CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP VÀ KIỂM SOÁT VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP QUA KHÂU QUYẾT TOÁN THUẾ 1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm và bản chất của thuế thu nhập doanh nghiệp Có nhiều cách diễn đạt về thuế TNDN, sau đây là một số khái niệm tiêu biểu mà tác giả đã ghi nhận được: - Thuế TNDN còn gọi là thuế thu nhập công ty. Đây là loại thuế trực thu đánh vào thu nhập của các doanh nghiệp trong kinh doanh.
[27] - Thuế TNDN là loại thuế trực thu, còn gọi là thuế thu nhập công ty ở nhiều quốc gia. Đối tượng của thuế TNDN là thu nhập của tổ chức kinh doanh (doanh nghiệp) được xác định trên cơ sở doanh thu sau khi trừ đi các chi phí có liên quan đến việc hình thành doanh thu đó. Bản chất của thuế TNDN là thuế đánh trên thu nhập của các chủ sở hữu trong khu vực SX-KD. Sự tồn tại của thuế TNDN là một tất yếu khách quan, xuất phát từ nhu cầu tài chính của Nhà nước và yêu cầu thực hiện chức năng tái phân phối thu nhập, đảm bảo công bằng xã hội với lý do: - Công ty là một thực thể tồn tại độc lập khách quan nên phải thực hiện nghĩa vụ thuế giống như một đối tượng chịu thuế độc lập; - Được hưởng những ưu đãi, lợi thế mà Nhà nước tạo ra, các công ty phải hoàn lại dưới hình thức thuế TNDN; LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 - Thuế TNDN đóng vai như một loại thuế bổ sung – là loại thuế thu trước hoặc thu gộp của thuế thu nhập cá nhân để tránh tình trạng thất thu thuế và giảm bớt đầu mối thu.
Đặc điểm của thuế thu nhập doanh nghiệp Thuế TNDN có những đặc điểm chính như sau: - Đặc điểm thứ nhất: Là loại thuế trực thu. Tính chất trực thu của loại thuế này được biểu hiện ở sự đồng nhất giữa NNT và người chịu thuế. NNT cũng là người chịu thuế, không thể chuyển số thuế của mình sang người khác, nên họ cảm thấy được gánh nặng của thuế, do đó có thể dẫn đến những phản ứng né thuế hoặc trốn thuế. - Đặc điểm thứ hai: Thu vào thu nhập chịu thuế của doanh nghiệp, nên mức động viên vào NSNN phụ thuộc vào kết quả, hiệu quả SX-KD của NNT nên số thu thuế TNDN còn chịu tác động từ nhiều chính sách KT-XH và tình hình chung của nền kinh tế (tăng trưởng hay suy thoái).
- Đặc điểm thứ ba: Là loại thuế có độ phức tạp và có tính linh hoạt cao trong việc xác định các căn cứ tính thuế, việc thu thuế tương đối khó khăn hơn và chi phí QLT thường cao hơn so với các sắc thuế khác. Vai trò của thuế thu nhập doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường - Thứ nhất, Thuế TNDN là khoản thu quan trọng của NSNN: Với xu hướng tăng trưởng kinh tế, quy mô của các hoạt động kinh tế ngày càng được mở rộng, hiệu quả kinh doanh ngày càng cao sẽ tạo ra nguồn thu về thuế TNDN ngày càng lớn cho NSNN. Theo khảo sát của World Bank tại 85 nước trên thế giới, có đến 60 quốc gia mà khoản thu từ thuế chiếm 80% tổng thu NSNN, trong đó chủ yếu là thuế TNDN. [8] - Thứ hai, Thuế TNDN là công cụ quan trọng của nhà nước trong việc điều tiết vĩ mô nền kinh tế: Luật thuế TNDN được ban hành áp dụng chung cho các tổ chức SX-KD thuộc mọi thành phần kinh tế, mọi hình thức đầu tư, tạo sự bình đẳng trong cạnh tranh, góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển.
Ngoài ra, qua áp dụng các chính LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 sách ưu đãi về thuế TNDN, Nhà nước khuyến khích các tổ chức, cá nhân bỏ vốn đầu tư vào các lĩnh vực kinh tế, các vùng miền cần tập trung khuyến khích đẩy mạnh sản xuất, khai thác tiềm năng về vốn đầu tư trong và ngoài nước. - Thứ ba, Thuế TNDN là một công cụ của nhà nước thực hiện chính sách công bằng xã hội: Một trong những mục tiêu của thuế TNDN là điều tiết thu nhập, đảm bảo sự công bằng trong phân phối thu nhập xã hội, điều tiết bớt thu nhập của các đối tượng có thu nhập cao và phân phối lại cho những đối tượng có thu nhập thấp hơn và tăng phúc lợi xã hội. Thuế TNDN được áp dụng cho các loại hình doanh nghiệp thuộc các loại hình kinh tế, không những đảm bảo bình đẳng công bằng theo chiều ngang mà còn cả công bằng về chiều dọc. Về chiều ngang, tất cả tổ chức SX-KD dưới bất cứ hình thức nào nếu có thu nhập chịu thuế thì phải nộp thuế TNDN.
Về chiều dọc, doanh nghiệp nào có thu nhập cao thì phải nộp thuế nhiều hơn doanh nghiệp có thu nhập thấp. Nội dung cơ bản của thuế thu nhập doanh nghiệp Thuế TNDN có những nội dung cơ bản sau: - Đối tượng nộp thuế: Đối tượng nộp thuế TNDN là các doanh nghiệp có thu nhập chịu thuế. Trên lãnh thổ của một quốc gia không chỉ có các doanh nghiệp trong nước mà còn có các doanh nghiệp nước ngoài cùng tham gia hoạt động kinh doanh, hay nói cách khác, không chỉ có các công ty kinh doanh tại một quốc gia mà còn có các công ty kinh doanh tại nhiều quốc gia khác nhau. Do đó, khi ban hành chính sách thuế TNDN thường các quốc gia có hai cách xác định nghĩa vụ thuế của doanh nghiệp là hình thức đánh thuế trên cơ sở thường trú (resident company) hoặc nguồn phát sinh nguồn thu nhập.
