Tổng quan luận án
Công trình "Một số vấn đề về quan hệ lao động tại các doanh nghiệp ngoài quốc doanh và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam trong thời kỳ chuyển đổi kinh tế (Trường hợp khảo sát ở TP. Hồ Chí Minh)" do nghiên cứu sinh Vũ Việt Hằng thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Trần Văn Thiện, bảo vệ năm 2004 tại Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh, thuộc chuyên ngành Kinh tế quản lý và kế hoạch hoá kinh tế quốc dân (Mã số: 5.05).
Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả trình bày rằng công cuộc đổi mới và phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần đã thúc đẩy sự hình thành, mở rộng nhanh chóng của khu vực doanh nghiệp ngoài quốc doanh (DNNQD) và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (DNĐTNN). Sự biến đổi này làm nảy sinh những vấn đề phức tạp trong quan hệ lao động. Mặc dù Bộ luật Lao động năm 1995 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Lao động năm 2002 (có hiệu lực từ năm 2003) đã thiết lập hành lang pháp lý điều chỉnh quyền và nghĩa vụ của các bên, trên thực tế các hành vi vi phạm pháp luật lao động, khiếu nại, tranh chấp lao động tập thể và đình công tự phát vẫn liên tục phát sinh. Thực trạng này gây thiệt hại cho doanh nghiệp, ảnh hưởng đến việc làm, đời sống người lao động và tác động tiêu cực đến môi trường đầu tư. Dù nguyên nhân đã được thảo luận ở nhiều diễn đàn, các giải pháp trước đó vẫn thiếu tính khả thi, chưa kết hợp hài hòa giữa việc bảo vệ quyền lợi người lao động với việc duy trì sức cạnh tranh của doanh nghiệp trong quá trình hội nhập.
Mục đích nghiên cứu của luận án được xác định gồm 3 nội dung cụ thể:
- Hệ thống lại cơ sở lý thuyết về quan hệ lao động trong nền kinh tế thị trường. Nghiên cứu kinh nghiệm thực tiễn của một số nước khác trên thế giới để rút ra bài học cần thiết cho Việt Nam.
- Phân tích thực trạng về quan hệ lao động ở các DNNQD và DNĐTNN tại Việt Nam trong thời kỳ chuyển đổi nền kinh tế, nhấn mạnh các biểu hiện không lành mạnh về quan hệ lao động và phân tích các yếu tố chủ yếu ảnh hưởng tới quan hệ này ở Việt Nam.
- Đề xuất một số giải pháp thích hợp góp phần hoàn thiện quan hệ lao động trong các doanh nghiệp kể trên.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài:
- Đối tượng nghiên cứu: Các mối quan hệ lao động trong khu vực doanh nghiệp không thuộc sở hữu Nhà nước tại Việt Nam, bao gồm DNĐTNN và DNNQD trong nước (trọng tâm là doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần). Dữ liệu về doanh nghiệp Nhà nước chỉ được sử dụng làm cơ sở so sánh.
- Phạm vi không gian: Khảo sát thực nghiệm và thu thập số liệu tập trung tại địa bàn TP. Hồ Chí Minh – trung tâm kinh tế có lực lượng lao động tập trung đông đảo và quan hệ lao động biến động phức tạp, được xem như trường hợp nghiên cứu điển hình để liên hệ trên phạm vi toàn quốc.
- Phạm vi thời gian: Tiến trình chuyển đổi kinh tế từ năm 1986 đến thời điểm hoàn thành luận án (năm 2004), tập trung phân tích sâu chuỗi số liệu giai đoạn 1996 - 2003.
