Tổng quan luận án
Công trình nghiên cứu luận án tiến sĩ chuyên ngành Chính trị học của tác giả Nguyễn Thị Liên Phương, bảo vệ năm 2022 tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, tập trung giải quyết các căn cứ khoa học và thực tiễn nhằm định hình mô hình tổ chức chính quyền đô thị tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Thành phố Hồ Chí Minh là đô thị loại đặc biệt, có diện tích 2.095 km² (chiếm 0,63% diện tích cả nước), dân số trên 7,4 triệu người (chiếm 8,6% cả nước), đóng góp khoảng 21,5% tổng sản phẩm quốc nội (GDP) và 35,2% ngân sách quốc gia. Cơ cấu hành chính của thành phố gồm 24 đơn vị hành chính (19 quận, 5 huyện) với 322 phường, xã. Tính cấp thiết của đề tài được luận án xác định qua hai nhóm lý do:
- Về mặt chủ trương chính trị và pháp lý: Xây dựng mô hình chính quyền đô thị là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước, được thể chế hóa qua Nghị quyết số 17-NQ/TW của Hội nghị Trung ương 5 khóa X, Văn kiện Đại hội XI của Đảng, Kết luận của Bộ Chính trị ngày 06/07/2012 về Nghị quyết số 20-NQ/TW khóa IX, và Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh lần thứ VIII (năm 2005). Dù Hiến pháp năm 2013 và Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 đã tạo khung pháp lý ban đầu, các văn bản này vẫn mang tính chất định khung chung, chưa thể chế hóa đầy đủ các yếu tố đặc thù của một đô thị quy mô lớn.
- Về mặt thực tiễn quản lý: Mô hình tổ chức chính quyền địa phương hiện nay áp dụng đồng nhất giữa đô thị và nông thôn. Quản lý đô thị đòi hỏi tính tập trung, xuyên suốt và đồng bộ, nhưng bộ máy hiện tại bị cắt khúc thành nhiều tầng nấc; quan hệ Trung ương - địa phương chưa rạch ròi về thẩm quyền và trách nhiệm; nguyên tắc kết hợp quản lý theo ngành và vùng lãnh thổ phát sinh tình trạng "quyền lực ngành"; chế độ tập thể lãnh đạo của Ủy ban nhân dân làm mờ trách nhiệm cá nhân người đứng đầu, dẫn đến phản ứng chậm chạp và giảm sút hiệu lực quản lý.
Khoảng trống nghiên cứu được tác giả chỉ ra là: Các nghiên cứu và đề án thí điểm trước đây chưa xây dựng được hệ thống tiêu chí khoa học đánh giá tính hiệu lực của chính quyền đô thị đặc thù; chưa giải quyết triệt để sự tương thích giữa tổ chức bộ máy với phân cấp tài chính, ngân sách; đồng thời thiếu các phân tích lý luận và thực tiễn trực tiếp đối với mô hình tổ chức một cấp chính quyền và hai cấp hành chính sau khi tái khởi động Đề án chính quyền đô thị từ tháng 10/2019.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát của luận án là làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về mô hình tổ chức chính quyền đô thị; phân tích, đánh giá thực trạng tổ chức và vận hành của chính quyền Thành phố Hồ Chí Minh; từ đó đề xuất phương hướng và các giải pháp xây dựng mô hình tổ chức chính quyền đô thị phù hợp với đặc thù của thành phố trong giai đoạn mới.
Để đạt được mục tiêu trên, luận án xác định bốn nhiệm vụ cụ thể:
- Tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước, chỉ ra các vấn đề liên quan đến chính quyền đô thị tại Việt Nam mà các tài liệu trước chưa giải quyết toàn diện.
- Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của mô hình chính quyền đô thị (quan niệm, tiêu chí, mô hình, cơ sở chính trị, pháp lý và bài học kinh nghiệm quốc tế).
- Khảo sát thực trạng, chỉ ra các ưu điểm, hạn chế, nguyên nhân và những vấn đề đặt ra trong tổ chức, hoạt động của chính quyền Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay.
- Đề xuất hệ thống phương hướng và giải pháp xây dựng mô hình tổ chức chính quyền đô thị phù hợp với đặc điểm địa phương.
Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết khoa học
Luận án giải quyết ba câu hỏi nghiên cứu:
- Vì sao phải xây dựng mô hình tổ chức chính quyền đô thị ở Thành phố Hồ Chí Minh trong bối cảnh mới?
