CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ VIỆC SỬ DỤNG MÔ HÌNH I/O TRONG VIỆC XÁC ĐỊNH NGÀNH KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM 1. TỔNG QUAN VỀ I/O 1. Sơ lược về sự hình thành bảng I/O Mô hình cân đối liên ngành được Giáo sư Wassilily Leontief xây dựng vào cuối những năm 1930 và nhờ đó ông đã được nhận giải thưởng Nobel kinh tế vào năm 1973. Cùng với việc phát triển bảng I/O thành bảng SAM của Richard Stone (1961), Miyazawa mở rộng bảng I/O thành mô hình nhân khẩu – kinh tế (Demographic – Economic modeling) và mô hình này tiếp tục được phát triển bởi Batey và Madden (1983).
Mô hình đưa ra khái niệm ma trận nghịch đảo Leontief mở rộng và ma trận Keynes, qua đó có thể phân tích mối quan hệ giữa các nhóm thu nhập và các nhóm tiêu dùng tương ứng. Cấu trúc và nội dung bảng I/O • Cấu trúc bảng I/O Ngành Sử dụng cho sản xuất Sử dụng cuối cùng GO sử dụng X11 X12 X13 … X1j … X1n C1 G1 I1 X1-M1 X1 Ngành cung cấp X21 X22 X23 … X2j … X2n C2 G1 I1 X1-M1 X2 Xi1 Xi2 Xi3 … Xij … Xin Ci G1 I1 X1-M1 Xi Xn1 Xn2 Xn3 … Xnj … Xnn Cn Gn In Xn-Mn Xn L1 L2 L3 … Lj … Ln Giá trị gia tăng K1 K2 K3 … Kj … Kn P1 P2 P3 … Pj … Pn T1 T2 T3 … Tj … Tn GI X1 X2 X3 … Xj … Xn Luan van 9 • Nội dung cơ bản của bảng I/O Sơ đồ khái quát bảng I/O được cấu trúc bởi các ngành theo cột, gọi là ngành cung cấp (cung); các ngành theo dòng gọi là ngành sử dụng ( cầu). Về nội dung kinh tế, bảng I/O gồm 3 thành phần hay 3 ô, mỗi ô nói lên từng mặt và từng quá trình tái sản xuất. Ô I: Thể hiện chi phí trung gian của các ngành, là phần chủ yếu của bảng bao gồm các ngành sản xuất ra sản phẩm vật chất và các ngành sản xuất ra sản phẩm dịch vụ.
Phần tử Xij của ma trận X thể hiện ngành j sử dụng sản phẩm của ngành i làm chi phí trung gian trong quá trình sản xuất ra sản phẩm j. Tổng theo cột của Ô I thể hiện tổng chi phí trung gian của từng ngành. Ô II: Thể hiện việc sử dụng sản phẩm của mỗi ngành cho tiêu dùng không phải sản xuất, đó là tiêu dùng cuối cùng của hộ gia đình (C), tiêu dùng của chính phủ ( G), tích lũy tài sản (I), xuất khẩu (X) – Nhập khẩu (M) Ô III: Giá trị tăng thêm của các ngành, bao gồm thu nhập của người lao động (L), thuế gián thu đánh vào sản phẩm (T), khấu hao tài sản cố định (K), thặng dư sản xuất (P). Xét theo cột của bảng I/O, có thể nhận thấy để thực hiện quá trình sản xuất mỗi ngành phải sử dụng các yếu tố đầu vào từ các ngành khác trong nền kinh tế và kết hợp các yếu tố đầu vào với giá trị gia tăng để tạo ra giá trị sản xuất cho từng ngành ( Xi ).
