Chương 1. Giới thiệu Gần bốn mươi năm sau khi chiến tranh trở thành quá vãng, Việt Nam đã vươn lên trở thành một điểm đến thú vị trên bản đồ thế giới. Hơn hai mươi năm kể từ ngày “Đổi mới”, Việt Nam đã thi hành nhiều chính sách và nỗ lực để dần chuyển mình từ một quốc gia có nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Nhiều cố gắng được thực thi và một số kết quả đáng khích lệ đã tới.
Tuy vậy, cũng giống như nhiều quốc gia chuyển đổi khác, Việt Nam, với nền kinh tế đang phát triển, cũng gặp phải nhiều vấn đề như kinh tế vĩ mô không ổn định, thể chế và quản trị chưa hiệu quả đi kèm với việc nâng cao an sinh xã hội hoặc chưa được chú ý đúng mức hoặc không đạt được kết quả như bài toán tối ưu đa mục tiêu mà tất cả các giai tầng trong xã hội mong muốn. Trong những vấn đề kể trên, quan trọng nhất có lẽ là bất ổn kinh tế vĩ mô và thể chế chưa hiệu quả. Đóng góp vào sự hiện diện của hai điểm yếu trên có lẽ có phần yếu tố doanh nghiệp nhà nước (DNNN) khi mô hình phát triển còn bất cập và nguồn vốn tại những doanh nghiệp này không được quản trị hiệu quả. Bối cảnh chính trị, thể chế Ngay từ những ngày đầu khi bắt đầu tập trung phát triển kinh tế và đặc biệt là từ thời điểm mở cửa năm 1991, Việt Nam luôn coi trọng khu vực kinh tế nhà nước và xem đây là thành phần kinh tế chủ chốt cũng như động lực phát triển kinh tế.
Văn kiện tại Đại hội đại biểu Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VII và VIII cũng như Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII đã chỉ rõ điều này. Sau khi đất nước mở cửa được một thời gian, Luật doanh nghiệp ra đời năm 2005 chứng kiến số lượng doanh nghiệp đăng kí mới tăng lên nhanh chóng. Chuyên gia kinh tế Lê Đăng Doanh cho rằng chính luật doanh nghiệp này đã cởi trói phần nào sức dân vốn dồi dào của Việt Nam.1 Bằng chứng là năm này nền kinh tế tăng trưởng rất cao, hơn 8%. Dù chắc chắn rằng nhiều yếu tố ảnh hưởng tới việc nền kinh tế mở rộng, nhưng có lẽ không nhiều người phủ 1 Phát biểu trong buổi nói chuyện tại Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 2 nhận vai trò của Luật doanh nghiệp trong việc hỗ trợ các thành phần kinh tế, đặc biệt là khu vực tư nhân. Tuy khu vực kinh tế tư nhân có thể được phát triển mạnh sau thời điểm 2005, cho tới cuối năm 2012 và có lẽ cả giai đoạn sau đó, đường lối phát triển kinh tế của Việt Nam vẫn sẽ dựa vào thành phần kinh tế nhà nước như trong Thông báo Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI kết thúc tháng 11 năm 2012 có ghi. Ngoài ra, việc lấy ý kiến sửa đổi Hiến pháp cũng không có nội dung soạn sẵn về việc giảm đi vai trò của kinh tế nhà nước. Do đó, có nhiều cơ sở để tin rằng kinh tế Việt Nam vẫn sẽ gắn liền với vai trò chủ đạo của khu vực kinh tế nhà nước.
Bối cảnh kinh tế - xã hội Thời điểm từ năm 2000 tới năm 2008 – khi cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu nổ ra – Việt Nam có mức tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) khá ổn định đạt mức trung bình gần 7,5% mỗi năm. Nếu chỉ tính riêng thời điểm sau khi Luật doanh nghiệp ra đời năm 2005, tăng trưởng kinh tế còn cao hơn nữa. Quan sát trong Hình 1. có thể thấy từ năm 2000 đến nay tồn tại hai giai đoạn khác biệt.
