Tổng quan nghiên cứu

Giai đoạn 2000 – 2007, kinh tế Việt Nam đạt tốc độ tăng trưởng GDP bình quân ấn tượng 7,5%/năm, chạm đỉnh 8,46% năm 2007 trước khi giảm xuống 5,32% năm 2009 và rơi xuống mức 5,03% vào năm 2012. Tỷ lệ tổng vốn đầu tư toàn xã hội so với GDP luôn duy trì ở mức cao xấp xỉ 40%, trong đó đầu tư của khu vực nhà nước từng chiếm tới gần 60% tổng đầu tư quốc gia vào năm 2000. Dù được Nhà nước ưu tiên phân bổ nguồn lực tài chính, đất đai và tín dụng khổng lồ để trở thành các "quả đấm thép" dẫn dắt tăng trưởng, khối doanh nghiệp nhà nước (DNNN) và các tập đoàn kinh tế nhà nước (TĐKTNN) nhanh chóng bộc lộ nhiều điểm nghẽn nghiêm trọng. Thất bại tài chính điển hình của Tập đoàn Công nghiệp Tàu thủy Việt Nam (Vinashin) với tổng dư nợ hơn 86.000 tỷ đồng, tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu vượt quá 11 lần, cùng khoản lỗ 2.600 tỷ đồng của Tổng công ty Hàng hải Việt Nam (Vinalines) năm 2011 đã tạo nên làn sóng tranh luận sâu sắc về tính bền vững của mô hình tăng trưởng dựa vào khu vực công.

Luận văn thạc sĩ kinh tế chuyên ngành Chính sách công của tác giả Nguyễn Hoài Nam, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Vũ Thành Tự Anh tại Trường Đại học Kinh tế TP.HCM và Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright năm 2013, tập trung giải quyết 3 mục tiêu cốt lõi: Đánh giá tính cần thiết về mặt lý thuyết và thực tiễn của việc thành lập các TĐKTNN; đo lường tác động tiêu cực từ khủng hoảng nợ của TĐKTNN tới bậc tín nhiệm quốc gia và chi phí vốn vay quốc tế; đồng thời kiểm định thực nghiệm hiện tượng chèn lấn đầu tư tư nhân của khu vực kinh tế nhà nước. Nghiên cứu bao quát phạm vi dữ liệu vĩ mô toàn quốc giai đoạn 1995 – 2011. Kết quả nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn khi cung cấp bằng chứng định lượng khẳng định hệ số chèn lấn -0,658, chỉ ra thiệt hại trực tiếp hơn 20,075 triệu USD tiền lãi vay trái phiếu quốc tế phát sinh và đóng góp luận cứ khoa học then chốt cho Đề án tổng thể tái cơ cấu kinh tế theo Quyết định 339/QĐ-TTg giai đoạn 2013 – 2020.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên 2 trụ cột lý thuyết kinh tế học công cộng và kinh tế học vĩ mô chuẩn mực:

  1. Lý thuyết Thất bại Thị trường (Market Failure Theory): Cơ sở kinh tế học khẳng định sự can thiệp của Nhà nước thông qua việc thành lập DNNN chỉ thực sự chính đáng khi nhằm khắc phục 4 khiếm khuyết thị trường: độc quyền tự nhiên phát sinh từ lợi thế kinh tế theo quy mô (như hệ thống truyền tải điện, mạng lưới cấp thoát nước), bất cân xứng thông tin, ngoại tác tiêu cực và việc cung cấp hàng hóa công cộng thuần túy hoặc hàng hóa khuyến dụng (như hạ tầng giao thông trục chính, y tế, giáo dục cơ sở).
  2. Mô hình IS-LM và Lý thuyết Hiệu ứng Chèn lấn (Crowding-out Effect): Khi Nhà nước mở rộng chính sách tài khóa thông qua gia tăng chi tiêu đầu tư công, nhu cầu tài trợ vốn thông qua vay nợ hoặc thâm hụt ngân sách làm tăng cầu tiền trong nền kinh tế. Sự gia tăng này đẩy mặt bằng lãi suất thực trên thị trường tín dụng lên cao, từ đó trực tiếp làm tăng chi phí vốn và thu hẹp quy mô đầu tư của khu vực kinh tế tư nhân.