- Hiện tại tổ chức và hoạt động của chính quyền đô thị tại Thành phố Hồ Chí Minh đang ở mức độ như thế nào?
- Những định hướng, giải pháp xây dựng mô hình tổ chức của chính quyền đô thị Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay là gì?
Tương ứng với các câu hỏi trên, ba giả thuyết khoa học được kiểm chứng bao gồm:
- Mô hình chính quyền đô thị phù hợp là yếu tố quan trọng để nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước của Thành phố Hồ Chí Minh, từ đó tạo ra các động lực phát triển kinh tế - xã hội.
- Tổ chức và hoạt động của chính quyền đô thị Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay có nhiều bất cập, cần có những điều chỉnh cần thiết cho phù hợp với các tiêu chí của chính quyền đô thị hiện đại.
- Cần đề xuất các giải pháp khả thi cho việc xây dựng mô hình chính quyền đô thị Thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian tới.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Mô hình tổ chức của chính quyền đô thị.
- Phạm vi nội dung: Khảo sát thực trạng tổ chức và hoạt động của chính quyền đô thị Thành phố Hồ Chí Minh nhằm đề xuất mô hình tổ chức bộ máy phù hợp.
- Phạm vi không gian: Địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh với 24 quận, huyện.
- Phạm vi thời gian: Khảo sát thực trạng hoạt động của chính quyền đô thị từ năm 2013 đến thời điểm hoàn thành nghiên cứu.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu quốc tế
Các tài liệu quốc tế về chính quyền đô thị được luận án phân loại theo bốn nhóm tiếp cận chính:
- Hướng lý thuyết không gian và phát triển đô thị: Ash và Nigel Thrift (2002) khảo sát sự kết hợp các chuỗi đô thị nhằm mở rộng không gian sống, cải thiện dịch vụ công và chỉ ra thách thức ô nhiễm, năng lực tài chính, quyền tự quản. Brenner, Neil, David J. Madden và David Wachsmuth (2010) phân tích hiện tượng tập trung đô thị gây sức ép lên rác thải, nước sạch, trường học và an ninh trật tự. Soja, Edward (2000) nghiên cứu thách thức quản lý tại các siêu đô thị. Simon Parker (2015) nêu bật xung đột xã hội khi tập trung chuỗi đô thị mà thiếu sự đồng thuận của cư dân. K. Newton (1984) chỉ ra tính truyền thống trong chính sách đô thị tại Anh và xứ Wales. J. Molotch (1987, 1995), Brenner, Neil và Christian Schmid (2012), Burdett, Ricky và Deyan Sudjic (2006), Farías, Ignacio và Thomas Bender (2010) phân tích các khía cạnh mạng lưới và đô thị hóa toàn cầu.
- Kinh nghiệm quản trị đô thị Tokyo (Nhật Bản): Akira Nakamura (1997), Kurt Steiner (1965), Kimihiko Kitamura (1983), Hiromi Muto (1997), Nobuo Sasaki (1998), Smith (2000), Yasuo Miyakawa, Yousuke Isozaki (1997), và Junshichiro Yonehara (1993) đúc kết các bài học về phân quyền mạnh mẽ từ trung ương, cấu trúc chính quyền vùng, tự chủ ngân sách địa phương và trách nhiệm giải trình trong dịch vụ công.
- Hướng giải quyết các vấn đề xã hội đô thị: Louis Wirth tiếp cận đô thị học dưới góc độ xã hội học qua quy mô dân số, mật độ cư trú và tính đa dạng văn hóa, phân tầng xã hội giữa thành thị và nông thôn. Kimberly L. Wood và Gerald T. Gabris (nghiên cứu vùng ngoại ô Chicago) khẳng định sự cần thiết phải phân quyền cho khu vực tư nhân và xã hội dân sự trong cung cấp dịch vụ công nhằm tránh quá tải bộ máy.