Giai đoạn 1 bắt đầu từ năm 2000 tới 2007 và giai đoạn 2 từ 2008 tới nay. Trong giai đoạn đầu, kinh tế Việt Nam tăng trưởng ổn định với hai đỉnh tại năm 2005 và 2007. Năm 2005 là năm ra đời Luật doanh nghiệp, còn 2007 là thời điểm Việt Nam gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) và dòng vốn đầu tư từ nước ngoài năm này tăng gấp đôi so với năm 20062 là một phần nguyên nhân giúp GDP tăng cao. Giai đoạn 2 bắt đầu bằng thời điểm cuộc khủng hoảng tài chính tại Mỹ diễn ra năm 2008 và có ảnh hưởng sâu rộng trên toàn cầu.
Việt Nam cũng không phải là ngoại lệ khi tăng trưởng cao 8,46% năm 2007 giảm xuống chỉ còn hơn 6% năm 2008 và rơi xuống đáy 5,32% vào năm 2009, thấp nhất trong giai đoạn 2000-2011. Tính từ 2008 tới nay, giai đoạn 3, đồ thị tăng trưởng của Việt Nam có dạng lên xuống thất thường. Theo ước tính của Chính phủ, năm 2012 tăng trưởng GDP của Việt Nam cũng chỉ xấp 2 Số liệu của Tổng Cục thống kê cho thấy năm 2007, lượng vốn đầu tư nước ngoài lên tới gần 130,000 tỷ đồng, gấp đôi con số khoảng 65,000 tỷ đồng của năm 2006. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 3 xỉ năm 2009, đạt 5,5%.
Tuy nhiên, theo công bố của Tổng cục Thống kê ngày 14 tháng 12 năm 2012, tăng trưởng GDP của Việt Nam năm 2012 chỉ đạt 5,03%, thấp nhất kể từ năm 2000 trở lại đây, nền kinh tế tăng trưởng chậm hơn cả đáy năm 2009 trước đó. 12% 140,0 tỷ USD 120,0 10% 100,0 8% 80,0 6% 60,0 4% 40,0 2% 20,0 0% - GDP (tỷ USD) Tăng trưởng GDP (%) Nguồn: WorldBank. GDP và tăng trưởng GDP của Việt Nam giai đoạn 1990 - 2011. Trở lại với vấn đề khu vực kinh tế nhà nước, trong giai đoạn kinh tế đang phát triển vượt bậc, các tập đoàn kinh tế nhà nước (TĐKTNN) lần lượt chính thức ra đời từ năm 2005.
Trước đó, theo Quyết định 91/TTg của Thủ tướng Chính phủ năm 1994, các tổng công ty, tiền thân của các tập đoàn đã được hình thành. Đến năm 2005, những tập đoàn thử nghiệm đầu tiên bắt đầu được thành lập. Cho tới nay, có tổng cộng 11 Tập đoàn kinh tế do Nhà nước nắm 100% cổ phần hoặc cổ phần chi phối như liệt kê trong Bảng 1. Tuy vậy, thời gian gần đây, nhiều vấn đề nổi cộm được đặt ra đối với các TĐKTNN nói riêng và DNNN nói chung khi đồng vốn chưa được sử dụng hiệu quả (Ủy ban thường vụ Quốc TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Có thể kể ra trường hợp điển hình về sai lầm thuộc lĩnh vực đầu tư, mua bán và quản lý trong khối DNNN là Tổng công ty hàng hải Vinalines còn thuộc khối TĐKTNN là Tập đoàn công nghiệp tàu thủy Vinashin. Hai đơn vị này đều thua lỗ nặng nề3 đồng thời tạo ra nhiều tranh luận gay gắt trong dư luận xã hội. Việc nhiều đơn vị DNNN thua lỗ, đầu tư ngoài ngành, quản lý vốn không hiệu quả đặt ra những vấn đề về mặt chính sách cũng như mô hình phát triển mà Việt Nam đang theo đuổi. Danh sách các tập đoàn kinh tế nhà nước của Việt Nam.
Nguồn: Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương. Năm thành Sở hữu nhà nước Tên tập đoàn lập tại công ty mẹ 1. Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT) 2005 100% 2. Tập đoàn Công nghiệp Than và Khoáng sản Việt Nam 2005 100% (VINACOMIN) 3.
