Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp "Kinh doanh các dịch vụ liên quan đến rác thải: Mô hình tại Nhật Bản và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam" được thực hiện bởi sinh viên Nguyễn Thủy Hương, chuyên ngành Kinh tế đối ngoại, Khoa Kinh tế và Kinh doanh Quốc tế, Trường Đại học Ngoại thương Hà Nội (tháng 6/2008), dưới sự hướng dẫn của giảng viên Lê Huyền Trang.
Về bối cảnh thực tiễn, kinh doanh dịch vụ liên quan đến rác thải là một nhánh quan trọng của ngành dịch vụ môi trường đang thu hút sự chú ý trên thị trường toàn cầu. Lĩnh vực này được đưa vào chương trình đàm phán gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) theo Tuyên bố Doha, đồng thời các quy định về đánh giá tác động môi trường đang trở thành điều kiện bắt buộc trong các hiệp định đầu tư quốc tế. Theo Báo cáo Môi trường Châu Á (2005), thị trường dịch vụ rác thải được dự báo có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất thế giới trong thập niên tiếp theo, đặc biệt tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương mà Nhật Bản là quốc gia đứng đầu. Trong khi đó, tại Việt Nam, sau khi gia nhập WTO, thị trường này vẫn còn sơ khai, đối mặt với sự bất cập về cơ chế quản lý, thiếu hụt tài chính và hạ tầng kỹ thuật yếu kém. Do đó, việc nghiên cứu mô hình kinh doanh dịch vụ rác thải thành công của Nhật Bản để rút ra bài học thực tiễn cho Việt Nam là yêu cầu cấp thiết.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của khóa luận được phân định thành ba nhiệm vụ chính:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận, hệ thống pháp luật và phân tích mô hình quản lý, kinh doanh dịch vụ liên quan đến rác thải tại Nhật Bản, đi sâu vào các nhóm ngành cụ thể và mô hình thành phố sinh thái Kitakyushu.
- Khảo sát và đánh giá toàn diện thực trạng phát sinh, thu gom, xử lý, tái chế rác thải và hoạt động của các chủ thể cung ứng dịch vụ rác thải tại Việt Nam; xác định những trở ngại và tiềm năng phát triển của thị trường.
- Rút ra các bài học kinh nghiệm từ Nhật Bản, từ đó đề xuất các nhóm giải pháp chính sách, quản lý, tài chính và xây dựng thử nghiệm mô hình kinh doanh dịch vụ rác thải tại một địa bàn cấp cơ sở ở Việt Nam (phường Kim Liên, quận Đống Đa, Hà Nội).
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Các hoạt động và mô hình kinh doanh dịch vụ liên quan đến rác thải (thu gom, vận chuyển, tái chế, xử lý và tiêu hủy) áp dụng đối với rác thải rắn đô thị (RTRĐT), rác thải công nghiệp (RTCN) và rác thải y tế (RTYT).
- Phạm vi không gian: Nghiên cứu đối chiếu giữa mô hình quốc gia Nhật Bản (trọng tâm là khu công nghiệp sinh thái Kitakyushu) và thực tiễn tại Việt Nam (tập trung vào các đô thị lớn như Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh và mô hình thực nghiệm vi mô tại phường Kim Liên).
- Phạm vi thời gian: Khóa luận sử dụng chuỗi dữ liệu thứ cấp giai đoạn 1996 - 2006 đối với Nhật Bản và giai đoạn 2000 - 2007 đối với Việt Nam, đưa ra các dự báo và định hướng phát triển đến giai đoạn 2010 - 2020.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Về mặt lý luận, khóa luận đối chiếu các định nghĩa quốc tế về rác thải từ Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD, 1997), Chỉ thị 75/442/EEC của Ủy ban Châu Âu (Phụ lục I), Công ước Basel (1992) và Luật Quản lý rác thải Nhật Bản (Waste Management and Public Cleansing Law, 2000). Tại Việt Nam, nghiên cứu căn cứ vào khoản 9 Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 để phân định chất thải thông thường và chất thải nguy hại. Về dịch vụ môi trường, tác giả áp dụng khung định nghĩa của OECD (1999): dịch vụ rác thải bao gồm các hoạt động đo lường, hạn chế, thu gom, xử lý, tiêu hủy rác thải rắn và nguy hại, phân loại vật liệu tái chế và các dịch vụ vận hành, kiểm tra liên quan.