- Hướng nghiên cứu về cấu trúc và mô hình tổ chức: Barnes, William R. (1991) phân loại các mô hình chính quyền đô thị tại Hoa Kỳ dựa trên khảo sát của Hiệp hội Quản lý Thành phố/Hạt Quốc tế (ICMA):
| Mô hình tổ chức chính quyền đô thị |
Tỷ lệ áp dụng / Quy mô đô thị phổ biến |
Đặc trưng vận hành cơ bản |
| Giám đốc - Hội đồng (Council-Manager) |
Chiếm 48% (1996) tăng lên 55% (2006); phổ biến tại đô thị có dân số trên 10.000 dân. |
Hội đồng thành phố lập chính sách và ngân sách; bổ nhiệm người quản lý chuyên nghiệp điều hành hành chính. |
| Thị trưởng - Hội đồng (Mayor-Council) |
Chiếm 34% số thành phố được ICMA khảo sát; phổ biến ở đô thị lâu đời hoặc quy mô nhỏ. |
Thị trưởng do dân bầu độc lập, làm việc toàn thời gian, nắm quyền hành chính và ngân sách lớn. |
| Ủy ban (Commission) |
Dưới 1% số thành phố; áp dụng tại đô thị có dân số dưới 100.000 dân. |
Cử tri bầu từng ủy viên vào hội đồng quản trị; mỗi ủy viên trực tiếp phụ trách một mảng hành chính. |
| Đại hội đồng thành phố (Town meeting) |
Áp dụng tại khoảng 5% số đô thị trên thế giới. |
Toàn thể cử tri trực tiếp họp bàn để quyết định chính sách và bầu quan chức thực thi. |
Bên cạnh đó, Frank Staniszewski nghiên cứu mô hình chính quyền đô thị tại Austin; Alexey Konov khảo sát ba mảng cải cách hành chính tại Nga (giai đoạn 2000-2004) gồm dịch vụ công, thủ tục hành chính và chế độ công vụ hợp đồng; James E. Rauch nghiên cứu cung ứng dịch vụ thiết yếu (nước sạch, vệ sinh, y tế, giáo dục) tại Hoa Kỳ; Olivier Borraz và Patrick Le Galès nghiên cứu liên kết đô thị tại Châu Âu; Ram Narayan Prasad khảo sát thể chế tự quản đô thị tại Ấn Độ theo Tu chính án Hiến pháp năm 1992 (các điều từ 243-P đến 247-ZG).
Các hướng nghiên cứu trong nước
- Nghiên cứu lý luận và kinh nghiệm quốc tế: Phạm Văn Đạt (2012) phân tích quá trình tổ chức chính quyền đô thị từ năm 1945 đến trước thời điểm sửa đổi Hiến pháp năm 2013; Lê Anh Tuấn nghiên cứu bài học từ Berlin, Paris, Seoul, New York, Bắc Kinh; Trần Kim Yến phân tích khái niệm và mô hình chính quyền đô thị áp dụng cho Thành phố Hồ Chí Minh.
- Tổng kết thực tiễn và mô hình Thành phố Hồ Chí Minh: Kỷ yếu hội thảo do Phan Xuân Biên chủ biên (2007) tập hợp các bài viết của Lê Văn Yên, Nguyễn Văn Nhứt, Nguyễn Lê, Trương Thị Hiền, Vũ Thế Truyền, Nguyễn Đình Tư, Hồ Bá Thâm, Nguyễn Minh An, Lê Thanh Bình, Lê Văn Chấn, Nguyễn Đình Thống; Đề tài nghiên cứu cấp tỉnh của Phạm Minh Tuấn và cộng sự (2015); Công trình của Trường Đại học Kinh tế - Luật TP.HCM phối hợp cùng Quỹ Châu Á (2013) so sánh thể chế và đo lường sự hài lòng của người dân tại Thành phố Hồ Chí Minh và Đà Nẵng; Các nghiên cứu của Lưu Tiến Minh (2012), Nguyễn Hữu Hải và Đào Thị Thanh Thủy, Nguyễn Hữu Đức (2012), Phạm Thị Kim Giao, Nguyễn Minh Phương (2009), Phạm Hồng Thái.
- Nghiên cứu về thể chế và chế định Hội đồng nhân dân: Nguyễn Đình Lộc (2011), Lưu Thiên Hương (2009), Bùi Xuân Đức (2012) và Báo cáo của Học viện Hành chính Quốc gia tập trung đánh giá việc thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân quận, huyện, phường; Viện Nghiên cứu phát triển Thành phố Hồ Chí Minh (HIDS) nghiên cứu năng lực hành chính theo hướng phân quyền và tản quyền; Cao Vũ Minh (2020) và Trần Thị Thu Hà (2020) phân tích địa vị pháp lý, chức năng của Ủy ban nhân dân thành phố Thủ Đức.