Khung phân tích của luận văn vận dụng 4 khái niệm nền tảng: Tập đoàn kinh tế nhà nước (TĐKTNN) thí điểm, Xếp hạng tín nhiệm tín dụng quốc gia (Sovereign Credit Rating), Đầu tư khu vực công (GI) và Đầu tư khu vực tư nhân (PI).

Phương pháp nghiên cứu

Luận văn kết hợp chặt chẽ giữa phương pháp nghiên cứu định tính và mô hình kinh tế lượng định lượng chuyên sâu:

  • Nguồn dữ liệu: Chuỗi dữ liệu vĩ mô theo quý và theo năm thu thập từ Tổng cục Thống kê, Bộ Tài chính, Ngân hàng Thế giới (World Bank) và số liệu giao dịch trái phiếu quốc tế từ Sở Giao dịch Chứng khoán Luxembourg và Singapore trong giai đoạn 1995 – 2011.
  • Cỡ mẫu và Phương pháp chọn mẫu: Nghiên cứu sử dụng phương pháp chọn mẫu toàn bộ (census sampling) đối với chuỗi dữ liệu đầu tư vĩ mô của 3 thành phần kinh tế (Nhà nước, Tư nhân, FDI) với 68 quan sát theo quý; kết hợp phương pháp chọn mẫu điển hình (purposive sampling) khảo sát toàn bộ 13 TĐKTNN thí điểm của Việt Nam và mổ xẻ chuyên sâu case study tái cơ cấu nợ của Vinashin.
  • Phương pháp phân tích: Ứng dụng mô hình Tự hồi quy đa biến có cấu trúc (Structural Vector Autoregression - SVAR) dựa trên chuỗi sai phân bậc 1 của các biến logarit tự nhiên [$\ln GI$, $\ln PI$, $\ln GDP$] sau khi đã kiểm định tính dừng thông qua kiểm định nghiệm đơn vị mở rộng (ADF test).
  • Lý do lựa chọn phương pháp: Mô hình SVAR vượt trội hơn các mô hình hồi quy OLS hoặc VAR thông thường nhờ khả năng cô lập các cú sốc cấu trúc độc lập, phản ánh chính xác các độ trễ truyền dẫn chính sách tài khóa theo thời gian thực và đo lường trực tiếp mức độ phản ứng tức thì của đầu tư tư nhân trước các biến động của đầu tư công.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phân tích định tính và mô hình thực nghiệm của luận văn mang lại 3 phát hiện khoa học mang tính bước ngoặt:

  • Thứ nhất, việc thành lập nhiều TĐKTNN không xuất phát từ mục tiêu sửa chữa thất bại thị trường: Khảo sát danh mục 13 TĐKTNN thí điểm cho thấy nhiều đơn vị hoạt động ở các ngành có tính cạnh tranh cao và không tồn tại yếu tố hàng hóa công cộng hay độc quyền tự nhiên. Điển hình như Vinatex (dệt may), HUD và VNNIC (xây dựng, bất động sản). Đáng chú ý, mục tiêu đưa Vinashin chiếm 10% thị phần đóng tàu toàn cầu vào năm 2015 là phi thực tế khi sản lượng thép của Việt Nam năm 2009 chỉ đạt 2,7 triệu tấn/năm, quá thấp so với mức 8,6 triệu tấn của Hàn Quốc ngay từ năm 1980 khi quốc gia này bắt đầu mở rộng công nghiệp đóng tàu.
  • Thứ hai, khủng hoảng nợ của TĐKTNN làm suy giảm trực tiếp xếp hạng tín nhiệm quốc gia: Khi Vinashin không thể thanh toán khoản lãi trái phiếu quốc tế đầu tiên trị giá 60 triệu USD vào tháng 12/2010 (trong tổng khoản nợ trái phiếu 600 triệu USD phát hành năm 2007), các tổ chức định hạng hàng đầu thế giới đã đồng loạt hạ bậc Việt Nam: Fitch hạ bậc nợ dài hạn xuống B+ từ BB-, Moody's hạ từ Ba3 xuống B1, và S&P hạ từ BB xuống BB-. Thiệt hại định lượng cho thấy các doanh nghiệp Việt Nam phát hành trái phiếu quốc tế giai đoạn 2011 – 2012 phải chịu mức chênh lệch lãi suất coupon cao hơn, làm phát sinh thêm ít nhất 20,075 triệu USD chi phí lãi vay trong vòng 5 năm so với kịch bản giữ nguyên hệ số tín nhiệm.
  • Thứ ba, xác nhận sự hiện diện rõ rệt của hiệu ứng chèn lấn: Kết quả ước lượng mô hình SVAR cho thấy hệ số tương quan cấu trúc giữa đầu tư nhà nước và đầu tư tư nhân đạt giá trị $c_{PI}^{GI} = -0,658$ với mức ý nghĩa thống kê cao (p-value = 0,000). Cụ thể, khi tốc độ tăng trưởng đầu tư khu vực nhà nước trong quý $t+1$ tăng 1% so với quý $t$, tốc độ tăng trưởng đầu tư của khu vực tư nhân sẽ suy giảm tương ứng 0,66%. Mặc dù khu vực kinh tế tư nhân tạo ra tới 86% việc làm toàn xã hội (khu vực nhà nước chỉ chiếm khoảng 10%), nhưng dư nợ tín dụng của các DNNN lại chiếm tới 60% tổng dư nợ toàn hệ thống ngân hàng.