Hệ thống quản lý chất thải của Nhật Bản được soi chiếu qua triết lý 3R (Reduce - Giảm thiểu, Reuse - Tái sử dụng, Recycle - Tái chế) cùng trật tự ưu tiên 5 bậc trong Luật Cơ bản về xây dựng xã hội dựa trên tái chế (năm 2000):
- Giảm thiểu lượng phát sinh tại nguồn (Reduce);
- Tái sử dụng sản phẩm hoặc linh kiện (Reuse);
- Tái chế vật liệu thô khi không thể tái sử dụng (Recycle);
- Thu hồi nhiệt năng qua thiêu đốt có kiểm soát (Energy recovery);
- Tiêu hủy thích hợp tại bãi chôn lấp hợp vệ sinh đối với phần dư thừa cuối cùng (Appropriate disposal).
Về phương pháp nghiên cứu, tác giả phối hợp các phương pháp nghiên cứu học thuật kinh tế:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp dữ liệu thứ cấp từ các báo cáo chính thức của các cơ quan quản lý nhà nước và tổ chức quốc tế.
- Phương pháp so sánh đối chiếu (comparative analysis) giữa thể chế, hạ tầng kỹ thuật và cơ chế vận hành thị trường dịch vụ rác thải của một nước phát triển (Nhật Bản) với một nước đang phát triển (Việt Nam).
- Phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình (case study): Khảo sát điển hình vùng công nghiệp sinh thái Kitakyushu (Nhật Bản), nghiên cứu mô hình doanh nghiệp tư nhân Huy Hoàng tại Lạng Sơn và lập đề án mô hình tại phường Kim Liên (Hà Nội).
Nguồn dữ liệu của nghiên cứu bao gồm:
- Dữ liệu quốc tế và Nhật Bản: Báo cáo của Bộ Môi trường Nhật Bản (MOE), Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp Nhật Bản (METI), Tổ chức Xúc tiến Thương mại Nhật Bản (JETRO), Viện Chiến lược Môi trường Toàn cầu (IGES), Hiệp hội các nhà sản xuất máy móc công nghiệp Nhật Bản, Ủy ban Thương mại Quốc tế Hoa Kỳ (USITC).
- Dữ liệu Việt Nam: Báo cáo Hiện trạng Môi trường Quốc gia (2004), Báo cáo Diễn biến Môi trường Việt Nam (2004), số liệu quan trắc của Trung tâm Kỹ thuật Môi trường Đô thị và Khu công nghiệp (CEETIA, 2002), thống kê của Công ty Môi trường Đô thị Hà Nội (URENCO) và các quyết định pháp lý của Thủ tướng Chính phủ (Quyết định 64/2003/QĐ-TTg).
Nội dung chính theo từng chương
Chương I: Giới thiệu về mô hình kinh doanh dịch vụ liên quan đến rác thải tại Nhật Bản
Chương này tập trung phác thảo bức tranh toàn cảnh về hệ thống xử lý kỹ thuật, khung pháp lý và hoạt động thương mại hóa dịch vụ rác thải tại Nhật Bản. Lượng RTRĐT phát sinh tại Nhật Bản đạt khoảng 52,4 triệu tấn/năm, trong đó chi phí thu gom chiếm 50% - 70% tổng chi phí quản lý rác thải đô thị. Khoảng 80% RTRĐT được xử lý bằng phương pháp đốt thu hồi năng lượng, phần còn lại được chôn lấp. Đối với RTCN, các doanh nghiệp Nhật Bản thải ra gần 406 triệu m³ rác mỗi năm (dao động khoảng 400 - 415 triệu tấn/năm); trách nhiệm xử lý thuộc về chính các doanh nghiệp phát thải thông qua việc thuê khoảng 7.000 cơ sở xử lý, đốt và tái chế tư nhân. Nhật Bản đặt mục tiêu đến năm 2016 xử lý triệt để chất thải độc hại PCB với kế hoạch xây dựng 5 nhà máy xử lý hóa học lớn trên cả nước (trong đó nhà máy tại Tokyo có mức đầu tư 260 triệu USD).
Về mặt thể chế, MOE quản lý khung chiến lược môi trường, còn METI phụ trách hỗ trợ công nghiệp tái chế. Ba đạo luật trụ cột gồm: Luật Cơ bản về xây dựng xã hội dựa trên tái chế, Luật Quản lý rác thải và Luật Sử dụng hữu hiệu các nguồn tài nguyên. Đến năm 2010, Nhật Bản đặt chỉ tiêu năng suất tài nguyên đạt 390.000 Yên/tấn (tăng 40% so với năm 2000), tỷ lệ tái chế đạt 14% và khối lượng xử lý tiêu hủy cuối cùng giảm xuống còn 28 triệu tấn (giảm 50% so với năm 2000).