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Luận án tập trung giải quyết những thiếu hụt của các công trình đi trước:
- Thiếu khung lý luận chuyên sâu về tiêu chí đánh giá hiệu lực của chính quyền đô thị đặc thù tại Việt Nam.
- Chưa giải quyết sự mâu thuẫn giữa phân cấp chức năng hành chính với phân cấp quyền hạn tài chính, ngân sách nhà nước.
- Chưa có công trình khoa học chính trị nào đánh giá toàn diện mô hình tổ chức bộ máy và cơ cấu cơ quan chuyên môn của Thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn triển khai cơ chế đặc thù theo Nghị quyết số 54/2017/QH14 và mô hình tổ chức một cấp chính quyền, hai cấp hành chính sau khi thành lập thành phố Thủ Đức.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết, khái niệm và khung phân tích
- Hệ tư tưởng và quan điểm chỉ đạo: Luận án dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cùng các chủ trương, nghị quyết của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng và cải cách bộ máy nhà nước.
- Khái niệm công cụ: Chính quyền đô thị được xác định là một hình thức của chính quyền địa phương (đối với thành phố trực thuộc Trung ương) hoặc là một bộ phận của chính quyền địa phương (đối với thành phố, thị xã thuộc tỉnh), được tổ chức tương thích với đời sống đô thị, sở hữu quyền tự chủ nhất định trong phạm vi quy định của hiến pháp và pháp luật.
- Các tiêu chí cơ bản:
- Cơ cấu tổ chức tinh gọn: Bộ máy giảm thiểu các tầng nấc trung gian, rút ngắn khoảng cách giữa chính quyền và người dân; ưu tiên chế độ thủ trưởng và cá thể hóa trách nhiệm người đứng đầu.
- Tính tự quản và tự chủ rộng rãi: Chính quyền đô thị được giao thẩm quyền tự quyết định các chính sách phát triển kinh tế - xã hội, quản lý tài nguyên, cung ứng dịch vụ công thiết yếu (y tế, giáo dục, môi trường, cấp nước), tự chủ ngân sách (thu thuế, cân đối thu - chi) và chủ động quyết định cơ cấu tổ chức nhân sự.
Phương pháp nghiên cứu
Luận án triển khai hướng nghiên cứu định tính, dựa trên sự kết hợp giữa phân tích thể chế và nghiên cứu tài liệu thực tiễn:
- Phương pháp phân tích và so sánh: Dùng để bóc tách các bất cập trong hệ thống pháp luật, cơ chế vận hành của Ủy ban nhân dân; đồng thời so sánh đối chiếu kinh nghiệm xây dựng chính quyền đô thị giữa các quốc gia và giữa các đô thị tại Việt Nam.
- Phương pháp tổng hợp: Khái quát hóa các luận điểm lý thuyết và kết quả từ các giai đoạn thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân.
- Phương pháp khảo cứu tài liệu: Hệ thống hóa văn kiện chính trị, văn bản pháp luật, đề án cải cách hành chính và các công trình nghiên cứu học thuật.
- Phương pháp thu thập số liệu thống kê: Tiếp cận dữ liệu thứ cấp từ Tổng cục Thống kê, Cục Thống kê Thành phố Hồ Chí Minh, các báo cáo tổng kết của Thành ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân thành phố và các sở, ban, ngành, quận, huyện.
- Phương pháp chuyên gia: Thực hiện tham vấn và phỏng vấn sâu các nhà khoa học, nhà quản lý, lãnh đạo và nguyên lãnh đạo các cấp chính quyền, đại diện Mặt trận Tổ quốc, cộng đồng doanh nghiệp và người dân (tập trung vào sự thuận tiện của các thủ tục hành chính về cấp phép xây dựng, đăng ký kinh doanh, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và mức độ hài lòng đối với dịch vụ công).