- Phạm vi nội dung: Tập trung vào các biểu hiện thực tế gồm việc ký kết và thực hiện hợp đồng lao động cá nhân, thỏa ước lao động tập thể, thực hiện vệ sinh an toàn lao động, bảo hiểm xã hội, đi sâu vào thực trạng tranh chấp lao động và đình công.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Trong phần tổng quan, tác giả điểm lại các công trình nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm tiêu biểu trên thế giới và tại Việt Nam:
- Các nghiên cứu quốc tế: Dunlop J.T. (1958) với tác phẩm "The Industrial Relations" đặt nền móng cho cách tiếp cận hệ thống; Jacques Rojot (1996, Pháp); Tan Chwee Huat (1994, Singapore); Livian F. (2000, Cộng hòa Séc); Grant và Malette (Đại học Tổng hợp Québec tại Montréal, Canada); Daniel Quinn Mills; Boivin và Guilbault; Loïc Cadin (Đại học Thương mại Paris - ESCP, 2002). Tác giả nhận định các nghiên cứu này chủ yếu đặt trong bối cảnh các quốc gia có nền kinh tế thị trường phát triển, riêng trường hợp Cộng hòa Séc là nền kinh tế chuyển đổi nhưng mô hình chuyển đổi không tương đồng với Việt Nam.
- Các nghiên cứu trong nước:
- Luận án "Hoàn thiện quan hệ lao động trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam" của Nguyễn Ngọc Quân (1995): Cung cấp các khái niệm và kinh nghiệm xử lý tranh chấp, song chỉ khảo sát các DNĐTNN giai đoạn 1988 - 1995 và tập trung phân tích mô tả thực trạng để đưa ra giải pháp, chưa vận dụng khung lý thuyết hệ thống.
- Luận án "Vấn đề đình công của công nhân ở nước ta hiện nay" của Phạm Xuân Hương (2001): Nghiên cứu hiện tượng đình công dưới góc độ triết học duy vật biện chứng, duy vật lịch sử và các quan điểm chính trị - xã hội của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chỉ khu biệt ở phong trào công nhân.
- Đề tài nghiên cứu ứng dụng "Quan hệ lao động ở các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh" do Nguyễn Hoàng Kháng chủ nhiệm (Sở Lao động - Thương binh - Xã hội TP.HCM, 2001): Thu thập khối lượng lớn dữ liệu thống kê mô tả nhưng chưa khái quát thành hệ thống lý luận hoàn chỉnh.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án xác định: Chưa có công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống cơ sở lý thuyết hệ thống về quan hệ lao động để áp dụng phân tích bối cảnh Việt Nam; chưa có nghiên cứu bao quát đồng thời cả hai loại hình DNNQD và DNĐTNN trong thời kỳ chuyển đổi kinh tế từ năm 1986 đến 2004 trên cùng một địa bàn kinh tế trọng điểm.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án dựa trên quan điểm duy vật biện chứng làm phương pháp luận chủ đạo, kết hợp các lý thuyết kinh tế và xã hội học hiện đại:
- Khái niệm và bản chất quan hệ lao động: Căn cứ Điều 1, Điều 2 và Điều 9 Chương I Bộ luật Lao động Việt Nam, tác giả xác định quan hệ lao động là quan hệ xã hội phát sinh giữa người lao động làm công ăn lương với người sử dụng lao động thuộc các thành phần kinh tế, hình thành qua thương lượng, thỏa thuận theo nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, thể hiện qua hợp đồng lao động cá nhân và thỏa ước lao động tập thể.
- Khung phân tích hệ thống quan hệ lao động: Tác giả khảo sát và đối chiếu ba mô hình lý thuyết hệ thống:
- Mô hình cổ điển của John T. Dunlop (1958): Hệ thống gồm 3 chủ thể (người lao động, người sử dụng lao động, Nhà nước), chịu tác động của bối cảnh môi trường (công nghệ, kinh tế/thị trường, quyền lực/chính trị, ngân sách) gắn kết bởi hệ tư tưởng chung; đầu ra là hệ thống quy tắc nội dung và quy tắc thủ tục.
- Mô hình lựa chọn chiến lược của Kochan, McKersie và Cappelli (1984): Bổ sung yếu tố chiến lược quản trị doanh nghiệp với 3 định hướng (không duy trì công đoàn, hạn chế quyền lực công đoàn, hoặc coi công đoàn là đối tác tin cậy) kết hợp với các cấp độ thương lượng tập thể.