Thị trường kinh doanh dịch vụ rác thải tại Nhật Bản tạo ra doanh thu đứng đầu khu vực châu Á - Thái Bình Dương và xếp thứ hai thế giới (sau Hoa Kỳ). Doanh thu dịch vụ xử lý RTCN năm 2000 đạt 30,9 tỷ USD, chiếm 36% tổng doanh thu ngành môi trường; dự báo toàn ngành đạt 20.000 tỷ Yên và tạo ra gần 600.000 việc làm vào năm 2020. Tác giả khảo sát chi tiết kết quả tái chế theo từng phân khúc ngành hàng:
| Nhóm rác thải |
Số liệu phát sinh và tỷ lệ tái chế tại Nhật Bản |
Cơ chế và chi phí liên quan |
| Rác thực phẩm |
Tổng phát sinh 17,4 triệu tấn (15,95 triệu tấn sinh hoạt; 1,45 triệu tấn công nghiệp). Tái chế làm thức ăn chăn nuôi đạt 520.000 tấn; làm phân bón đạt 120.000 tấn; 91% đem đốt/chôn lấp. |
Điển hình thành phố Nagai (33.000 dân) giảm 70% rác nhà bếp nhờ sản xuất phân bón. Thị trường máy xử lý rác gia đình đạt 230.000 chiếc năm 2000. |
| Điện gia dụng |
Năm 2002 thu gom 10,147 triệu sản phẩm (386.858 tấn), tái chế 262.822 tấn (đạt 67%). Tỷ lệ tái chế theo thiết bị: Điều hòa 78%, Tivi 75%, Tủ lạnh 61%, Máy giặt 60%. |
Thực thi theo Luật Tái chế đồ gia dụng. Phí người dùng chi trả: Điều hòa 3.675 Yên, Tivi 2.835 Yên, Tủ lạnh 4.830 Yên, Máy giặt 2.520 Yên. Thị trường tái chế đạt 50 - 60 tỷ Yên. |
| Bao bì, chai lọ |
Vỏ chai bia tái sử dụng đạt 99% (nhờ cọc vỏ 5 Yên/vỏ). Vụn thủy tinh chiếm 80% nguyên liệu làm chai mới. Lon nhôm tái chế đạt 83,1%, lon thép đạt 86,1% (năm 2002). Tỷ lệ thu gom chai nhựa PET đạt 53,4% năm 2002 (220.256 tấn). |
Luật Tái chế bao bì (1997). Phí xử lý nhà nước ký hợp đồng: Chai thủy tinh trong 2,8 Yên/kg; chai nâu 4,8 Yên/kg; chai màu khác 8,0 Yên/kg. |
| Vật liệu xây dựng |
Năm 2002 phát sinh 83 triệu tấn, tỷ lệ tái chế chung đạt 92%. Trong đó: Nhựa đường tái chế 99%, Bê tông 98%, Gỗ 89%, Nước thải xây dựng 69%, Rác hỗn hợp 36%. |
Có 777 nhà máy tái chế nhựa đường, 1.790 nhà máy nghiền đá, 416 nhà máy xử lý rác hỗn hợp. |
| Rác thải ô tô |
Thải bỏ khoảng 2 triệu xe/năm (1 triệu xe xuất khẩu cũ, 1 triệu xe đưa vào tái chế). Tỷ lệ tái chế đạt 80% - 88%. |
Toyota Metal Co., Ltd áp dụng phương pháp ASR tái chế 2.000 tấn xe/tháng. Phí tái chế quy định khoảng 20.000 Yên/xe. |
Về mô hình điển hình, thành phố Kitakyushu triển khai dự án Eco-Town từ năm 1997 với sự phê duyệt của METI và MOE. Chính phủ trung ương áp dụng hai gói trợ cấp: dự án cứng (hỗ trợ 1/3 chi phí đầu tư cơ sở tái chế, tương đương 300 - 500 triệu Yên/dự án) và dự án mềm (hỗ trợ 1/2 chi phí lập quy hoạch, thông tin). Ngân sách quản lý rác của Kitakyushu chiếm 1,6% - 5% tổng ngân sách thành phố (trong đó nhân sự chiếm 35%, quản lý chung chiếm 20%, xây dựng lò đốt chiếm 14%). Thành phố áp dụng cơ chế "Túi chỉ định" (Designated Bag) bán với giá 15 Yên/túi, tổ chức 733 cuộc đối thoại thu hút gần 30.000 lượt công dân, thiết lập 32.000 điểm gom rác với hơn 2.100 tình nguyện viên hỗ trợ. Kitakyushu đạt tỷ lệ thu gom gần 100%, 3 nhà máy đốt rác phát điện 27 triệu kWh/năm, và tỷ lệ tuân thủ chính sách đạt 98%.