Nguồn tư liệu và dữ liệu
Cơ sở dữ liệu của luận án hình thành từ: Các sắc lệnh lịch sử (Sắc lệnh số 63/SL, Sắc lệnh số 77/SL năm 1945; Luật số 110-SL/L năm 1958); các bản Hiến pháp (1980, 1992, 2013); Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015; Nghị quyết số 54/2017/QH14; các báo cáo thẩm tra và đề án thí điểm chính quyền đô thị của Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh công bố qua các giai đoạn (năm 2012 và 2019).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Chương 1 hệ thống hóa các nghiên cứu quốc tế và trong nước về thể chế đô thị. Tác giả điểm lại các lý thuyết về đô thị hóa, dịch vụ công đô thị của Ash, Thrift, Brenner, Soja, Louis Wirth và Barnes; phân tích kinh nghiệm cải cách phân quyền tại Tokyo, cải cách công vụ tại Nga và tổ chức tự quản tại Ấn Độ. Tại Việt Nam, tác giả tổng kết các công trình lý luận luật học, hành chính học của Phạm Văn Đạt, Lê Anh Tuấn, Trần Kim Yến; các kết quả thí điểm bãi bỏ Hội đồng nhân dân quận, huyện, phường và các hội thảo khoa học từ năm 2007 đến năm 2015. Chương này xác lập khoảng trống nghiên cứu thực tế: Các đề án trước đây chưa đánh giá được năng lực thực thi của công chức, chưa xử lý được mối quan hệ quản lý ngành dọc giữa Trung ương và địa phương, và chưa lượng hóa được hiệu quả kinh tế - xã hội khi áp dụng mô hình chính quyền đô thị mới.
Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn về xây dựng mô hình tổ chức chính quyền đô thị ở Việt Nam hiện nay
Chương 2 làm rõ sự hình thành và bản chất của đô thị hóa, từ đó xác lập quan niệm, tiêu chí tổ chức chính quyền đô thị. Tác giả phân tích lịch sử tổ chức bộ máy nhà nước tại Việt Nam: Ngay sau năm 1945, Sắc lệnh số 63/SL và Sắc lệnh số 77/SL đã phân chia địa bàn nông thôn thành ba cấp (tỉnh, huyện, xã) và địa bàn đô thị thành hai cấp (thành phố, khu phố), trong đó cấp huyện và khu phố không tổ chức Hội đồng nhân dân; tiếp đó Luật số 110-SL/L năm 1958 khẳng định cơ chế quản lý riêng cho đô thị. Hiến pháp năm 1980 đã cào bằng thể chế này khi quy định mô hình gồm ba cấp chính quyền hoàn chỉnh áp dụng chung cho cả nước.
Tác giả phân tích các cơ sở chính trị và pháp lý hiện hành, gồm Nghị quyết số 17-NQ/TW khóa X, Nghị quyết số 26/2008/QH12, Nghị quyết số 724/2009/UBTVQH12, Nghị quyết số 725/2009/UBTVQH12 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc điều chỉnh chức năng của Ủy ban nhân dân nơi không tổ chức Hội đồng nhân dân, cùng các quy định của Hiến pháp năm 2013 và Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015. Kinh nghiệm quốc tế chỉ ra rằng chính quyền đô thị cần được tổ chức tinh gọn, phân quyền tự chủ mạnh mẽ và gắn với trách nhiệm trực tiếp của người đứng đầu.
Chương 3: Mô hình chính quyền đô thị Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay – Thực trạng và những vấn đề đặt ra
Chương 3 khảo sát thực tế bộ máy chính quyền Thành phố Hồ Chí Minh. Thành phố có 24 đơn vị hành chính gồm 19 quận, 5 huyện và 322 phường, xã, tạo ra một khối lượng công việc quản lý nhà nước đồ sộ. Luận án phân tích chi tiết hai phương án cải cách trong các đề án của thành phố:
- Đề án năm 2012: Đề xuất chia địa bàn thành 4 thành phố vệ tinh trực thuộc và 1 vùng nông thôn:
| Khu vực theo Đề án năm 2012 |
Phạm vi địa giới hành chính |
Diện tích |
Định hướng phát triển kinh tế - xã hội |
| Khu đô thị Đông |
Quận 2, Quận 9, Quận Thủ Đức |
211 km² |
Dịch vụ cao cấp, công nghiệp kỹ thuật cao (trung tâm Thủ Thiêm). |
| Khu đô thị Nam |
Quận 7, huyện Nhà Bè, một phần Quận 8 và Bình Chánh |
194 km² |
Phát triển dịch vụ cảng và các dịch vụ thương mại phụ trợ. |
| Khu đô thị Bắc |
Quận 12 và phần lớn huyện Hóc Môn |
149 km² |
Dịch vụ, du lịch sinh thái, nông nghiệp kỹ thuật cao. |
| Khu đô thị Tây |
Quận Bình Tân, một phần Quận 8 và huyện Bình Chánh |
191 km² |
Đầu mối giao lưu kinh tế với khu vực đồng bằng sông Cửu Long. |
| Nông thôn trong đô thị |
Huyện Củ Chi, Bình Chánh, Cần Giờ |
Quy mô lớn |
Chuyển cấp huyện thành cấp hành chính, không tổ chức HĐND cấp huyện. |
- Đề án tái khởi động tháng 10/2019 và cơ chế theo Nghị quyết số 54/2017/QH14: Thành phố thu hẹp định hướng vệ tinh thành một thành phố phía Đông duy nhất (thành phố Thủ Đức) trên cơ sở sáp nhập Quận 2, Quận 9 và quận Thủ Đức; tổ chức chính quyền theo mô hình một cấp chính quyền địa phương (cấp thành phố) và hai cấp hành chính cơ sở (quận/huyện/thành phố thuộc thành phố và phường/xã/thị trấn). Đi kèm với đó là các cơ chế đặc thù: Hội đồng nhân dân thành phố được chuyển mục đích sử dụng đất trồng lúa từ 10 ha trở lên; quyết định chủ trương đầu tư dự án nhóm A; điều chỉnh tăng thuế suất tiêu thụ đặc biệt và thuế bảo vệ môi trường không quá 25%; chi thu nhập tăng thêm cho công chức tối đa không quá 1,8 lần mức lương ngạch bậc; và Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố được quyền ủy quyền cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện.