Như vậy, giá trị sản xuất của mỗi ngành được xác định bằng tổng đầu vào trung gian được mua từ các ngành khác và giá trị gia tăng được tạo ra bởi chính ngành đó. Mặt khác, mỗi hàng trên bảng I/O thể hiện giá trị sản xuất của từng ngành được sử dụng cho tiêu dùng trung gian của các ngành trong nền kinh tế và cho tiêu dùng cuối cùng. Ký hiệu Fi là giá trị tiêu dùng cuối cùng của ngành thứ i, ta có thể biểu diễn mối quan hệ tuyến tính giữa giá trị sản xuất, tiêu dùng trung gian và tiêu dùng cuối cùng của các ngành trong nền kinh tế bằng hệ phương trình sau: Luan van 10 X1 = X11 + X12 +…+X1j+…+ X1n + F1 X2 = X21 + X22 +…+X2j+…+ X2n + F2 …………………………………… (1) Xi = Xi1 + Xi2 +…+ Xij+… + Xin …………………………………… Xn = Xn1 + Xn2 +…+Xnj+…+ Xnn + Có thể nhận thấy, mỗi ngành trong nền kinh tế có quan hệ rất mật thiết với các ngành khác thông qua việc mua các yếu tố đầu vào từ các ngành, cũng như cung cấp sản phẩm đầu ra cho tiêu dùng trung gian của các ngành. Một ngành có điều kiện phát triển sẽ kéo theo nhu cầu đầu vào tăng cao của một số ngành khác.
Đến lượt mình, các ngành khác lại có điều kiện mở rộng sản xuất, tạo ra nhu cầu đầu vào từ các ngành khác nữa và sự lan tỏa này diễn ra trong toàn bộ nền kinh tế qua rất nhiều vòng. Để phân tích tác động trực tiếp của một ngành đến các ngành đầu vào của nó, người ta sử dụng hệ số chi phí trung gian trực tiếp. Hệ số này cho biết để tạo ra được một đồng giá trị sản xuất của một ngành nào đó, cần phải yêu cầu bao nhiêu giá trị đầu vào mua từ trực tiếp từ các ngành khác. Hệ số chi phí trung gian trực tiếp aij cho biết để sản xuất được 1 đồng giá trị sản xuất của ngành j cần yêu cầu bao nhiêu giá trị trung gian mua từ ngành i, được tính theo công thức sau: X ij a ij = Xj (2) Công thức (2), có thể biến đổi như sau: Xij = aij Xj (3) Thay vào hệ phương trình (1), ta có: Luan van 11 X1 = a11X1 + a12X2 +.
(4) Xi = ai1X1 + ai2X2 +. Xn = an1X1 + an2X2 +. + annXn + Fn Biến đổi hệ phương trình (4), ta có: (1 - a11)X1 - a12X2 -. +(1- ann)Xn = Fn Về mặt toán học, hệ phương trình trên có thể được biểu diễn dưới dạng ma trận như sau: (I – A) X = F (6) Trong đó A là ma trận hệ số chi phí trung gian trực tiếp, I là ma trận đơn vị, X là véc tơ giá trị sản xuất và F là véc tơ sử dụng cuối cùng.
a nn X N FN Công thức (6) có thể biến đổi để biểu diễn quan hệ cơ bản nhất của mô hình I/O, cho phép đo lường sự thay đổi của giá trị sản xuất của từng ngành Luan van 12 cũng như tổng giá trị sản xuất của cả nền kinh tế dưới tác động của sự thay đổi về tiêu dùng cuối cùng về sản phẩm của từng ngành: ∆X = (I − A)-1 ∆F (7) Ma trận (I − A)-1 là ma trận hệ số chi phí toàn phần, hay thường gọi là ma trận nghịch đảo Leontief, ký hiệu là ma trận α. Ma trận này cho biết chi phí toàn phần để sản xuất ra một đơn vị sử dụng cuối cùng của một ngành nào đó. α nn Biểu diễn mô hình (7) dưới dạng hệ phương trình toán học, ta có ∆X 1 = α11∆F1 + α12 ∆F2 +. Xét theo nguồn số liệu Bảng I/O được chia thành 2 dạng: Bảng I/O thực hiện (Báo cáo): Còn được gọi là bảng I/O tĩnh, là bảng I/O được lập trên cơ sở số liệu thực tế của kỳ báo cáo.