Chương II: Thực trạng lĩnh vực kinh doanh dịch vụ liên quan đến rác thải tại Việt Nam
Chương II khảo sát thực trạng phát sinh, hạ tầng thu gom, công nghệ xử lý và cấu trúc thị trường dịch vụ rác thải tại Việt Nam:
- Tình hình phát sinh rác thải:
Khu vực đô thị chỉ chiếm 24% dân số cả nước nhưng phát sinh hơn 6 triệu tấn rác sinh hoạt/năm (tương đương 50% tổng lượng rác sinh hoạt cả nước). Lượng phát thải bình quân đô thị đạt trên 2/3 kg/người/ngày (gấp đôi nông thôn); tại Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh dao động từ 0,8 - 1,0 kg/người/ngày, các đô thị khác từ 0,4 - 0,5 kg/người/ngày. Toàn quốc phát sinh khoảng 9.000 tấn RTRĐT/ngày (chiếm 47% tổng lượng rác thải). Tại các khu công nghiệp vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, rác sinh hoạt phát sinh 566 tấn/ngày, rác sản xuất 312 tấn/ngày.
Theo kết quả quan trắc của CEETIA (2002) tại Hà Nội, thành phần rác thải đô thị bao gồm: 53,4% chất hữu cơ; 15,2% cao su và nhựa; 8,1% giấy và bìa các-tông; 4,2% kim loại; 3,8% thủy tinh; 15,3% đất, cát, gạch vỡ. Mỗi ngày Hà Nội tiêu thụ khoảng 4 triệu túi nilon (trung bình 7 - 8 túi/hộ gia đình); cứ 1.000 tấn rác thu gom có 10 - 15 tấn túi nilon.
RTCN phát sinh bằng 20% - 25% lượng rác sinh hoạt, tập trung phần lớn ở phía Nam (TP. Hồ Chí Minh phát sinh 31% tổng RTCN cả nước). Cả nước có 1.450 làng nghề tại 56 tỉnh, hàng năm phát thải khoảng 774.000 tấn RTCN không nguy hại (54% tập trung tại Hà Tây, Bắc Ninh, Hà Nội; 68% thuộc miền Bắc). Cơ cấu nguồn phát sinh chất thải nguy hại công nghiệp gồm: công nghiệp nhẹ (47%), hóa chất (24%), luyện kim cơ khí (20%), chế biến thực phẩm (8%), điện - điện tử (1%).
RTYT nguy hại phát sinh khoảng 34 ngàn tấn trong ngày đêm (theo dữ liệu văn bản), trong đó 70% tập trung tại các thành phố, thị xã; TP. Hồ Chí Minh, Hà Nội và Thanh Hóa mỗi nơi phát sinh khoảng 6.000 tấn/năm. Rác thải nông nghiệp nguy hại tồn đọng khoảng 8.600 tấn vỏ bao bì thuốc bảo vệ thực vật và 37.000 tấn hóa chất nông nghiệp bị tịch thu cần xử lý.
- Công tác thu gom, xử lý và tiêu hủy:
Tỷ lệ thu gom RTRĐT toàn quốc chỉ tăng từ 65% (năm 2000) lên 71% (năm 2003); đô thị quy mô trên 50.000 hộ đạt 76%, các đô thị từ 100.000 - 350.000 dân đạt 70%; biên độ dao động từ 45% (Long An) đến 95% (Huế). Rác thải phần lớn không được phân loại tại nguồn. Cơ chế tài chính bao cấp từ ngân sách nhà nước, công tác xã hội hóa thấp.
Phương pháp xử lý chủ yếu là chôn lấp tại các bãi rác lộ thiên; toàn quốc có 91 bãi chôn lấp nhưng chỉ có 17 bãi hợp vệ sinh (chỉ 12/61 tỉnh thành có bãi chôn lấp đạt chuẩn kỹ thuật, chủ yếu dựa vào vốn ODA). Điển hình là Khu liên hợp Nam Sơn (Hà Nội, thành lập năm 1999) có công suất 13 triệu tấn trên diện tích 83 ha. TP. Hồ Chí Minh có 7 bô rác trung chuyển sinh hoạt với công suất trung chuyển tối đa 1.830 tấn/ngày (đáp ứng 68% lượng rác thành phố).