- Bất cập thực tiễn: Mô hình bộ máy của các cơ quan chuyên môn ở Thành phố Hồ Chí Minh không khác biệt so với các tỉnh quy mô nhỏ; chế độ tập thể lãnh đạo gây chậm trễ trong xử lý công việc; thẩm quyền quản lý đất đai và ngân sách còn bị hạn chế; mức độ hài lòng của công dân đối với dịch vụ hành chính công có chiều hướng giảm sút.
Chương 4: Phương hướng, giải pháp xây dựng mô hình tổ chức chính quyền đô thị Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay
Chương 4 đưa ra các dự báo về nhân tố tác động (áp lực đô thị hóa, gia tăng dân số cơ học, hội nhập quốc tế) và đề xuất hệ thống giải pháp cơ bản:
- Phương hướng: Xây dựng mô hình chính quyền đô thị tinh gọn, phân định rõ ràng giữa địa bàn đô thị và nông thôn; bảo đảm tính chỉ đạo thông suốt của cơ quan hành chính cấp trên đối với cơ quan đại diện hành chính cấp dưới.
- Giải pháp về tổ chức bộ máy: Luận án thiết kế ba phương án tổ chức mô hình chính quyền đô thị và hệ thống cơ quan chuyên môn (được thể hiện chi tiết tại các Phụ lục từ 1 đến 11). Về cơ bản, tổ chức một cấp chính quyền địa phương hoàn chỉnh (có Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân) ở cấp Thành phố Hồ Chí Minh; tại các quận và phường không tổ chức Hội đồng nhân dân mà chỉ tổ chức Ủy ban nhân dân với tư cách là cơ quan hành chính nhà nước trực thuộc; thiết lập vị thế pháp lý đặc thù cho thành phố Thủ Đức.
- Giải pháp về cơ chế điều hành và phân quyền: Chuyển đổi phương thức làm việc của Ủy ban nhân dân từ chế độ tập thể lãnh đạo sang chế độ thủ trưởng; tăng thẩm quyền và trách nhiệm giải trình của Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp; đẩy mạnh phân cấp quản lý tài chính - ngân sách, quy hoạch đô thị và quản lý biên chế công chức từ Trung ương cho chính quyền thành phố.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận
Luận án hệ thống hóa các quan niệm khoa học về chính quyền đô thị, làm rõ tiêu chí phân biệt giữa chính quyền đô thị và chính quyền nông thôn trong điều kiện thể chế chính trị của Việt Nam. Công trình cung cấp luận cứ khẳng định tính tất yếu của việc cá thể hóa trách nhiệm người đứng đầu, thu gọn tầng nấc hành chính và mở rộng quyền tự quản ngân sách cho các đô thị loại đặc biệt.
Đóng góp về mặt thực tiễn
- Khảo cứu toàn diện thực trạng tổ chức chính quyền địa phương tại Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2013 đến năm 2022, bóc tách nguyên nhân thể chế dẫn đến sự đình trệ và kém hiệu quả của bộ máy hành chính rập khuôn.
- Đánh giá thực tế các tác động bước đầu của Nghị quyết số 54/2017/QH14 và Đề án thành lập thành phố Thủ Đức.