- Mô hình tác động tương hỗ của André Petit: Nhấn mạnh tính tương tác hai chiều giữa môi trường bên ngoài, môi trường bên trong, các yếu tố đầu vào, các hoạt động thương lượng/giải quyết tranh chấp và kết quả đầu ra; kết quả này tác động ngược trở lại môi trường và đầu vào của hệ thống.
- Các lý thuyết tâm lý quản trị và động viên nhân sự: Thuyết cấp bậc nhu cầu của Abraham Maslow; Thuyết hai yếu tố của Frederick Herzberg (phân biệt yếu tố duy trì và yếu tố động viên); Thuyết kỳ vọng của Victor Vroom; Thuyết công bằng của J. Stacy Adams; Thuyết Z của quản trị học Nhật Bản; 4 mô hình văn hóa tổ chức (văn hóa đồng lòng, văn hóa kiểm soát, văn hóa làm chủ, văn hóa cạnh tranh).
Về phương pháp nghiên cứu, tác giả phối hợp phương pháp tiếp cận hệ thống, phương pháp mô hình hóa, thống kê mô tả, phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình, phân tích kinh tế lượng và phương pháp chuyên gia. Phần mềm SPSS phiên bản 12 được sử dụng để xử lý toàn bộ số liệu điều tra sơ cấp.
Dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ các văn bản pháp luật, niên giám Tổng cục Thống kê, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Liên đoàn Lao động TP.HCM, Viện nghiên cứu và các công ước, khuyến nghị quốc tế của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO).
Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua các phiếu điều tra khảo sát trực tiếp tại 112 doanh nghiệp trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh với cơ cấu mẫu cụ thể:
| Nhóm đối tượng điều tra |
Số lượng mẫu thực tế |
Công cụ và mục đích sử dụng |
| Đại diện doanh nghiệp (người sử dụng lao động) |
96 phiếu |
Phiếu điều tra Phụ lục 4 (thống kê mô tả) |
| Người lao động làm công ăn lương |
138 phiếu |
Phiếu điều tra Phụ lục 3 (thống kê mô tả) |
| Cán bộ công đoàn cơ sở |
91 phiếu |
Phiếu điều tra Phụ lục 5 (thống kê mô tả) |
| Tổng số mẫu khảo sát mô tả |
325 phiếu |
Đánh giá thực trạng tại 112 doanh nghiệp |
| Mẫu khảo sát sự thỏa mãn của người lao động |
249 phiếu |
Phiếu Phụ lục 6 (chạy mô hình kinh tế lượng ở Phụ lục 10) |
| Nhóm chuyên gia tư vấn |
23 chuyên gia |
Phiếu xin ý kiến Phụ lục 11 và 13 (đánh giá giải pháp) |
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Những vấn đề lý luận về quan hệ lao động trong nền kinh tế thị trường
Chương này làm rõ quan hệ lao động là phạm trù đa lĩnh vực, nằm ở giao điểm giữa quan hệ kinh tế, quan hệ xã hội và quan hệ pháp luật.
Chủ thể của hệ thống bao gồm: người lao động (đại diện là tổ chức công đoàn), người sử dụng lao động (đại diện là các hiệp hội giới chủ) và Nhà nước (đóng vai trò lập pháp, giám sát và hòa giải). Môi trường vận hành được phân tích theo hai cấp độ: môi trường bên ngoài (sinh thái, công nghệ, xã hội, chính trị, pháp luật, kinh tế) và môi trường bên trong doanh nghiệp (văn hóa tổ chức và các chính sách động viên).