Tại các vùng ven chưa có dịch vụ, các hình thức tự tiêu hủy (đổ ra sông hồ, đổ quanh nhà, tự đốt) chiếm tỷ lệ cao. Tác động môi trường rất nặng nề: tại bãi rác Đông Thạnh (TP. Hồ Chí Minh), 58% cư dân vùng lân cận mắc các bệnh da liễu, tiêu hóa, hô hấp; 100% giếng nước ngầm nhiễm bẩn lý - hóa và độ pH xuống xấp xỉ 4 (nhiễm axit nặng).
Đối với RTYT, cả nước có 47 lò đốt nhập ngoại (công suất từ 20 - 100 kg/giờ, riêng 2 lò lớn tại Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh đạt 200 kg/giờ và 1.000 kg/giờ; suất đầu tư khoảng 3 tỷ đồng/lò) và 14 lò đốt nội địa (công suất 20 - 50 kg/giờ; suất đầu tư khoảng 300 triệu đồng/lò). Tuy nhiên, chi phí đốt RTYT nguy hại lên tới 5.000 đồng/kg (so với 170 đồng/kg thu gom rác y tế thông thường), khiến các bệnh viện thiếu kinh phí vận hành dẫn đến việc đốt không đủ nhiệt hoặc đổ lẫn vào rác sinh hoạt. Điểm sáng là lò đốt Cầu Diễn đã nâng tỷ lệ xử lý RTYT tại Hà Nội từ 33% (năm 2003) lên hơn 90% (năm 2004).
- Khu vực kinh doanh và tái chế rác thải:
Thị trường dịch vụ rác thải chính thức chủ yếu do các công ty URENCO nhà nước chi phối. Khu vực tư nhân bước đầu hình thành với các mô hình thử nghiệm hiệu quả: Công ty TNHH Huy Hoàng tại Lạng Sơn (sử dụng 250 công nhân thu gom rác tại các vùng công ích chưa phủ tới) và các hợp tác xã môi trường tại Bắc Giang, Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh. Hoạt động tái chế phi chính thức diễn ra theo chuỗi mạng lưới 3 cấp:
- Cấp 1: Người nhặt rác và người mua ve chai, đồng nát lưu động;
- Cấp 2: Các đại lý thu mua phế liệu tầm trung có điểm tập kết cố định;
- Cấp 3: Chủ vựa thu mua phế liệu lớn, đóng vai trò kết nối trực tiếp với các nhà máy sản xuất công nghiệp.
Hơn 80% RTCN không nguy hại có tiềm năng tái chế; nếu 6 ngành công nghiệp trọng điểm tái chế được 50% rác thải sẽ tiết kiệm 3,5 triệu USD chi phí tiêu hủy. Các làng nghề tái chế (như Đa Hội tái chế sắt, Dương Ổ tái chế giấy, Minh Khai tái chế nhựa) tái sử dụng tới hơn 90% nguyên liệu thu gom, tạo việc làm và thu nhập vượt trội so với sản xuất nông nghiệp thuần túy. Những rào cản cản trở thị trường gồm: văn bản pháp lý thiếu đồng bộ, phân tán trách nhiệm giữa các bộ ngành; thiếu nguồn vốn tín dụng môi trường; ý thức doanh nghiệp và người dân về phân loại rác còn rất thấp.
Chương III: Bài học kinh nghiệm từ Nhật Bản và một số giải pháp nhằm thúc đẩy thị trường kinh doanh dịch vụ liên quan đến rác thải tại Việt Nam
Trên cơ sở phân tích kinh nghiệm Nhật Bản, tác giả đúc kết 3 bài học nền tảng:
- Xây dựng đồng bộ khung khổ luật pháp và các công cụ kinh tế điều chỉnh hành vi của người gây ô nhiễm (nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền - PPP, trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất - EPR).
- Tuyên truyền, giáo dục thực chất và huy động sự đồng thuận của cộng đồng dân cư thông qua đối thoại công khai, biến người dân thành chủ thể giám sát và thực thi.
- Kích thích sự tham gia sâu rộng của các thành phần kinh tế tư nhân thông qua các gói trợ cấp mục tiêu (dự án cứng - mềm), chuyển giao công nghệ và đấu thầu minh bạch các dịch vụ công.