- Đề xuất các phương án cấu trúc bộ máy (Phương án 1, 2 và 3 trong các phụ lục) giúp tinh giản các sở, ban, ngành và phân định rạch ròi chức năng giữa cơ quan quản lý tổng hợp và cơ quan quản lý chuyên ngành đô thị.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế của luận án: Nghiên cứu chủ yếu dựa trên các văn bản thể chế, khảo cứu tài liệu thứ cấp và dữ liệu khảo sát trong phạm vi từ năm 2013 đến thời điểm hoàn thành luận án. Mô hình thành phố Thủ Đức và cơ chế tổ chức chính quyền đô thị không tổ chức Hội đồng nhân dân quận, phường mới được triển khai trong giai đoạn từ tháng 10/2019 và năm 2020, do đó văn bản chưa có chuỗi dữ liệu thực nghiệm dài hạn để lượng hóa toàn diện hiệu quả kinh tế và năng lực quản lý sau chuyển đổi.
- Hướng nghiên cứu tiếp theo: Tiến hành các nghiên cứu định lượng độc lập đo lường mức độ tối ưu hóa ngân sách và chỉ số hài lòng của người dân sau khi bộ máy mới đi vào vận hành ổn định; tiếp tục hoàn thiện khung lý thuyết về phân cấp tài chính độc lập và mô hình quản trị liên kết vùng giữa Thành phố Hồ Chí Minh với các đô thị lân cận.
Giá trị tham khảo
- Đối tượng thụ hưởng:
- Các cơ quan xây dựng chính sách của Đảng, Quốc hội, Chính phủ và Bộ Nội vụ trong quá trình sửa đổi, bổ sung Luật Tổ chức chính quyền địa phương và xây dựng văn bản pháp luật về các đơn vị hành chính đô thị.
- Thành ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh và chính quyền thành phố Thủ Đức trong việc sắp xếp cơ quan chuyên môn, phân định thẩm quyền và thực hiện chế độ công vụ mới.
- Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học thuộc các chuyên ngành Chính trị học, Khoa học quản lý, Quản lý công, Luật Hành chính và Lãnh đạo học.
- Nội dung có giá trị tham khảo chuyên sâu: Khung tổng quan kinh nghiệm quốc tế và lịch sử lập pháp Việt Nam giai đoạn 1945-1958; bảng phân loại các mô hình đô thị theo Barnes (1991); sơ đồ cơ cấu các cơ quan chuyên môn theo ba phương án tại hệ thống phụ lục của luận án.
Câu hỏi thường gặp
1. Tại sao chế độ tập thể lãnh đạo của Ủy ban nhân dân bị luận án xem là điểm hạn chế lớn trong quản trị đô thị tại Thành phố Hồ Chí Minh?
Theo tác giả, quản lý đô thị đòi hỏi tính thống nhất, đồng bộ, nhanh nhạy và kịp thời để giải quyết các vấn đề phát sinh tức thời của thị dân. Chế độ tập thể lãnh đạo của Ủy ban nhân dân (vốn ngược với thông lệ quản trị quốc tế) làm phân tán quyền hạn, không phân định rạch ròi giữa thẩm quyền chung của tập thể Ủy ban với thẩm quyền riêng của Chủ tịch Ủy ban nhân dân. Điều này làm mờ trách nhiệm cá nhân, dẫn đến sự thụ động, kéo dài thời gian ban hành quyết định hành chính và làm suy giảm hiệu lực quản trị.
2. Nghị quyết số 54/2017/QH14 của Quốc hội đã trao những quyền hạn đặc thù nào cho chính quyền Thành phố Hồ Chí Minh?
Nghị quyết số 54/2017/QH14 quy định các quyền hạn thí điểm:
- Đất đai: Hội đồng nhân dân thành phố được phép quyết định chuyển mục đích sử dụng đất trồng lúa từ 10 ha trở lên và sử dụng nguồn vốn từ quỹ đất để đầu tư phát triển.
- Đầu tư: Hội đồng nhân dân thành phố quyết định chủ trương đầu tư các dự án nhóm A sử dụng vốn ngân sách địa phương.
- Tài chính - ngân sách: Đề xuất áp dụng tăng mức thuế hoặc thuế suất thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế bảo vệ môi trường với mức tăng không quá 25% so với quy định hiện hành.
