ĐẶT VẤN ĐỀ Theo số liệu thống kê của cơ quan nghiên cứu ung thư quốc tế (IARC - International Agency for Research on Cancer) thuộc Tổ chức Y tế thế giới thì ung thư vú là ung thư có tầng số cao nhất ở nữ giới vào năm 2008, chiếm 23% trong tổng số ung thư ở nữ. Ung thư vú trở thành ung thư phổ biến nhất ở cả khu vực các nước phát triển và các nước đang phát triển. Riêng tại Việt Nam vào năm 2008 ung thư vú đứng thứ ba sau ung thư phổi và ung thư gan. Chụp nhũ ảnh là phương pháp hiện ung thư vú phổ biến hiện nay.
Tuy nhiên phương pháp chụp nhũ ảnh có độ nhạy dao động từ khoảng 68% đến 93%. Chụp nhũ ảnh ít nhạy đối với những phụ nữ trẻ tuổi, phụ nữ châu Á hay những phụ nữ có mật độ vú dày đặc. Vì cậy cần có một phương pháp phát hiện ung thư vú có độ nhạy cao hơn, có thể khắc khục được những nhược điểm của phương pháp chụp nhũ ảnh [1]. Biến đổi Epigenetics bất thường là biến đổi được đề cập trên nhiều bệnh ung thư.
Đây là những biến đổi về mặt di truyền trong biểu hiện gen không liên quan đến những biến đổi về trình tự DNA [1]. Sự im lặng của gen ức chế khối u do sự methyl hóa quá mức promoter là biến đổi Epigenetics bất thường có tần số cao, phát hiện sớm trong các khối u, trong đó có các khối u ở ung thư vú [1]. Gen Cyclin D2 là gen tham gia vào chu trình tế bào, phiên mã tạo ra protein Cyclin D2. Đây là một protein thuộc Cyclin nhóm D (D type cyclin bao gồm cyclin D1, D2, D3) [2].
Cyclin nhóm D liên kết với enzyme kinase phụ thuộc protein Cyclin (CDKs) tạo thành phức hợp Cyclin D/CDKs, phức hợp này đóng một vai trò quan trọng trong điều hòa chu trình tế bào [3]. Đã có nhiều nghiên cứu phát hiện có sự methy hóa quá mức vùng promoter của gen Cyclin D2 trong những mẫu mô ung thư vú. Trong đó theo nghiên cứu của Evron và cộng sự thì sự methyl hóa vượt mức vùng promoter của gen Cyclin D2 dẫn đến im lặng của gen này trên đa số dòng tế bào ung thư vú, trong khi đó ở những tế bào mô biểu bì vú bình thường có sự biểu hiện bình thương của gen này [2]. LÊ HUYỀN ÁI THÚY 1 Luận văn tốt nghiệp SVTH: Huỳnh Thị Kim Nhung Theo một nghiên cứu khác của Fackler và cộng sự phát hiện sự methyl hóa quá mức vùng promoter của gen Cyclin D2 trên những mẫu mô ung thư vú khác nhau như: trong ung thư vú biểu mô tại chỗ tần số methyl hóa là 23%, ung thư biểu mô xâm lấn là 32 %, ung thư ống dẫn sữa tại chỗ là 32 %, ung thư ống dẫn sữa xâm lấn là 52%.
Cũng theo Fackler thì tần số methyl hóa của gen Cyclin D2 không cao nhưng sự methyl hóa quá mức vùng promoter của gen Cyclin D2 đặc trưng trên ung thư vú. Vì vậy việc khảo sát mức độ methyl hóa đảo CpG thuộc vùng promoter của gen Cyclin D2 hứa hẹn trở thành một biomarker trong chẩn đoán ung thư vú. LÊ HUYỀN ÁI THÚY 2 Luận văn tốt nghiệp SVTH: Huỳnh Thị Kim Nhung PHẦN I TỔNG QUAN GVHD: TS. LÊ HUYỀN ÁI THÚY 3 Luận văn tốt nghiệp SVTH: Huỳnh Thị Kim Nhung 1.
TỔNG QUAN VỀ UNG THƯ VÚ 1. TÌNH HÌNH UNG THƯ VÚ TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM: Theo số liệu thống kê của cơ quan nghiên cứu ung thư quốc tế (IARC - International Agency for Research on Cancer) thuộc Tổ chức Y tế thế giới thì ung thư vú là ung thư có tầng số cao nhất ở nữ giới, ước tính có 1,38 triệu trường hợp ung thư mới được chẩn đoán năm 2008, chiếm 23% trong tổng số ung thư ở nữ giới. Ung thư vú trở thành ung thư phổ biến nhất ở cả khu vực các nước phát triển và các nước đang phát triển, với ước tính khoảng 690000 trường hợp ung thư vú mới ở mỗi vùng. Tỷ lệ mắc bệnh thay đổi từ 19,3 trên 100000 phụ nữ ở Đông Phi cho đến 89,7 trên 100000 phụ nữ ở Tây Âu, và lớn hơn 80 trên 100000 phụ nữ trong khu vực các nước đang phát triển.