Từ đó, khóa luận đưa ra 5 nhóm giải pháp vĩ mô cho Việt Nam:
- Hoàn thiện khung chính sách pháp luật: Rà soát, cụ thể hóa các quy định của Luật Bảo vệ môi trường 2005; ban hành các luật chuyên ngành về tái chế rác thải bao bì, thiết bị điện tử gia dụng tương tự Nhật Bản.
- Nâng cao hiệu lực quản lý: Phân định rõ trách nhiệm giữa Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Xây dựng và chính quyền địa phương; xóa bỏ cơ chế độc quyền của các công ty công ích nhà nước, thiết lập cơ chế đấu thầu cung cấp dịch vụ thu gom, xử lý.
- Đổi mới tuyên truyền và giáo dục môi trường: Đưa giáo dục phân loại rác vào trường học; tổ chức đối thoại trực tiếp giữa chính quyền cơ sở và người dân khi thay đổi quy trình thu gom rác.
- Cải tiến công tác thu hồi chi phí: Chuyển đổi cơ chế thu phí vệ sinh cào bằng sang định giá dịch vụ phản ánh đúng chi phí thực tế; thí điểm cơ chế trả tiền theo lượng phát thải.
- Huy động vốn đầu tư và tối ưu hóa vận hành: Thành lập quỹ môi trường hỗ trợ vốn vay ưu đãi cho các doanh nghiệp tư nhân đầu tư công nghệ lò đốt, dây chuyền tái chế; áp dụng chính sách ưu đãi thuế và mặt bằng cho các cơ sở công nghiệp môi trường.
Ở phần cuối chương, tác giả xây dựng đề xuất thực nghiệm: "Mô hình kinh doanh dịch vụ liên quan đến rác thải tại phường Kim Liên (quận Đống Đa, Hà Nội)". Phường Kim Liên được lựa chọn do đặc thù mật độ dân cư cao, nhiều khu tập thể cũ và lượng rác sinh hoạt lớn. Đề xuất gồm 3 trụ cột:
- Cơ chế chính sách địa phương: Quy định phân loại rác bắt buộc tại hộ gia đình (rác hữu cơ dễ phân hủy và rác vô cơ/tái chế);
- Giải pháp tài chính: Thí điểm áp dụng túi đựng rác trả tiền (Túi chỉ định) theo giá trợ cấp một phần từ ngân sách quận để bù đắp chi phí vận hành;
- Quy trình thu gom - xử lý: Hợp đồng với doanh nghiệp tư nhân hoặc hợp tác xã thực hiện thu gom theo giờ cố định bằng xe chuyên dụng kín; rác hữu cơ chuyển về nhà máy phân compost Cầu Diễn, rác tái chế liên kết với mạng lưới thu gom phi chính thức để chuyển giao cho các làng nghề xử lý.
Kết quả và đóng góp của nghiên cứu
Khóa luận đã trích xuất, lượng hóa và hệ thống hóa được bức tranh thực trạng xử lý rác thải giữa hai quốc gia:
| Tiêu chí so sánh |
Mô hình tại Nhật Bản |
Thực trạng tại Việt Nam (thời điểm nghiên cứu) |
| Công nghệ xử lý chính |
~80% thiêu đốt thu hồi năng lượng (phát điện); chôn lấp chiếm tỷ lệ nhỏ. |
96% lượng rác thu gom đưa về các bãi chôn lấp (chỉ 17/91 bãi đạt chuẩn vệ sinh). Chưa có lò đốt rác đô thị. |
| Trách nhiệm với RTCN |
Doanh nghiệp phát thải tự chịu chi phí và hợp đồng với 7.000 cơ sở xử lý tư nhân. |
Đổ lẫn vào rác sinh hoạt; các cơ sở nhỏ tự đốt bằng nồi hơi thủ công hoặc thải trộm ra môi trường. |
| Chính sách phân loại |
Bắt buộc phân loại tại nguồn; áp dụng hệ thống Túi chỉ định (Designated Bag) có trả tiền (giá 15 Yên tại Kitakyushu). |
Rác thải hầu hết không phân loại tại nguồn, gom lẫn lộn vào ban đêm; phí vệ sinh mang tính chất bao cấp cào bằng. |
| Chủ thể cung ứng dịch vụ |
Khối tư nhân chiếm ưu thế trong xử lý RTCN và tái chế; nhà nước điều tiết và trợ cấp (dự án cứng/mềm). |
Doanh nghiệp nhà nước (URENCO) độc quyền phần lớn; khối tư nhân mới xuất hiện ở quy mô nhỏ (Cty Huy Hoàng, các HTX). |
| Tái chế vật liệu |
Tỷ lệ cao: ô tô đạt 80% - 88%, vật liệu xây dựng 92%, thiết bị gia dụng 67%, vỏ lon kim loại trên 83%. |
Dựa vào mạng lưới phi chính thức (đồng nát 3 cấp); làng nghề tái chế trên 90% rác thu gom nhưng gây ô nhiễm cục bộ. |
Đóng góp của khóa luận:
- Về mặt lý luận: Cung cấp hệ thống tài liệu chuyên khảo về kinh tế dịch vụ môi trường theo chuẩn mực của OECD và kinh nghiệm lập pháp của Nhật Bản cho sinh viên và nhà nghiên cứu kinh tế đối ngoại.