Về mặt biểu hiện, chương 1 phân tích các công cụ pháp lý và quy trình vận hành: hợp đồng lao động cá nhân; thương lượng và thỏa ước lao động tập thể; mâu thuẫn và tranh chấp lao động (phân loại thành tranh chấp cá nhân và tranh chấp tập thể). Thủ tục giải quyết khiếu nại nội bộ được mô hình hóa qua 4 giai đoạn:
| Giai đoạn |
Bên đề đạt khiếu nại |
Bên tiếp nhận và giải quyết |
| Giai đoạn 1 |
Cá nhân bị tổn thương và đại diện công đoàn |
Giám sát viên hoặc cấp trên trực tiếp |
| Giai đoạn 2 |
Đại diện công đoàn |
Cấp trên cao hơn trong hệ thống thứ bậc |
| Giai đoạn 3 |
Ủy ban về các vấn đề khiếu nại của doanh nghiệp |
Giám đốc nhân sự hoặc Tổng giám đốc |
| Giai đoạn 4 |
Đại diện công đoàn và đại diện doanh nghiệp |
Bên thứ ba (Trọng tài phân xử) |
Bên cạnh đó, tác giả phân tích các biện pháp gây áp lực kinh tế gồm: đình công, vây hãm nhà máy, vận động tẩy chay sản phẩm (từ phía công đoàn) và bế xưởng, yêu cầu phán quyết của tòa án (từ phía giới chủ).
Đánh giá ba mô hình hệ thống (Dunlop, Kochan, Petit), tác giả nhận định mô hình Dunlop giả định loại trừ xung đột là không thực tế; mô hình Kochan phản ánh xu hướng quản trị hiện đại nhưng các chiến lược triệt tiêu công đoàn không phù hợp quy định pháp luật Việt Nam; mô hình của André Petit có giá trị giải thích cao nhờ cơ chế tác động tương hỗ hai chiều. Tác giả lựa chọn kế thừa mô hình của Petit có kết hợp một phần quan điểm chiến lược của Kochan để xây dựng khung phân tích cho Việt Nam.
Phân tích kinh nghiệm quốc tế và tỷ lệ đoàn viên công đoàn tại một số quốc gia:
| Quốc gia |
Tỷ lệ đoàn viên công đoàn (%) |
Quốc gia |
Tỷ lệ đoàn viên công đoàn (%) |
Quốc gia |
Tỷ lệ đoàn viên công đoàn (%) |
| Thụy Điển |
91,1 |
Canada |
37,4 |
Hà Lan |
25,6 |
| Đan Mạch |
80,1 |
Vương quốc Anh |
32,9 |
Bồ Đào Nha |
25,6 |
| Phần Lan |
79,3 |
CHLB Đức |
28,9 |
Nhật Bản |
24,0 |
| Ý |
44,1 |
Tây Ban Nha |
18,6 |
Hoa Kỳ |
14,2 |
| Áo |
41,2 |
Hàn Quốc |
12,7 |
Pháp |
9,1 |
Từ các mô hình quốc tế (thương lượng tập thể đa cấp ở Tây Âu; công đoàn nội bộ doanh nghiệp gắn liền chế độ thâm niên ở Nhật Bản; thiết chế ba bên của Hội đồng Tiền lương Quốc gia - NWC tại Singapore; quy định bắt buộc thành lập tổ chức Đảng, công đoàn và thực thi hơn 200 tiêu chuẩn lao động quốc gia ở Trung Quốc), tác giả rút ra 5 bài học cho Việt Nam: xây dựng hành lang pháp lý minh bạch; phát triển cơ chế phối hợp ba bên; học tập quy trình thương lượng thỏa ước đa cấp; áp dụng triết lý nhân sự coi trọng người lao động; thiết lập các hội đồng tư vấn tiền lương và chuẩn mực lao động thống nhất.
Chương 2: Thực trạng về quan hệ lao động tại các doanh nghiệp ngoài quốc doanh và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam trong thời kỳ chuyển đổi kinh tế
Chương này trình bày chuyển dịch cơ cấu kinh tế và việc làm tại Việt Nam qua các giai đoạn 1986-1995, 1991-1995, 1994-2002 và 2001-2003, ghi nhận sự gia tăng tỷ trọng đóng góp GDP và giải quyết việc làm của khu vực DNNQD và DNĐTNN.
