Chương 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO TỒN DI SẢN VĂN HÓA VÀ KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN MỘT THÀNH VIÊN RỐI NƯỚC THUẬN THÀNH 1. Các khái niệm cơ bản 1. Mô hình Theo Từ điển mở Wiktionary, danh từ mô hình có hai nghĩa: “1. Vật cùng hình dạng nhưng làm thu nhỏ lại nhiều, mô phỏng cấu tạo và hoạt động của một vật khác để trình bày, nghiên cứu.
Ví dụ: mô hình máy bay, triển lãm mô hình nhà ở kiểu mới. Hình thức diễn đạt hết sức gọn theo một ngôn ngữ nào đó các đặc trưng chủ yếu của một đối tượng, để nghiên cứu đối tượng ấy. Ví dụ: Mô hình câu đơn”. [4] Còn theo Từ điển Tiếng Việt do Hoàng Long - Quang Hùng biên soạn, Nxb Hồng Đức, Hà Nội (2012): “Mô hình (danh từ) là kiểu mẫu làm thử để coi đó mà làm ra cái khác to hơn” [6, tr.
Dù các khái niệm có khác nhau nhưng đều thống nhất ở một điểm: Mô hình là danh từ để chỉ một kiểu mẫu để theo đó mà làm ra cái khác (có thể làm to hơn hoặc thu nhỏ lại). Bảo tồn Theo Từ điển Tiếng Việt của Hoàng Phê (2003), “Bảo tồn là giữ lại không để mất đi” [12, tr. TheoTừ điển Tiếng Việt của Hoàng Long - Quang Hùng (2012), “Bảo tồn (động từ): Giữ cho còn; Bảo tồn danh giá, bảo tồn cổ vật” [6, tr. Như vậy cả hai cuốn từ điển đều thống nhất giải thích bảo tồn có nghĩa là giữ lại, giữ cho còn, không để mất đi.
Đối với văn hóa có hai đối tượng để bảo tồn: giá trị văn hóa vật thể và giá trị phi vật thể. Bảo tồn giá trị di sản văn hóa tức là các hành động nhằm bảo vệ, gìn giữ, bảo lưu lại sự tồn tại của các sự vật, hiện tượng, gìn giữ chúng để tồn tại cùng với thời gian. Bảo tồn các sự vật, hiện tượng là lưu giữ, không làm cho chúng bị mai một, bị thay đổi và biến dạng. Văn hóa truyền thống Theo định nghĩa của UNESCO, văn hóa truyền thống (Traditional culture) “Là các tập quán và biểu tượng xã hội mà theo quan niệm của một nhóm xã hội thì được lưu giữ từ quá khứ đến hiện tại thông qua việc lưu truyền giữa các thế hệ và có một tầm quan trong đặc biệt (ngay cả trong trường hợp các tập quán và biểu tượng được hình thành trong khoảng thời gian không lâu) [18, tr.
Theo cách định nghĩa này thì khái niệm văn hóa truyền thống được hiểu là những giá trị văn hóa được truyền từ đời nọ sang đời kia, mang tính ổn định. Nói đến “Văn hóa truyền thống” là nói đến những yếu tố văn hóa được hình thành trong quá khứ, được trao truyền, kế thừa từ đời nọ sang đời kia mang tính ổn định, đặc trưng cho một tộc người, một vùng miền, một địa phương nào đó. Mô hình bảo tồn văn hóa truyền thống Theo cách giải nghĩa danh từ mô hình trong các cuốn Từ điển đã trình bày ở trên, nhóm tác giả đề tài đưa ra khái niệm về mô hình bảo văn hóa truyền thống như sau: Mô hình bảo tồn văn hóa truyền thống là một kiểu mẫu của việc bảo tồn giá trị di sản văn hóa truyền thống do các tổ chức và các cá nhân thực hiện nhằm lưu giữ những giá trị di sản văn hóa vật thể và phi vật thể có giá trị của người xưa để lại. Từ kiểu mẫu này có thể nhân rộng ra xã hội nhằm khuyến khích các tổ chức và cá nhân tham gia vào quá trình bảo tồn phát huy giá trị di sản văn hóa của dân tộc.