Tập đoàn Dệt may Việt Nam (VINATEX) 2005 100% 4. Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) 2006 100% 5. Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) 2006 100% 6. Tập đoàn Công nghiệp Tàu thủy Việt Nam (VINASHIN) 2006 100% 7.
Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam (VRG) 2006 100% 8. Tập đoàn Tài chính - Bảo hiểm Bảo Việt (BaoViet Holdings) 2007 74. Tập đoàn Viễn thông Quân đội (VIETTEL) 2009 100% 10.Tập đoàn Công nghiệp Hóa chất Việt Nam (VINACHEM) 2009 100% 11. Tập đoàn Công nghiệp xây dựng Việt Nam (VNNIC)* 2010 100% 12.
Tập đoàn Phát triển nhà và Đô thị Việt Nam (HUD holdings)* 2010 100% 13. Tập đoàn xăng dầu Việt Nam (Petrolimex) 2011 94.99% *: TĐKTNN vừa chuyển lại thành Tổng công ty theo Quyết định 1428/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 02 tháng 10 năm 2012. 3 Thanh tra Chính phủ báo cáo Thủ tướng chỉ riêng năm 2009, Vinashin đã lỗ tới hơn 5,000 tỷ đồng so với con số 1,700 tỷ đồng mà đơn vị này đưa ra. Còn theo nguồn số liệu mà VnExpress thu thập được từ báo cáo của Văn phòng Chính phủ thì Vinalines năm 2011 lỗ tới 2,600 tỷ, hơn gấp đôi so với con số 1,200 tỷ năm 2010 (truy xuất ngày 23 tháng 06 năm 2013 tại http://kinhdoanh.net/tin-tuc/vi-mo/tam-sao-that-ban-lo-lai-cua- vinalines-2720572.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 Đặt trong bối cảnh chính trị và kinh tế - xã hội hiện tại, luận văn thực hiện nghiên cứu một số vấn đề chính sách phát triển dựa vào thành phần kinh tế nhà nước, đặc biệt là TĐKTNN, thông qua xem xét một số tình huống điển hình. Một số phát hiện Sau quá trình thực hiện nghiên cứu, luận văn có một số đóng góp chủ yếu: Phát hiện 1. Việc thành lập thử nghiệm một số TĐKTNN không thỏa mãn đầy đủ tính chất kinh tế của việc thành lập một đơn vị kinh tế nhà nước. Ví dụ như Tập đoàn Dệt may Việt Nam (Vinatex).
Bên cạnh đó, việc thành lập và quản trị một số tập đoàn, dù cần thiết như lý thuyết kinh tế nêu, không được triệt để và dẫn tới một số kết quả không như mong muốn. Chưa có cơ chế và thể chế quản lý hiệu quả đối với các TĐKTNN khiến hoạt động của những tập đoàn này ảnh hưởng tiêu cực tới hạng tín nhiệm quốc gia. Cụ thể, Việt Nam bị hạ bậc tín nhiệm do ảnh hưởng từ việc Vinashin không trả được nợ cho các trái chủ quốc tế làm hạn chế khả năng tiếp cận thị trường vốn quốc tế của nhiều doanh nghiệp trong nước, hoặc có tiếp cận được thì phải trả chi phí đắt đỏ hơn. Hiệu ứng chèn lấn của khu vực kinh tế nhà nước đối với khu vực tư nhân trong nước đã xảy ra trong giai đoạn 1995 – 2011.
Cụ thể, kết quả mô hình cho thấy đầu tư Chính phủ gia tăng thực sự làm giảm đầu tư của khu vực tư nhân. Phần tiếp theo của luận văn được tổ chức như sau: Chương 2. nêu lên vấn đề chính sách và câu hỏi chính sách cùng phương pháp nghiêm cứu; Chương 3. đi vào phân tích sự cần thiết của TĐKTNN trong bối cảnh Việt Nam; Chương 4.
tìm hiểu ảnh hưởng của khu vực kinh tế nhà nước đối với nền kinh tế đồng thời nêu lên những nhận định từ các sự kiện và con số liên quan; Chương 5. xem xét ảnh hưởng của khu vực kinh tế nhà nước tới khu vực kinh tế tư nhân; Chương 6.