Qua số liệu thống kê mô tả từ 325 phiếu khảo sát tại TP. Hồ Chí Minh và số liệu các cơ quan quản lý, tác giả nêu rõ thực trạng:
- Ký kết hợp đồng lao động (HĐLĐ): Tỷ lệ ký HĐLĐ chưa đạt yêu cầu triệt để. Nhiều doanh nghiệp sử dụng hợp đồng ngắn hạn, hợp đồng thời vụ để né tránh nghĩa vụ đóng bảo hiểm xã hội (BHXH) và bảo hiểm y tế (BHYT).
- Ký kết và thực hiện thỏa ước lao động tập thể (TƯLĐTT): Tỷ lệ doanh nghiệp ký kết TƯLĐTT còn thấp. Nội dung thỏa ước chủ yếu sao chép lại các điều khoản tối thiểu trong Bộ luật Lao động, thiếu các điều khoản có lợi hơn cho người lao động. Nội dung thương lượng thường gặp khó khăn xoay quanh tiền lương, tiền thưởng, định mức lao động và bảo đảm bữa ăn giữa ca.
- Tình hình tranh chấp lao động và đình công: Tác giả dẫn chứng số liệu số vụ đình công ở Việt Nam và các địa bàn trọng điểm (TP.HCM, Đồng Nai, Bình Dương) giai đoạn 1996 - 2003. Đình công tập trung chủ yếu ở các DNĐTNN (đặc biệt là các doanh nghiệp dệt may, da giày có chủ đầu tư từ Đài Loan, Hàn Quốc) và một số DNNQD. Các cuộc đình công đều mang tính tự phát, không tuân thủ trình tự hòa giải, trọng tài theo quy định của pháp luật lao động.
Phân tích nguyên nhân và các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp:
- Môi trường pháp lý và quản lý nhà nước: Các quy định về giải quyết tranh chấp lao động tập thể còn rườm rà, thiếu tính khả thi; lực lượng thanh tra lao động quá mỏng (phản ánh qua Bảng 2.19 và 2.20 về trình độ và số lượng thanh tra viên), chế tài xử phạt chưa đủ sức răn đe.
- Bất đồng văn hóa trong DNĐTNN: Khác biệt về ngôn ngữ, ứng xử, tác phong quản lý hà khắc của một bộ phận người sử dụng lao động nước ngoài làm gia tăng xung đột tâm lý với lao động Việt Nam.
- Nhận thức và chính sách của người sử dụng lao động: Nhiều chủ DNNQD chưa nắm vững Bộ luật Lao động (Bảng 2.21), xem nhẹ trách nhiệm xã hội đối với người lao động (Bảng 2.22).
- Trình độ và tác phong của người lao động: Xuất thân chủ yếu từ nông thôn, trình độ học vấn và tay nghề chưa cao (Bảng 2.25), ý thức chấp hành kỷ luật công nghiệp và hiểu biết pháp luật còn hạn chế (Bảng 2.26).
- Năng lực của công đoàn cơ sở (CĐCS): Cán bộ CĐCS hưởng lương từ doanh nghiệp nên bị phụ thuộc vào người sử dụng lao động, thiếu bản lĩnh và kỹ năng đàm phán; trình độ đào tạo nghiệp vụ công đoàn chưa đáp ứng thực tiễn (Bảng 2.28, 2.29).
- Phân tích định lượng: Tác giả xây dựng mô hình kinh tế lượng dựa trên mẫu khảo sát 249 người lao động (Phụ lục 10) nhằm xác định các nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến mức độ thỏa mãn của người lao động trong mối quan hệ với người sử dụng lao động, bao gồm: thu nhập, tính chất công việc, điều kiện môi trường làm việc, sự công bằng trong đối xử và quan hệ với cán bộ quản lý.
Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện quan hệ lao động trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam
Chương 3 đặt trong bối cảnh tác động của việc đổi mới, sắp xếp lại doanh nghiệp Nhà nước, xu thế hội nhập kinh tế quốc tế và chuyển đổi công nghệ quản trị. Tác giả đề xuất hệ thống giải pháp chia thành ba cấp độ:
- Nhóm giải pháp tầm vĩ mô:
- Tiếp tục sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện hệ thống luật pháp lao động, đơn giản hóa thủ tục giải quyết đình công để đưa các cuộc đình công vào khuôn khổ pháp lý.