Như vậy ở đây mô hình có nghĩa là một kiểu dạng, một cách thức làm mà từ đó có thể đem nhân rộng ra xã hội. Hiện nay, mô hình bảo tồn văn hóa truyền thống do tư nhân thực hiện, nói một cách khác là mô hình xã hội hóa văn hóa đang ngày càng trở nên phổ biến ở nước ta. Nó thể hiện ở việc lập các bảo tàng tư nhân, các viện nghiên cứu, các trung tâm thực hành văn hóa…do tư nhân tự đứng ra thành lập có sự cho phép của Nhà nước, mà mô hình của Công ty TNHH MTV Rối nước Thuận Thành được đề cập nghiên cứu trong đề tài là một ví dụ điển hình. Tiền đề và cơ sở pháp lý của việc xây dựng mô hình bảo tồn văn hóa truyền thống 1.Tiền đề của việc xây dựng mô hình bảo tồn văn hóa Xây dựng mô hình bảo tồn văn hóa truyền thống do các cá nhân đứng ra đảm nhiệm thực chất là quá trình xã hội hóa việc bảo tồn giá trị di sản văn hóa truyền thống.TS Trương Quốc Bình trong bài viết “Xã hội hóa các hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị kho tàng di sản văn hóa ở Việt Nam”,Tạp chí Di sản số 4 (năm 2008), đã nêu ra bảy tiền đề cơ bản của xã hội hóa bảo tồn giá trị di sản văn hóa ở Việt Nam như sau: “1.
Xã hội là một trong những thuộc tính cơ bản của các di sản văn hóa và thiên nhiên. Các di sản thiên nhiên là những bằng cớ vật chất của quá trình chinh phục, cải tạo và sử dụng thiên nhiên vì mục đích tồn tại và phát triển của con người. Đây cũng đồng thời là quá trình con người đã gắn kết với nhau, tập hợp nhau từ tự phát đến tự giác - thành xã hội. Do đó, việc xác định trách nhiệm bảo vệ và phát huy di sản này như một công việc có tính xã hội là hoàn toàn hợp lý.
Các di sản văn hóa vật thể (là động sản hay bất động sản) và các di sản phi vật thể - đều là sản phẩm chung, là kết quả sáng tạo chung thành, tồn tại và phát triển. Và chính vì thế, xã hội đã trở thành một trong những thuộc tính cơ bản vốn có của các di sản văn hóa. Nước ta ở vùng nhiệt đới ẩm gió mùa, mưa nhiều, nắng gắt, thường xuyên bị bão lũ và luôn luôn phải đương đầu với nạn ngoại xâm và sự tàn hủy của những cuộc chiến tranh khốc liệt. Vì thế, các di sản văn hóa vật thể ở nước ta thường xuyên chịu những tác động của thiên nhiên và con người.
