vấn đề phân luồng học sinh sau tốt nghiệp THCS và THPT;
- Nhu cầu phát triển giáo dục cộng đồng và xây dựng xã hội học tập tại các địa phương;
- Tình trạng bế tắc hoạt động của hệ thống các trường CĐSP địa phương trước xu hướng nhu cầu đào tạo giáo viên sụt giảm.
4. Hai cơ sở giáo dục nào được lựa chọn để tiến hành thử nghiệm các giải pháp của luận án?
Luận án tiến hành thử nghiệm giải pháp tại hai đơn vị:
- Trường CĐCĐ Bình Thuận: Thử nghiệm phương án hoàn thiện cơ cấu bộ máy, cơ chế quản lý và định hướng phát triển đào tạo CĐCĐ có thực hiện một phần chức năng đào tạo đại học;
- Trường ĐH Phú Yên: Thử nghiệm giải pháp phát huy các chức năng CĐCĐ bên trong trường đại học địa phương và áp dụng mô hình đào tạo tự-liên thông.
5. Mô hình đào tạo "tự-liên thông" được luận án đề xuất áp dụng cho loại hình trường nào?
Mô hình đào tạo tự-liên thông (self-transfer) được đề xuất áp dụng bên trong các trường Đại học địa phương. Theo mô hình này, trường ĐH địa phương tích hợp chức năng của CĐCĐ để đào tạo các chương trình nghề nghiệp, trung cấp, cao đẳng và cho phép người học tích lũy tín chỉ chuyển tiếp trực tiếp lên trình độ đại học ngay trong nội bộ nhà trường.
Kết luận
Luận án của nghiên cứu sinh Nguyễn Huy Vị đã hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về mô hình trường Cao đẳng cộng đồng trên thế giới và tại Việt Nam, khẳng định vai trò của loại hình trường này trong tiến trình đại chúng hóa giáo dục đại học. Công trình đã phân tích toàn diện thực trạng mạng lưới giáo dục chuyên nghiệp địa phương, xác lập vị trí của trường đại học địa phương gắn với chức năng cộng đồng, đồng thời đề xuất hệ thống giải pháp tổ chức bộ máy và mô hình đào tạo liên thông có giá trị thực tiễn. Kết quả thử nghiệm tại Bình Thuận và Phú Yên đã chứng minh tính khả thi của các đề xuất, đóng góp luận cứ khoa học quan trọng cho công tác quản lý và quy hoạch mạng lưới giáo dục đại học Việt Nam trong thời kỳ hội nhập.