- Củng cố, tăng cường biên chế và nâng cao năng lực chuyên môn cho lực lượng thanh tra lao động; tăng mức chế tài xử phạt vi phạm hành chính.
- Kiện toàn tổ chức và cơ chế phối hợp ba bên giữa cơ quan quản lý nhà nước (Bộ/Sở Lao động - Thương binh và Xã hội), đại diện người lao động (Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam) và đại diện người sử dụng lao động (Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam - VCCI, Liên minh Hợp tác xã, các hiệp hội doanh nghiệp).
- Nâng cao hiệu quả hoạt động của Hội đồng Trọng tài lao động và hệ thống Tòa lao động.
- Nhóm giải pháp về phía tổ chức công đoàn:
- Đổi mới mô hình tổ chức và phương thức hoạt động của CĐCS theo hướng độc lập hơn với ban điều hành doanh nghiệp; nghiên cứu cơ chế bảo vệ và chi trả phụ cấp cho cán bộ công đoàn để tránh phụ thuộc tài chính vào chủ doanh nghiệp.
- Đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng thương lượng, đàm phán thỏa ước lao động tập thể cho đội ngũ cán bộ công đoàn.
- Chủ động nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của người lao động để cảnh báo sớm nguy cơ tranh chấp.
- Nhóm giải pháp về phía doanh nghiệp:
- Xây dựng văn hóa doanh nghiệp theo hướng văn hóa "đồng lòng" hoặc "làm chủ", xóa bỏ định kiến đối đầu chủ - thợ.
- Vận dụng các học thuyết tâm lý quản trị (Maslow, Herzberg) để hoàn thiện chế độ tiền lương, tiền thưởng, cải thiện điều kiện làm việc và xây dựng lộ trình phát triển nghề nghiệp cho nhân viên.
- Thiết lập kênh thông tin giao tiếp nội bộ minh bạch, duy trì đối thoại định kỳ giữa ban giám đốc và tập thể lao động.
Các kiến nghị cụ thể:
- Ban hành quy chế dân chủ áp dụng cho các cơ sở sản xuất kinh doanh ngoài quốc doanh (tương tự như quy chế dân chủ cơ sở trong doanh nghiệp Nhà nước).
- Khuyến khích sự hình thành và cấp phép hoạt động cho các công ty kiểm định lao động độc lập tại Việt Nam nhằm thực hiện đánh giá, chứng nhận chuẩn mực lao động theo yêu cầu của các đối tác thương mại quốc tế.
- Tái quy định việc bắt buộc trích nộp khoản đóng góp 2% quỹ lương cho kinh phí hoạt động công đoàn tại các DNĐTNN (tạo nguồn tài chính hoạt động độc lập cho công đoàn cơ sở).
- Nghiên cứu ban hành quy định bắt buộc doanh nghiệp lập "Bản tổng kết xã hội" (Bilan Social) hàng năm phục vụ quản lý lao động, ghi nhận toàn diện các chỉ tiêu về nhân sự, an toàn vệ sinh lao động, đào tạo và phúc lợi xã hội.
Kết quả và những đóng góp mới
Các đóng góp mới về lý luận và thực tiễn được luận án tổng kết bao gồm:
- Về mặt lý luận: Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý thuyết về hệ thống quan hệ lao động trong nền kinh tế thị trường; phân tích đối chiếu ba mô hình lý thuyết của Dunlop, Kochan và Petit. Luận án kết hợp mô hình của André Petit với mô hình của Kochan để xây dựng khung phân tích hệ thống quan hệ lao động phù hợp với bối cảnh chuyển đổi kinh tế tại Việt Nam.
- Về mặt thực tiễn: Khảo sát, đánh giá thực trạng quan hệ lao động tại hai khu vực DNNQD và DNĐTNN trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh giai đoạn 1996 - 2003; chỉ rõ các điểm nghẽn trong ký kết HĐLĐ, TƯLĐTT và nguyên nhân dẫn đến các cuộc đình công tự phát; sử dụng phần mềm SPSS 12 và mô hình kinh tế lượng để đo lường mức độ thỏa mãn của người lao động đối với người sử dụng lao động.
