CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về đô thị và không gian đô thị 1.
Các khái niệm Theo Điều 3, Luật Quy hoạch Đô thị được Quốc hội khóa 12 thông qua ngày 17/6/2009 [10]: - Đô thị là khu vực tập trung dân cư sinh sống có mật độ cao và chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực kinh tế phi nông nghiệp, là trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hoá hoặc chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ, một địa phương, bao gồm nội thành, ngoại thành của thành phố; nội thị, ngoại thị của thị xã; thị trấn. - Không gian đô thị là không gian bao gồm các vật thể kiến trúc đô thị, cây xanh, mặt nước trong đô thị có ảnh hưởng trực tiếp đến cảnh quan đô thị. - Kiến trúc đô thị là tổ hợp các vật thể trong đô thị, bao gồm các công trình kiến trúc, kỹ thuật, nghệ thuật, quảng cáo mà sự tồn tại, hình ảnh, kiểu dáng của chúng chi phối hoặc ảnh hưởng trực tiếp đến cảnh quan đô thị. - Cảnh quan đô thị là không gian cụ thể có nhiều hướng quan sát ở trong đô thị như không gian trước tổ hợp kiến trúc, quảng trường, đường phố, hè, đường đi bộ, công viên, thảm thực vật, vườn cây, vườn hoa, đồi, núi, gò đất, đảo, cù lao, triền đất tự nhiên, dải đất ven bờ biển, mặt hồ, mặt sông, kênh, rạch trong đô thị và không gian sử dụng chung thuộc đô thị.
- Quy hoạch đô thị là việc tổ chức không gian, kiến trúc, cảnh quan đô thị, hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật, công trình hạ tầng xã hội và nhà ở để tạo lập môi trường sống thích hợp cho người dân sống trong đô thị, được thể hiện thông qua đồ án quy hoạch đô thị. Đặc điểm đất đô thị Đặc điểm của đất đai là tính cố hữu, tư liệu sản xuất gắn với hoạt động của con người nhưng đất đô thị có những đặc trưng chủ yếu để phân biệt với các loại đất khác: • Có nguồn gốc từ đất tự nhiên hoặc đất nông nghiệp được trang bị cơ sở hạ tầng công cộng khi chuyển mục đích sử dụng; • Việc sử dụng đất đô thị phải căn cứ vào qui hoạch và dự án đầu tư được phê duyệt; • Khi người sử dụng đất có yêu cầu chuyển đổi mục đích sử dụng đang sử dụng thì phải được UBND tỉnh thành phố cho phép; PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 5 • Từng lô đất trong đô thị có vị trí cố định, mỗi vị trí có đặc thù riêng không giống với bất kì vị trí nào; • Ngoài ra đất đô thị cũng là tài sản đặc biệt có giá trị cao hơn so với các loại đất khác bởi vị trí và cơ sở hạ tầng trên đất; • Có sự mất cân đối giữa cung và cầu, do quá trình đô thị hoá diễn ra nhanh chóng trong những năm gần đây làm cho dân số đô thị tăng nhanh (về cơ học) cầu tăng nhanh nhưng cung bị hạn chế mất cân đối. Nó là công cụ cho việc thực hiện và quản lý sử dụng đất một cách khoa học của nhà nước, bởi vì khi thực hiện qui hoạch sử dụng đất đai nhằm phục vụ cho nhu cầu sử dụng đất đai và quyền lợi của toàn xã hội góp phần giải quyết tốt các mối quan hệ trong quản lý và sử dụng đất để sử dụng một cách có hiệu quả bảo vệ đất và nâng cao hiệu quả [8]. Phân loại và đặc điểm của không gian đô thị a.
Phân loại Không gian đô thị là không gian hình học ba chiều, trong không gian đó đô thị tồn tại và phát triển. Có hai loại ranh giới không gian đô thị là ranh giới theo cấu trúc đô thị và ranh giới hành chính. Theo cấu trúc đô thị, không gian đô thị được xác định bằng hai tiêu chí là độ kết tụ (agglomeration) của các công trình và ngưỡng dân số (threshold population). Độ kết tụ thể hiện sự tập trung dày đặc của các công trình.
Ngưỡng dân số là số dân tối thiểu sống trong không gian có độ kết tụ như trên để được coi là đô thị. Không gian đô thị cũng được hiểu là không gian vừa đủ để chứa tất cả các công trình phục vụ dân đô thị. Các tiêu chuẩn thiết kế quy hoạch đô thị được quy định theo khái niệm này. Khái niệm không gian đô thị liên quan mật thiết tới cấu trúc đô thị là khái niệm không gian đô thị có tính kỹ thuật.
Theo ranh giới hành chính, không gian đô thị là không gian bên trong ranh giới lãnh thổ của đô thị. Đây là cách xác định đô thị theo luật quy hoạch đô thị Việt Nam. Đô thị Việt Nam có vùng nội thị và vùng ngoại thị; ngoại thị có thể có các công trình của đô thị, còn lại là nông thôn hay rừng núi. Đặc điểm Không gian đô thị phát triển nhờ các điều kiện tạo thị.
Có ba điều kiện cơ bản để một đô thị hình thành và phát triển là điều kiện tự nhiên, điều kiện thị trường và điều kiện chính trị - xã hội. • Điều kiện tự nhiên là các yếu tố về vị trí địa lý, nguồn nước, địa chất, thủy văn, khí hậu… Trong đó, điều kiện về vị trí địa lý và giao thông đóng vai trò quan PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 6 trọng nhất. Khu vực nằm ở trung tâm một vùng lãnh thổ, có điều kiện giao thông thuận tiện với các khu vực khác sẽ có đọng lực tạo thị mạnh. • Điều kiện thị trường là khả năng phát triển kinh tế hàng hóa và dịch vụ của khu vực.