Luan van 13 Bảng I/O kế hoạch (dự kiến): Còn được gọi là bảng I/O động, được lập trên cơ sở dự kiến các chỉ tiêu kinh tế cùng mối quan hệ kinh tế trong kỳ kế hoạch. Xét theo đơn vị tính Bảng I/O dạng hiện vật: Là bảng I/O mà các số liệu trong bảng biểu hiện bằng đơn vị hiện vật (đơn vị tự nhiên) tương ứng với từng loại sản phẩm. Bảng I/O dạng hiện vật bao gồm những sản phẩm chủ yếu của nền kinh tế quốc dân (dạng không đối xứng, phản ánh các nguồn và tình hình sử dụng các nguồn đó). Bảng I/O dạng giá trị: Là bảng I/O mà các số liệu trong bảng biểu hiện bằng đơn vị giá trị (giá sử dụng cuối cùng, giá người sản xuất, giá cơ bản).
Bảng I/O giá trị có thể được lập theo ngành kinh tế hoặc theo ngành sản phẩm (dạng đối xứng, phản ánh tình hình chu chuyển của sản phẩm xã hội theo cấu thành vật chất và giá trị). Bảng I/O dạng này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng bởi nó là trung tâm của SNA, có thể mô tả chi tiết mối quan hệ giữa các ngành cũng như kiểm tra các mối liên kết của các bảng cân đối trong toàn bộ hệ thống. Phân loại theo tính chất Có 2 loại bảng I/O: bảng I/O cạnh tranh (competitive – import type) và bảng I/O phi cạnh tranh (non-competitive – import type). Bảng I/O cạnh tranh, ma trận hệ số chi phí trung gian trực tiếp bao gồm chi phí đầu vào là sản phẩm sản xuất trong nước và sản phẩm nhập khẩu, như vậy việc phân tích mức độ lan toả và độ nhậy của nền kinh tế sẽ bị lẫn phần nhập khẩu, một ngành nào đó có độ lan toả cao chưa chắc đã là ngành gây nên ảnh hưởng tích cực đến sản xuất mà chỉ kích thích nhập khẩu.
Bảng I-O phi cạnh tranh, ma trận hệ số chi phí trung gian trực tiếp không bao gồm chi phí đầu vào là sản phẩm nhập khẩu, như vậy khi khảo sát về mức Luan van 14 độ lan toả và độ nhậy của một ngành sẽ phản ánh được về ảnh hưởng của ngành đó đến sản xuất trong nước 1. Ý nghĩa của bảng I/O Mô hình I/O là mô hình toàn diện thể hiện mối liên hệ giữa cung – cầu và hiện nay có rất nhiều mô hình được xây dựng dựa trên nền tảng của mô hình I/O. Là bộ phận cấu thành, giữ vị trí trung tâm trong toàn bộ các tài khoản của SNA. Bảng IO cho phép nghiên cứu quá trình sản xuất, phân phối lần đầu và sử dụng sản phẩm xã hội và GDP.
Bảng I/O có thể dùng để nghiên cứu quy mô, cấu trúc, cơ cấu của các chỉ tiêu kinh tế trong bảng, xác định hệ số kĩ thuật, dự báo kinh tế, phân tích hiệu quả kinh tế,. Dựa trên bảng I/O có thể cho phép mô hình hóa toán học trong các nghiên cứu các quá trình vận động trong nền kinh tế. Bảng I/O thể hiện kết cấu về mặt giá trị lẫn kết cấu hiện vật của các ngành kinh tế cũng như trong toàn bộ nền kinh tế. Phương pháp lập bảng I/O a.
Các loại giá Giá trị hàng hóa và dịch vụ được sản xuất ra hay được sử dụng trong quá trình sản xuất được đo lường theo các loại giá khác nhau. Trong SNA, sử dụng ba loại giá sau: - Giá cơ bản là số tiền người sản xuất nhận được do bán hàng hóa hay dịch vụ sản xuất ra, trừ đi thuế đánh vào sản phẩm, cộng với trợ cấp sản phẩm. Giá cơ bản không bao gồm phí vận tải và phí thương nghiệp.