- Về mặt thực tiễn: Đề xuất một lộ trình rõ ràng nhằm xóa bỏ độc quyền hành chính trong dịch vụ công ích tại Việt Nam, chuyển đổi từ bao cấp sang cơ chế thị trường; đồng thời đưa ra phương án khả thi khi chuyển dịch mô hình Túi chỉ định của Kitakyushu vào điều kiện một phường nội thành Hà Nội (phường Kim Liên).
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận thừa nhận những hạn chế khách quan về mặt thời gian và khả năng tiếp cận các nguồn tài liệu thứ cấp sâu của tác giả vào thời điểm năm 2008. Dựa trên nội dung văn bản, các hạn chế cụ thể gồm:
- Dữ liệu về chất thải công nghiệp và chất thải y tế nguy hại tại Việt Nam còn thiếu đồng bộ, nhiều số liệu quan trắc mang tính cục bộ hoặc ước tính gián tiếp qua quy mô giường bệnh và số lượng khu công nghiệp.
- Khóa luận chưa thực hiện được điều tra xã hội học sơ cấp về mức độ sẵn sàng chi trả (WTP) của người dân đối với túi rác chỉ định tại phường Kim Liên, mà chủ yếu mới dừng lại ở việc lập mô hình khung dựa trên kinh nghiệm suy luận từ thành phố Kitakyushu.
Hướng mở rộng nghiên cứu tiếp theo:
- Đánh giá khả năng tài chính và phân tích chi phí - lợi ích (CBA) khi triển khai các dự án nhà máy đốt rác phát điện (Waste-to-Energy) theo quy mô công nghiệp tại các đô thị loại I của Việt Nam.
- Nghiên cứu cơ chế hợp tác công tư (PPP) và chính sách trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất (EPR) áp dụng đối với các dòng chất thải đặc thù như rác thải điện tử và vật liệu đóng gói nhựa.
Giá trị tham khảo
Công trình là tài liệu tham khảo cho các nhóm đối tượng:
- Sinh viên và học viên cao học: Cung cấp khung phương pháp luận nghiên cứu kinh tế đối ngoại ứng dụng trong lĩnh vực thương mại dịch vụ môi trường; tài liệu phục vụ các học phần Kinh tế Môi trường, Quản trị Dịch vụ Công và Đàm phán Thương mại Quốc tế.
- Cán bộ quản lý môi trường đô thị: Tham khảo cơ chế trợ cấp cứng - mềm của dự án Eco-Towns và quy trình 733 cuộc đối thoại dân cư khi triển khai chính sách phân loại rác thải tại cấp cơ sở.
- Doanh nghiệp dịch vụ môi trường: Cung cấp bức tranh phân khúc thị trường, định mức chi phí xử lý thiết bị gia dụng, chai lọ thủy tinh và cơ hội kinh doanh các sản phẩm từ tái chế phế liệu xây dựng và phân bón hữu cơ.
Câu hỏi thường gặp
1. Luật Tái chế đồ gia dụng của Nhật Bản quy định tỷ lệ tái chế bắt buộc và mức phí người tiêu dùng phải nộp như thế nào?
Luật quy định tỷ lệ tái chế bắt buộc đối với 4 nhóm sản phẩm: điều hòa nhiệt độ (trên 60%), tivi (trên 55%), tủ lạnh (trên 50%) và máy giặt (trên 50%). Thực tế năm 2002, tỷ lệ tái chế đạt được lần lượt là: điều hòa 78%, tivi 75%, tủ lạnh 61%, máy giặt 60% (bình quân toàn ngành đạt 67%). Người tiêu dùng phải trả toàn bộ chi phí thu gom, vận chuyển và xử lý khi thải bỏ: 3.675 Yên cho một máy điều hòa, 2.835 Yên cho tivi, 4.830 Yên cho tủ lạnh và 2.520 Yên cho máy giặt.