Đa số các nước trên thế giới áp dụng hình thức đánh thuế dựa trên cơ sở thường trú: Đối tượng thường trú bị đánh thuế trên thu nhập của họ từ mọi nơi trên thế giới, đối tượng không thường trú (non-resident company) thì chỉ bị đánh thuế trên thu nhập phát sinh tại nước đó. Hiện nay, trên thế giới chưa có sự nhất quán về tiêu chuẩn xác LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 định thường trú, ví dụ: Mỹ, Nhật, Thái Lan cho rằng công ty có báo tài chính (BCTC) được hợp nhất tại nước họ là công ty thường trú. Malaysia lại định nghĩa công ty thường trú là công ty mà cơ quan quản lý điều hành đầu não được đặt tại Malaysia. Một số nước khác sử dụng cả hai tiêu chuẩn hợp nhất BCTC và sự quản lý điều hành của công ty để xác định tình trạng cư trú .v… Hình thức đánh thuế dựa trên cơ sở nguồn thu nhập phát sinh quy định một đối tượng nộp thuế chỉ có nghĩa vụ nộp thuế thu nhập phát sinh tại nước đó.
Hình thức này sẽ có cơ sở tính thuế eo hẹp hơn cách tính thuế dựa trên cơ sở thường trú khi trên lãnh thổ của một quốc gia nào đó có nhiều doanh nghiệp hoạt động kinh doanh của nước ngoài. - Đối tượng chịu thuế: Đối tượng chịu thuế TNDN là thu nhập ròng (đã trừ chi phí), còn gọi là thu nhập chịu thuế. Về nguyên tắc, thu nhập chịu thuế là bất cứ khoản thu nhập phát sinh nào không phân biệt từ nguồn SX-KD, đầu tư sau khi loại bỏ những khoản được pháp luật quy định không phải chịu thuế. Thu nhập chịu thuế TNDN được xác định theo công thức: Thu nhập Doanh thu tính thu nhập chịu Chi phí được khấu trừ trong thu = - chịu thuế thuế (trong kỳ tính thuế) nhập chịu thuế (trong kỳ tính thuế) Trong đó: + Doanh thu để tính thu nhập chịu thuế là toàn bộ các khoản thu về từ hoạt động kinh doanh và các khoản thu khác trong một thời kỳ nhất định (thường là một năm).
+ Chi phí được khấu trừ trong kỳ tính thuế phải được xác định cùng khoảng thời gian với doanh thu tính thu nhập chịu thuế. Trên thực tế, mỗi quốc gia có quy định cụ thể các chi phí được khấu trừ khi tính thuế TNDN và các quy định này không hoàn toàn thống nhất giữa các quốc gia. Tuy nhiên, nhìn chung có hai loại chi phí được tính trừ là: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 ♦ Các chi phí có tính chất kinh tế: là chi phí có liên quan trực tiếp đến việc tạo ra thu nhập. Về nguyên tắc, các chi phí có tính chất kinh tế được khấu trừ phải thỏa mãn các tiêu chuẩn sau: Chi phí phải liên quan đến hoạt động tạo ra thu nhập của doanh nghiệp; Các chi phí phải được thật sự chi ra trong điều kiện thời gian và không gian nhất định; Chi phí phải ở mức hợp lý (mức cần thiết trung bình xã hội) và hợp lệ; ♦ Các chi phí có tính chất xã hội: là những khoản chi nhằm mục đích nhân đạo hoặc phúc lợi xã hội.
Đa số các nước đều cho phép tính các khoản chi này vào chi phí hợp lý để trừ khi tính thu nhập chịu thuế, trong đó có những nước cho phép trừ theo số thực tế phát sinh, có những nước cho trừ theo số thực tế nhưng đặt ra một mức giới hạn tối đa. - Thuế suất thuế TNDN: Việc đánh thuế TNDN có thể áp dụng thuế suất tỷ lệ cố định hoặc thuế suất tỷ lệ lũy tiến. Tuy nhiên, trên thực tế các nước thường ít sử dụng thuế suất tỷ lệ lũy tiến vì những lý do sau: + Thứ nhất, nếu coi thuế TNDN là loại thuế đánh vào một thực thể độc lập thì việc áp dụng thuế suất tỷ lệ lũy tiến đối với doanh nghiệp là điều bất lợi, vì đây là các đơn vị tổ chức sản xuất ra của cải vật chất chủ yếu của nền kinh tế nên cần phải được ưu đãi, khuyến khích tích tụ và tập trung vốn thông qua việc áp dụng thuế suất cố định. + Thứ hai, nếu coi thuế TNDN là một giai đoạn của quá trình đánh thuế thu nhập thì việc nộp thuế TNDN chỉ là một hình thức tạm thu.
Việc thực hiện chức năng phân phối đảm bảo công bằng về mặt thu nhập sẽ được thực hiện ở giai đoạn đánh thuế thu nhập cá nhân (TNCN). Do vậy, không cần thiết phải đánh thuế TNDN theo biểu thuế lũy tiến nhằm đơn giản hóa chính sách và tiết kiệm chi phí hành thu thuế. - Những biện pháp ưu đãi, khuyến khích: Thuế TNDN là loại thuế trực thu có chức năng điều tiết mạnh.