- Về mặt giải pháp và chính sách: Đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ 3 cấp độ (vĩ mô, công đoàn, vi mô) được thẩm định qua phương pháp chuyên gia (23 chuyên gia); đề xuất các kiến nghị mới: ban hành quy chế dân chủ trong khu vực ngoài quốc doanh, phát triển dịch vụ công ty kiểm định lao động độc lập, khôi phục nghĩa vụ đóng kinh phí công đoàn 2% đối với DNĐTNN và áp dụng Bản tổng kết xã hội hàng năm trong quản trị doanh nghiệp.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của luận án:
- Phạm vi khảo sát thực nghiệm tập trung chủ yếu trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh và tham chiếu một số tỉnh lân cận thuộc miền Đông Nam Bộ, chưa thể hiện số liệu điều tra trực tiếp tại các vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc hay miền Trung.
- Nội dung nghiên cứu khu biệt vào các biểu hiện chủ yếu gồm hợp đồng lao động, thỏa ước tập thể, vệ sinh an toàn lao động, bảo hiểm xã hội và đình công; chưa phân tích sâu các khía cạnh về quan hệ lao động liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ, bảo mật thông tin hay dịch chuyển lao động xuyên quốc gia.
- Dữ liệu và các phân tích pháp lý gắn liền với khung thể chế của Bộ luật Lao động giai đoạn trước năm 2004.
Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng phạm vi điều tra khảo sát thực nghiệm trên quy mô liên vùng trên cả nước để kiểm chứng sự khác biệt vùng miền trong quan hệ lao động.
- Nghiên cứu tác động của các cam kết hội nhập kinh tế quốc tế đa phương (như gia nhập WTO và các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới) đối với việc nội luật hóa các công ước quốc tế của ILO tại Việt Nam.
- Đi sâu nghiên cứu cơ chế vận hành độc lập của Tòa lao động chuyên trách và mô hình trọng tài lao động chuyên nghiệp ngoài nhà nước.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo cho các đối tượng:
- Các nhà nghiên cứu, nghiên cứu sinh, học viên cao học chuyên ngành Kinh tế quản lý, Quản trị nguồn nhân lực, Xã hội học lao động và Luật kinh tế - lao động: Tham khảo khung phân tích hệ thống quan hệ lao động, phương pháp xây dựng bộ công cụ điều tra ba bên và kỹ thuật xử lý dữ liệu qua SPSS.
- Cơ quan hoạch định chính sách và quản lý nhà nước (Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội các địa phương, cơ quan thanh tra): Tham khảo các luận cứ thực tiễn để sửa đổi văn bản pháp luật, hoàn thiện cơ chế giải quyết tranh chấp lao động và nâng cao năng lực thanh tra.
- Tổ chức Công đoàn (Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Liên đoàn Lao động các cấp): Vận dụng các bài học kinh nghiệm quốc tế và giải pháp về củng cố tính độc lập, nâng cao nghiệp vụ thương lượng tập thể cho cán bộ cơ sở.
- Giám đốc doanh nghiệp và nhà quản trị nhân sự tại các DNNQD và DNĐTNN: Tham khảo các mô hình văn hóa tổ chức, lý thuyết động viên để hoàn thiện quy chế quản lý nội bộ, cải thiện quan hệ giao tiếp và hạn chế mâu thuẫn lao động.
Câu hỏi thường gặp
1. Khái niệm quan hệ lao động được luận án định nghĩa như thế nào?
Dựa trên Điều 1, Điều 2 và Điều 9 Chương I Bộ luật Lao động Việt Nam, luận án xác định quan hệ lao động là quan hệ giữa người lao động làm công ăn lương với người sử dụng lao động thuộc các thành phần kinh tế, các hình thức sở hữu. Mối quan hệ này được xác lập và tiến hành qua thương lượng, thỏa thuận theo nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, được thể hiện bằng các hợp đồng lao động cá nhân và thỏa ước lao động tập thể.