- Tổ chức bộ máy và nhân lực: Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố được quyền ủy quyền trực tiếp cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện; Hội đồng nhân dân thành phố được quyết định chi thu nhập tăng thêm cho công chức, viên chức theo hiệu quả công việc với mức tối đa không vượt quá 1,8 lần lương ngạch bậc, chức vụ.
3. Đề án thí điểm năm 2012 của Thành phố Hồ Chí Minh từng đề xuất phân chia cấu trúc không gian đô thị như thế nào?
Đề án năm 2012 đề xuất tổ chức 4 thành phố trực thuộc đóng vai trò đô thị vệ tinh: Khu Đông (Quận 2, 9, Thủ Đức; 211 km²; trung tâm dịch vụ cao cấp và công nghệ cao), Khu Nam (Quận 7, Nhà Bè, một phần Quận 8 và Bình Chánh; 194 km²; dịch vụ cảng và thương mại), Khu Bắc (Quận 12, phần lớn Hóc Môn; 149 km²; du lịch sinh thái và nông nghiệp kỹ thuật cao), Khu Tây (Bình Tân, một phần Quận 8 và Bình Chánh; 191 km²; đầu mối giao lưu với đồng bằng sông Cửu Long); cùng vùng nông thôn gồm 3 huyện Củ Chi, Bình Chánh, Cần Giờ được định hướng chuyển thành cấp hành chính không có Hội đồng nhân dân.
4. Bốn mô hình tổ chức chính quyền đô thị tại Hoa Kỳ được William R. Barnes (1991) chỉ ra gồm những dạng thức nào?
Bốn mô hình bao gồm:
- Mô hình Giám đốc - Hội đồng (Council-Manager): Chiếm tỷ lệ cao nhất (55% năm 2006 theo ICMA), trong đó Hội đồng thành phố quyết định chính sách và thuê một người quản lý chuyên nghiệp điều hành công việc hàng ngày.
- Mô hình Thị trưởng - Hội đồng (Mayor-Council): Chiếm 34% số thành phố, thị trưởng do dân bầu độc lập và nắm quyền lực hành pháp, ngân sách trực tiếp.
- Mô hình Ủy ban (Commission): Chiếm dưới 1% số thành phố, mỗi ủy viên hội đồng đồng thời là người đứng đầu một nhánh hành chính cụ thể.
- Mô hình Đại hội đồng thành phố (Town meeting): Áp dụng tại khoảng 5% đô thị, toàn bộ cử tri tham gia thảo luận và thông qua các quyết sách địa phương.
5. Lịch sử quản lý nhà nước giai đoạn 1945–1958 tại Việt Nam đã ghi nhận sự phân định giữa chính quyền đô thị và chính quyền nông thôn ra sao?
Ngay sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Sắc lệnh số 63/SL (ngày 23/11/1945) và Sắc lệnh số 77/SL (ngày 21/12/1945) đã thiết lập bộ máy chính quyền: Nông thôn gồm 3 cấp (tỉnh, huyện, xã), đô thị gồm 2 cấp (thành phố, khu phố). Cấp huyện và cấp khu phố được xác định là cấp hành chính trung gian, chỉ thành lập cơ quan hành chính (Ủy ban hành chính) để thi hành chỉ thị cấp trên mà không tổ chức Hội đồng nhân dân. Đến ngày 31/05/1958, Luật số 110-SL/L tiếp tục quy định rõ cơ chế phân định thẩm quyền và bộ máy riêng biệt giữa đô thị và nông thôn.
Kết luận
Luận án của tác giả Nguyễn Thị Liên Phương là công trình nghiên cứu hệ thống hóa các luận cứ lý luận và thực tiễn về mô hình tổ chức chính quyền đô thị tại Việt Nam, tập trung vào không gian Thành phố Hồ Chí Minh. Tác giả đã làm rõ các điểm nghẽn thể chế của mô hình quản trị địa phương cào bằng, từ đó cung cấp căn cứ thực chứng về sự cần thiết phải phân quyền và cá thể hóa trách nhiệm người đứng đầu. Trên cơ sở tổng hợp bài học lịch sử, kinh nghiệm quốc tế và phân tích các đề án thí điểm, luận án đề xuất phương án tổ chức bộ máy một cấp chính quyền địa phương kết hợp hai cấp hành chính đại diện. Các kết quả nghiên cứu góp phần cung cấp tư liệu tham khảo phục vụ quá trình hoạch định chính sách và hoàn thiện thể chế quản lý đô thị hiện đại.