Nếu như trong sự nghiệp dựng nước, nhân dân ta đã chung sức sáng tạo nên một nền văn hóa phong phú, đa dạng thì trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ nền độc lập dân tộc, vấn đề bảo vệ quốc gia dân tộc nói chung và các di sản văn hóa dân tộc nói riêng - bảo vệ và sửa sang “tôn miếu và xã tắc” - bao giờ cũng là mục tiêu quan trọng hàng đầu. Chính vì vậy, việc tu sửa, phục hồi các di tích lịch sử và văn hóa được đông đảo các tầng lớp nhân dân ta tự nguyện tham gia. Do những đặc điểm về địa - kinh tế, địa - nhân văn và địa - chính trị, trong quá trình tồn tại và phát triển, nhân dân các dân tộc Việt Nam đã tạo lập và vun đắp những giá trị tinh thần cao đẹp, tiền đề và cội nguồn của sức mạnh dựng nước và giữ nước, mà đoàn kết dân tộc là một trong những giá trị đã trở thành truyền thống. Xuất phát từ nhu cầu đoàn kết để dựng nước và giữ nước, đồng thời xuất phát từ những đặc điểm và dạng thức của đời sống tâm linh, từ tập tục thờ phụng tổ tiên trong mỗi gia đình, nhân dân ta đã cùng nhau thừa nhận một đối tượng thờ phụng chung và cùng nhau xây dựng một nơi thờ phụng chung cho cả làng, và thậm chí cao hơn nữa còn tự coi là có chung một nguồn gốc “Bố Rồng, Mẹ Tiên” để rồi lập nên một ngôi mộ chung, đặt ra một ngày giỗ Tổ chung cho cả quốc gia/ dân tộc.
Chính vì lẽ đó, việc bảo tồn những di sản văn hóa mà cho ông ta đã chung sức vun đắp, sáng tạo, bảo vệ và truyền lưu trong quá trình dựng nước và giữ nước mà thế hệ chúng ta đang thừa hưởng còn có những ý nghĩa quan trọng không chỉ xuất phát từ trách nhiệm và nghĩa vụ mà còn có ý nghĩa về tinh thần và tình cảm triết lý “uống nước nhớ nguồn” đối với tiền nhân. Dưới góc độ lịch sử văn hóa, từ thực tiễn địa hình, tồn tại và phát triển của văn hóa truyền thống Việt Nam mà hạt nhân cơ bản của nó là làng xã, chúng ta có thể xem xét và đánh giá các loại hình tổ chức hoạt động của cộng đồng làng xã trước đây mà trong đó trung tâm là con người và các mối quan hệ cơ bản là huyết thống và phi huyết thống để xem xét bình diện của quan hệ cộng đồng. Trong những quan hệ này, một trong những cốt lõi để cố kết các cộng đồng là hình thái thờ phụng thổ thần của các xóm, ngõ, cao hơn là việc thờ thành hoàng chung ở đình xuất phát từ nhu cầu đoàn kết như đã nói ở trên. Và chính bản than những hoạt động chung này đã xảy nảy sinh nhu cầu đóp góp nhân tài vật lực để xây dựng những công trình công cộng chung của làng xã.
Từ những kết quả nghiên cứu về cộng đồng và phong tục, chúng ta có thể rút ra những nhận xét: Biểu hiện của tinh thần xã hội hóa trong đời sống sản xuất sinh hoạt, ứng xử trong mối quan hệ xã hội đã xuất hiện một cách tự phát, 13 tự nhiên. Tinh thần ấy thể hiện trong việc góp giỗ chung của làng, trong việc xây dựng và thực hiện các hương ước, quy tắc chung, trong đó có những quy định về bảo vệ tập tục, bảo vệ tài sản và di sản văn hóa chung, bảo vệ môi trường cảnh quan. Mặt khác, những biểu hiện nói trên còn được nâng thành mối quan hệ giữa làng - nước. Các tổ chức xã hội trong xã hội Việt Nam cổ truyền như phe (phe tư văn, phe tư võ) hay Hội và đặc biệt là Giáp - một tổ chức dành riêng của những người đàn ông mà nền tảng tập hợp chủ yếu là tuổi tác gắn với tập tục trọng xỉ, một dấu nối giữa cộng đồng làng xã với cộng đồng nhà nước hóa có vai trò không thể phủ nhận trong việc xây dựng các công trình công cộng của làng xã, đặc biệt là đình làng.
Nhìn chung, phương thức tổ chức và nội dụng hoạt động của các tổ chức xã hội trong xã hội Việt Nam truyền thống, dù dựa trên cơ sở huyết thống hay phi huyết thống, đều thể hiện tinh thần xã hội hóa.