2. Luận án kết hợp các mô hình lý thuyết hệ thống nào để phân tích quan hệ lao động ở Việt Nam?
Tác giả đã phân tích ba mô hình hệ thống kinh điển: mô hình cổ điển của John T. Dunlop (1958), mô hình lựa chọn chiến lược của Kochan, McKersie và Cappelli (1984), và mô hình tác động tương hỗ của André Petit. Sau khi chỉ ra ưu nhược điểm của từng mô hình, tác giả lựa chọn mô hình tác động tương hỗ hai chiều của André Petit làm nền tảng chính, có kết hợp với cách tiếp cận lựa chọn chiến lược của Kochan để xây dựng khung phân tích hệ thống quan hệ lao động phù hợp với điều kiện Việt Nam.
3. Cơ cấu mẫu khảo sát thực nghiệm của luận án được thực hiện ra sao?
Dữ liệu sơ cấp được thu thập tại 112 doanh nghiệp (chủ yếu trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh) và được xử lý bằng phần mềm SPSS 12. Tổng số phiếu khảo sát phục vụ thống kê mô tả là 325 phiếu (gồm 96 đại diện doanh nghiệp, 138 người lao động và 91 cán bộ công đoàn cơ sở). Ngoài ra, tác giả sử dụng một mẫu riêng gồm 249 người lao động để xây dựng mô hình kinh tế lượng phân tích sự thỏa mãn, cùng với việc tham vấn ý kiến đánh giá từ 23 chuyên gia trong lĩnh vực lao động.
4. Kinh nghiệm quốc tế về thiết chế ba bên nào được tác giả đánh giá phù hợp để Việt Nam học tập?
Luận án đánh giá cao mô hình của Hội đồng Tiền lương Quốc gia Singapore (NWC) – một định chế ba bên hoạt động hiệu quả trong việc tư vấn chính sách tiền lương, giúp ổn định kinh tế và giảm thiểu mâu thuẫn mà không làm suy giảm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, tác giả cũng nhấn mạnh bài học từ Trung Quốc về việc duy trì khung tiêu chuẩn lao động nghiêm ngặt và bắt buộc thành lập công đoàn gắn liền với việc thu kinh phí công đoàn trong mọi thành phần kinh tế.
5. Những đề xuất chính sách mới nào được luận án kiến nghị cho các doanh nghiệp ngoài quốc doanh và có vốn đầu tư nước ngoài?
Tác giả đề xuất 4 kiến nghị mang tính thể chế: (1) Ban hành quy chế dân chủ áp dụng cho các doanh nghiệp ngoài quốc doanh; (2) Cho phép hình thành và khuyến khích hoạt động của các công ty kiểm định lao động độc lập; (3) Tái quy định việc đóng góp bắt buộc 2% quỹ lương cho kinh phí công đoàn tại các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; (4) Quy định bắt buộc các doanh nghiệp lập và sử dụng "Bản tổng kết xã hội" (Bilan Social) hàng năm trong công tác quản lý lao động.
Kết luận
Luận án của nghiên cứu sinh Vũ Việt Hằng là công trình học thuật nghiên cứu có hệ thống về quan hệ lao động tại khu vực doanh nghiệp ngoài quốc doanh và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam thời kỳ chuyển đổi kinh tế. Bằng việc kết hợp giữa lý thuyết hệ thống hiện đại với dữ liệu điều tra thực nghiệm phong phú tại địa bàn trọng điểm TP. Hồ Chí Minh, công trình đã làm rõ thực trạng bất cập trong việc ký kết hợp đồng, thỏa ước lao động và nguyên nhân của các vụ đình công tự phát. Hệ thống giải pháp ba cấp độ cùng các kiến nghị thể chế cụ thể do tác giả đề xuất cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn hữu ích cho công tác quản lý nhà nước, hoạt động công đoàn cũng như quản trị nhân sự tại doanh nghiệp.