Thảo luận kết quả

Tác động chèn lấn bắt nguồn từ cơ chế phân bổ nguồn lực thiên lệch và đầu tư ngoài ngành ồ ạt. Số liệu thống kê từ Bộ Tài chính chỉ ra tổng vốn đầu tư ngoài ngành của các TĐKTNN và Tổng công ty đã tăng vọt từ 5.903 tỷ đồng năm 2006 lên mức 23.742 tỷ đồng vào năm 2011. Nguồn vốn công sản bị chôn chặt vào các lĩnh vực đầu cơ rủi ro cao như bất động sản (9.286 tỷ đồng) và tổ chức tín dụng (11.403 tỷ đồng), dẫn đến khối nợ xấu ước tính gần 90.000 tỷ đồng, chiếm hơn 50% tổng nợ xấu ngân hàng tại thời điểm 2012.

Kết quả nghiên cứu này tạo ra sự đối thoại học thuật sâu sắc khi phản bác kết luận trong báo cáo năm 2007 của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF do Lee và các cộng sự thực hiện giai đoạn 1994 – 2006 vốn cho rằng chưa có hiện tượng chèn lấn tại Việt Nam). Sự khác biệt căn bản xuất phát từ việc chuỗi dữ liệu của luận văn bao quát giai đoạn 2006 – 2011, thời điểm 13 TĐKTNN thí điểm bùng nổ quy mô, sự ra đời của gói kích cầu hơn 140.000 tỷ đồng (khoảng 8 tỷ USD) năm 2009 và đòn bẩy tài chính tại các tập đoàn nhà nước trung ương đạt mức 3,5 đến 4 lần vốn chủ sở hữu.

Để trực quan hóa các kết luận trên, dữ liệu nghiên cứu có thể được trình bày thông qua biểu đồ đường kết hợp cột thể hiện sự dịch chuyển nghịch chiều giữa tốc độ tăng trưởng đầu tư công và đầu tư tư nhân theo từng quý, song hành cùng bảng ma trận hệ số phản ứng xung (Impulse Response Function - IRF) và bảng phân rã phương sai (Variance Decomposition) nhằm minh họa rõ nét mức độ suy giảm tích lũy của khu vực tư nhân kéo dài qua 12 quý liên tiếp.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm giải quyết triệt để các bất cập trong mô hình tăng trưởng dựa vào DNNN, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp chính sách trọng tâm:

  1. Quyết liệt thoái vốn 100% các khoản đầu tư ngoài ngành không thuộc lĩnh vực cốt lõi: Bộ Tài chính và Ủy ban Quản lý vốn nhà nước cần chỉ đạo các tập đoàn thoái toàn bộ vốn đã rót vào bất động sản, chứng khoán, ngân hàng và bảo hiểm; đặt mục tiêu giai đoạn 2013 – 2015 hoàn tất thoái khoảng 10.000 tỷ đồng vốn ngoài ngành riêng tại 2 tập đoàn VRG và Vinacomin, thu hẹp số ngành kinh doanh bình quân của mỗi tập đoàn từ 6,4 ngành về đúng 1 đến 2 ngành cốt lõi.
  2. Thực thi lộ trình cổ phần hóa bắt buộc và niêm yết công ty mẹ trên sàn chứng khoán: Thủ tướng Chính phủ và Ủy ban Chứng khoán Nhà nước cần ban hành quy chế bắt buộc các TĐKTNN phải tiến hành cổ phần hóa và niêm yết tối thiểu 10% đến 15% vốn điều lệ của công ty mẹ trên thị trường chứng khoán trong giai đoạn 2014 – 2018 nhằm áp chuẩn mực quản trị đại chúng và minh bạch hóa dòng tiền theo chuẩn IFRS.
  3. Tái lập thể chế kiểm toán độc lập và công khai kết luận thanh tra: Quốc hội cần sửa đổi quy chế phối hợp, quy định rõ Kiểm toán Nhà nước có quyền kiểm toán độc lập định kỳ hàng năm tại tất cả các TĐKTNN mà không bị trì hoãn bởi các đợt thanh tra bộ ngành; đồng thời bắt buộc cơ quan chức năng công bố công khai toàn văn báo cáo tài chính kiểm toán và kết luận thanh tra trên các phương tiện truyền thông đại chúng trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày ký duyệt.
  4. Tăng cường quyền lực giám sát tối cao của Quốc hội đối với nợ công và vốn nhà nước: Quốc hội khóa XIII cần sửa đổi Nghị quyết 49/2010/QH12, thu hẹp thẩm quyền tự quyết đầu tư của Hội đồng thành viên TĐKTNN từ mức 50% vốn điều lệ xuống tối đa 20% hoặc không quá 2.000 tỷ đồng; quy định tất cả các khoản bảo lãnh chính phủ hoặc phát hành trái phiếu quốc tế trên 5.000 tỷ đồng bắt buộc phải được Quốc hội phê chuẩn chủ trương đầu tư.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và kết quả thực nghiệm của luận văn là tài liệu tham khảo thiết thực cho 4 nhóm đối tượng chính:

  • Cơ quan Hoạch định Chính sách Vĩ mô (Ban Kinh tế Trung ương, Bộ Kế hoạch & Đầu tư, Bộ Tài chính): Ứng dụng mô hình SVAR và hệ số chèn lấn -0,658 để tính toán hạn mức phân bổ vốn đầu tư công trung hạn, thiết lập trần nợ công an toàn và hoàn thiện khung khổ pháp lý cho tiến trình tái cơ cấu DNNN.
  • Hội đồng Thành viên và Ban Điều hành các Tập đoàn, Tổng công ty Nhà nước: Vận dụng bài học xương máu từ cuộc đổ vỡ tài chính của Vinashin và Vinalines để tái cấu trúc danh mục đầu tư, kiểm soát hệ số đòn bẩy nợ/vốn chủ sở hữu dưới ngưỡng 3 lần và lập phương án thoái vốn ngoài ngành an toàn.
  • Giảng viên, Học viên Cao học và Nhà Nghiên cứu Kinh tế: Sử dụng luận văn làm tài liệu nghiên cứu mẫu mực về phương pháp lượng hóa kinh tế lượng chuỗi thời gian vĩ mô, kỹ thuật xây dựng ma trận ràng buộc cấu trúc SVAR và phương pháp luận phân tích chính sách công kết hợp case study thực tiễn.
  • Chuyên gia Phân tích Tài chính và Tổ chức Xếp hạng Tín nhiệm: Khai thác dữ liệu về mối tương quan giữa rủi ro tài chính của khu vực công với biên độ dao động lợi suất trái phiếu quốc tế để xây dựng các mô hình định giá rủi ro quốc gia và rủi ro tín dụng doanh nghiệp chuẩn xác.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao việc thành lập các tập đoàn như Vinatex hay HUD lại không thỏa mãn lý thuyết kinh tế?

Theo lý thuyết kinh tế học công cộng, sự can thiệp của Nhà nước chỉ hợp lý nhằm sửa chữa thất bại thị trường. Lĩnh vực dệt may của Vinatex hay kinh doanh bất động sản của HUD có tính cạnh tranh thị trường hoàn hảo, không có đặc tính độc quyền tự nhiên hay hàng hóa công cộng, nơi mà khu vực tư nhân hoàn toàn làm tốt hơn mà không cần đến vốn ngân sách.