2. Mô hình Eco-Town Kitakyushu áp dụng cơ chế trợ cấp và công cụ "Túi chỉ định" ra sao?
Chính phủ Nhật Bản áp dụng hai hình thức hỗ trợ: dự án trợ cấp cứng (trợ cấp 1/3 tổng chi phí cơ sở hạ tầng tái chế, khoảng 300 - 500 triệu Yên/dự án, tổng kinh phí trên 1,4 tỷ Yên) và dự án trợ cấp mềm (hỗ trợ 1/2 chi phí lập quy hoạch, thông tin). Thành phố áp dụng "Túi chỉ định" với giá 15 Yên/túi; triển khai 6 tháng thử nghiệm phát túi miễn phí, huy động 2.100 tình nguyện viên hướng dẫn tại 32.000 điểm gom rác và tổ chức 733 cuộc đối thoại với gần 30.000 người dân, đạt tỷ lệ tuân thủ chính sách 98%.
3. Tỷ lệ phát sinh và thành phần đặc trưng của rác thải đô thị Hà Nội theo số liệu nghiên cứu là gì?
Lượng rác phát sinh bình quân tại Hà Nội đạt khoảng 0,8 - 1,0 kg/người/ngày; mỗi ngày thành phố thải ra khoảng 4 triệu túi nilon (trung bình 7 - 8 túi/hộ). Theo số liệu quan trắc của CEETIA (2002), thành phần rác thải sinh hoạt Hà Nội gồm: chất hữu cơ chiếm 53,4%; cao su và nhựa chiếm 15,2%; giấy và bìa các-tông chiếm 8,1%; kim loại chiếm 4,2%; thủy tinh chiếm 3,8%; đất, đá, gạch vụn chiếm 15,3%.
4. Chi phí xử lý rác thải y tế nguy hại tại Việt Nam chênh lệch như thế nào so với rác y tế thông thường?
Theo số liệu trong khóa luận, chi phí đốt RTYT nguy hại bằng lò đốt chuyên dụng đạt mức khoảng 5.000 đồng/kg, trong khi đó chi phí thu gom và xử lý rác y tế thông thường chỉ vào khoảng 170 đồng/kg. Mức chênh lệch chi phí gần 30 lần này là nguyên nhân chính khiến nhiều bệnh viện không đủ ngân sách vận hành lò đốt, dẫn tới tình trạng rác y tế nguy hại bị thải trộm hoặc đổ lẫn vào hệ thống rác thải sinh hoạt đô thị.
5. Hệ thống thu gom và tái chế rác thải phi chính thức ở Việt Nam được tổ chức theo các cấp độ nào?
Hệ thống vận hành qua mạng lưới 3 cấp: Cấp 1 gồm người nhặt rác tại bãi và người thu gom ve chai, đồng nát lưu động; Cấp 2 là các chủ thu mua phế liệu tầm trung có địa điểm tập kết cố định và nguồn vốn khá; Cấp 3 là các chủ vựa phế liệu lớn, sở hữu nhiều đại lý và nguồn vốn lớn, đóng vai trò đầu mối cung cấp nguyên liệu trực tiếp cho các nhà máy công nghiệp hoặc các làng nghề tái chế (như sắt Đa Hội, giấy Dương Ổ, nhựa Minh Khai).
Kết luận
Khóa luận của tác giả Nguyễn Thủy Hương đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý thuyết, cơ chế thị trường và hệ thống pháp luật điều chỉnh ngành kinh doanh dịch vụ rác thải tại Nhật Bản, làm nổi bật vai trò phối hợp giữa nhà nước và khu vực tư nhân tại thành phố sinh thái Kitakyushu. Đồng thời, công trình phản ánh khách quan bức tranh thực trạng quản lý rác thải tại Việt Nam với tỷ lệ chôn lấp lộ thiên cao, cơ chế bao cấp cào bằng và nguy cơ ô nhiễm nghiêm trọng. Trên cơ sở đó, các bài học kinh nghiệm về hoàn thiện thể chế, huy động vốn đầu tư và mô hình thử nghiệm tại phường Kim Liên cung cấp những luận cứ thực tiễn có giá trị cho quá trình xã hội hóa dịch vụ bảo vệ môi trường đô thị tại Việt Nam.