Từ khả năng đó, tự nhiên dân cư sẽ phát triển, dân cư phát triển làm thị trường phát triển, thị trường phát triển làm đô thị phát triển. • Điều kiện chính trị - xã hội liên quan đến các mục tiêu chính trị, xã hội, an ninh, quốc phòng của quốc gia. Các mục tiêu chính trị xã hội có thể có kích thích hay kìm hãm đô thị phát triển, điều chỉnh sự phát triển không gian đô thị. Không gian đô thị có thể có biên giới, có thể không.
Đối với đô thị vừa và nhỏ, bán kính không gian đô thị được xác định từ điều kiện thuận lợi về giao thông. Đô thị vừa và nhỏ không có hệ thống giao thông công cộng cao tốc (MRT – Mass Rapid Transport). Thời gian đi về trong ngày thuận lợi không quá 30 phút. Không gian đô thị nằm trong tầm mắt.
Đô thị có tính độc lập cao, về cơ bản mọi hoạt động của các gia đình đều xảy ra trong ranh giới đô thị. Đối với đô thị lớn và cực lớn, điều kiện về giao thông công cộng khối lớn, tốc độ cao quyết định bán kính không gian đô thị. Bán kính đi lại của mỗi cá nhân cũng vẫn giới hạn dưới 30 phút là tốt nhất. Tuy nhiên do có MRT các đô thị nhỏ được hình thành và nối lại với nhau thành đại đô thị.
Công ăn việc làm cũng được tổ chức khắp các khu vực. Hệ thống công ăn việc làm nối liền nhau trên chiều dài hàng trăm cây số, lúc này các đô thị không còn biên giới. Biên giới hành chính chỉ còn có ý nghĩa phân công khu vực cho việc quản trị đô thị. Thậm chí biên giới quốc gia cũng có thể đi qua một không gian đô thị.
Trong ba điều kiện tạo thị nêu trên, tác động của điều kiện thị trường lên đô thị có tính tự phát. Nghĩa là không phải do tác động chủ quan của Nhà nước. Giống như “bàn tay vô hình” đã điều khiển nền kinh tế, đô thị cũng tự hình thành và phát triển theo sự chỉ đạo của bàn tay vô hình đó. Ta biết bàn tay vô hình là quy luật cung - cầu của thị trường, nhưng nguồn gốc sâu xa của nó là từ bản năng sinh tồn của con người.
Bản năng đó nhiều khi mù quáng vì cái ăn trước mắt. Không gian đô thị phát triển tự phát là không gian phát sinh do nhu cầu hoặc lợi ích kinh tế trước mắt. Cho nên, dù thị trường là động lực tạo thị mạnh mẽ nhất, nhưng cũng là mối đe doạ lớn nhất đối với sự cân bằng, ổn định của đô thị [3]. Tổng quan về hệ thống thông tin địa lý (Geographic Information System - GIS) 1.
Định nghĩa về GIS Hệ thống thông tin địa lý – GIS (Geographic Information System) là một hệ thống thông tin đặc biệt với cơ sở dữ liệu gồm những đối tượng, những hoạt động hay những sự kiện phân bố trong không gian được biểu diễn như những điểm, đường, vùng trong hệ thống máy tính. PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 7 Hệ thống thông tin địa lý có khả năng nhập, xử lý, truy vấn và xuất tham chiếu địa lý hoặc dữ liệu không gian theo điểm, đường, vùng phục vụ cho những hỏi đáp và phân tích đặc biệt: quản lý, quy hoạch tài nguyên thiên nhiên và môi trường (Dueker, 1979) [5]. Các thành phần của GIS GIS bao gồm năm thành phần cơ bản là: phần cứng, phần mềm, cơ sở dữ liệu, người sử dụng và phương pháp. Các thành phần của GIS a.
Phần cứng (Hardware) Phần cứng là phần trong thấy của hệ thống, đó có thể là hệ thống dựa trên máy vi tính độc lập hay một siêu máy tính. Ngoài ra còn có các đầu vào như bàn số hóa, máy quét, thiết bị lưu trữ, hiển thị… Các bộ xử lý của phần cứng yêu cầu phải có bộ xử lý đủ mạnh để chạy phần mềm và dung lượng đủ lớn để lưu trữ dữ liệu. Phần mềm (Software) Là tập hợp các câu lệnh, chỉ thị nhằm điều khiển phần cứng của máy tính thực hiện một nhiệm vụ xác định, phần mềm hệ thống thông tin địa lý có thể là một hoặc tổ hợp các phần mềm máy tính. Phần mềm được sử dụng trong kỹ thuật GIS phải bao gồm các tính năng cơ bản sau: • Nhập và kiểm tra dữ liệu (Data input); • Lưu trữ và quản lý cơ sở dữ liệu (Geographic database); • Xuất dữ liệu (Display and reporting); • Biến đổi dữ liệu (Data transformation); • Tương tác với người dùng (Query input).
PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 8 Tuỳ theo yêu cầu và khả năng ứng dụng trong công việc cũng như khả năng kinh phí của đơn vị, việc lưu chọn một phần mềm máy tính sẽ khác nhau.