Mô hình SVAR trong luận văn chứng minh hiệu ứng chèn lấn như thế nào?

Mô hình ước lượng trên chuỗi dữ liệu quý giai đoạn 1995 – 2011 xác lập hệ số $c_{PI}^{GI} = -0,658$ với p-value = 0,000. Điều này chứng minh bằng thực nghiệm rằng khi tốc độ tăng đầu tư công tăng thêm 1%, tốc độ tăng đầu tư của khu vực tư nhân sẽ bị chèn lấn và sụt giảm 0,66% do áp lực cạnh tranh nguồn vốn và tăng lãi suất.

Khủng hoảng nợ của Vinashin gây thiệt hại định lượng ra sao đối với tín nhiệm quốc gia?

Khi Vinashin mất khả năng thanh toán khoản lãi 60 triệu USD cuối năm 2010, các tổ chức xếp hạng tín nhiệm quốc tế (Moody's, Fitch, S&P) đồng loạt hạ bậc Việt Nam. Sự kiện này khiến lãi suất trái phiếu quốc tế của các tổ chức trong nước tăng vọt, làm phát sinh thêm hơn 20,075 triệu USD tiền lãi trong giai đoạn 2011 – 2012.

Vì sao kết quả của luận văn trái ngược với nghiên cứu năm 2007 của IMF?

Nghiên cứu của IMF chỉ sử dụng số liệu giai đoạn 1994 – 2006 khi các TĐKTNN chưa mở rộng quy mô. Luận văn của tác giả Nguyễn Hoài Nam mở rộng chuỗi dữ liệu đến năm 2011, bao quát giai đoạn 13 TĐKTNN bùng nổ đầu tư ngoài ngành (23.742 tỷ đồng) và gói kích cầu 140.000 tỷ đồng năm 2009, thời điểm hiện tượng chèn lấn bộc lộ rõ nhất.

Lỗ hổng quản trị và kiểm toán lớn nhất đối với TĐKTNN giai đoạn 2006 – 2009 là gì?

Vinashin đã trải qua 7 cuộc thanh tra của các bộ ngành trong giai đoạn 2006 – 2009 nhưng không bị phát hiện sai phạm do cơ chế giám sát lỏng lẻo. Đồng thời, Kiểm toán Nhà nước hoàn toàn không thể thực hiện đợt kiểm toán nào trong suốt thời gian này do sự chồng chéo chức năng và cơ chế hoãn kiểm toán bất cập.

Kết luận

  • Luận văn khẳng định việc thí điểm thành lập nhiều TĐKTNN trong các ngành cạnh tranh như dệt may, xây dựng là không phù hợp với lý thuyết sửa chữa thất bại thị trường.
  • Vỡ nợ tại Vinashin đã gây hệ lụy dây chuyền khiến các tổ chức quốc tế hạ bậc tín nhiệm tín dụng của Việt Nam, gây tổn thất hơn 20,075 triệu USD chi phí vốn vay nước ngoài.
  • Mô hình kinh tế lượng SVAR giai đoạn 1995 – 2011 cung cấp bằng chứng thực nghiệm vững chắc: Tốc độ đầu tư công tăng 1% làm sụt giảm 0,66% tốc độ đầu tư tư nhân.
  • Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ việc đầu tư ngoài ngành tràn lan đạt 23.742 tỷ đồng năm 2011 cùng sự thiếu hụt cơ chế giải trình, thanh tra và kiểm toán độc lập.
  • Hệ thống 4 nhóm khuyến nghị đưa ra lộ trình rõ ràng về thoái vốn, niêm yết đại chúng công ty mẹ, tăng cường quyền năng cho Kiểm toán Nhà nước và quyền giám sát của Quốc hội.

Nhằm hiện thực hóa các khuyến nghị chính sách, bước đi tiếp theo đòi hỏi các cơ quan lập pháp và hành pháp triển khai quyết liệt Đề án 339/QĐ-TTg, hoàn thiện thể chế quản lý vốn nhà nước giai đoạn 2015 – 2020. Hãy khai thác toàn văn luận văn thạc sĩ kinh tế này để làm chủ mô hình định lượng SVAR và kho dữ liệu thực nghiệm giá trị phục vụ công tác nghiên cứu và hoạch định chính sách kinh tế vĩ mô chuyên sâu.