Theo tỷ lệ tử vong thì ung thư vú vẫn là nguyên nhân tử vong thường gặp nhất của bệnh ung thư ở phụ nữ: khu vực các nước đang phát triển ước tính có 269000 ca tử vong chiếm 12,7% của tổng số ung thư ở nữ, trong khi con số ở các nước phát triển là 189000 ca. Tại Việt Nam, ung thư vú là loại ung thư có tầng số cao nhất ở Hà Nội và đứng thứ hai sau ung thư cổ tử cung ở thành phố Hồ Chí Minh. Cũng theo cơ quan Nghiên cứu Ung thư quốc tế (IARC), vào năm 2008 tại Việt Nam ung thư vú đứng thứ ba sau ung thư gan và phổi. Ước tính có 6830 trường hợp mắc bệnh chiếm 15.6% trong các loại bệnh ung thư và 2423 ca tử vong mỗi năm (chiếm 5.7% các trường hợp mắc bệnh).
UNG THƯ VÚ VÀ PHÂN LOẠI Vú có cấu tạo cơ bản là mỡ, bầu vú không có cơ, nhưng nó bám chắc vào cơ ngực trên xương sườn. Ngoài ra, vú được nâng đỡ bởi các cơ xung quanh cùng với các dây chằng liên kết nó với xương ở cổ như xương cánh tay và xương sườn. Núm vú là nơi tập trung nhiều đầu mút thần kinh nhạy cảm với kích thích. Bên trong vú là hệ thống sinh sữa còn được gọi tuyến sữa.
Tuyến sữa bao gồm tiểu thùy và ống GVHD: TS. LÊ HUYỀN ÁI THÚY 4 Luận văn tốt nghiệp SVTH: Huỳnh Thị Kim Nhung dẫn sữa từ tiểu thùy tới núm vú. Mô mỡ và mô liên kết bao quanh tuyến sữa mạch máu và các mạch bạch huyết [4].1- Cấu tạo vú Có nhiều dạng ung thư, nhưng mọi trường hợp ung thư đều bắt đầu khi một nhóm tế bào trong cơ thể tăng trưởng bất bình thường vượt ngoài tầm kiểm soát. Tế bào ung thư cứ tiếp tục tăng lên thêm và lấn át tế bào bình thường [4].
Đa số trường hợp ung thư vú bắt đầu ở các tế bào trong ống dẫn, tiểu thùy. Còn lại một số ít trường hợp bắt đầu từ những mô khác ở vú [4]. Tùy từng giai đoạn và vị trí bệnh, ung thư vú được chia thành nhiều dạng khác nhau, dưới đây là những dạng ung thư vú thường gặp. Ung thư ống dẫn tại chỗ (DCIS - Ductal carcinoma in situ): đây là dạng phổ biến nhất của ung thư vú không xâm lấn.
Đối với ung thư ống dẫn tại chỗ tế bào ung thư chỉ có trong ống dẫn, không xâm lấn vào các mô khác của vú. Người có DCIS thì có nguy cơ ung thư vú xâm lấn cao hơn [4]. Ung thư tiểu thùy tại chỗ (LCIS - Lobular carcinoma in situ): tế bào ung thư bắt đầu trong tiểu thùy của tuyến sữa, ung thư tiểu thùy tại chỗ không di căn đến các GVHD: TS. LÊ HUYỀN ÁI THÚY 5 Luận văn tốt nghiệp SVTH: Huỳnh Thị Kim Nhung bộ phận các của cơ thể.
Ung thư tiểu thùy tại chỗ được cho không không phải là ung thư vú thật. Tuy nhiên đối với người có ung thư tiểu thùy tại chỗ có nguy cơ gia tăng ung vú xâm lấn cao hơn, vì vậy họ cần phải được thăm khám thường xuyên [4]. Ung thư ống dẫn xâm lấn (IDC - Invasive ductal carcinoma): là ung thư vú bắt đầu tại ống dẫn sữa, tăng trưởng lan ra khỏi ống thành ống dẫn bệnh xâm nhập vào các mô mỡ của vú. Ung thư cũng có thể di căn tới những bộ phận khác của cơ thể [4].
Ung thư tiểu thùy xâm lấn (ILC - Invasive Lobular Carcinoma) : là ung thư vú bắt đầu ở tiểu thùy của tuyến sữa. Bệnh có thể di căn tới những bộ phận khác của cơ thể [4]. Ung thư vú dạng viêm (IBC - Inflammatory breast cancer): đây là dạng ung thư vú không phổ biến, ung thư dạng viêm chỉ chiếm 1% đến 3% trong tất cả các dạng ung thư vú. Ung thư vú dạng viêm không hình thành khối u mà thay vào đó da vùng vú đỏ và ấm, da trong dày hơn và sần sùi như vỏ cam.
Trong giai đoạn đầu thì ung thư vú dạng viêm thường bị nhầm lẫn với nhiễm trùng [4]. NHỮNG YẾU TỐ LÀM GIA TĂNG NGUY CƠ MẮC BỆNH UNG THƯ VÚ: Có nhiều yếu tố làm gia tăng nguy cơ mắc ung thư vú như [4]: - Giới tính là nữ thì có nguy cơ mắc bệnh ung thư vú cao. Tuy nhiên ở nam giới cũng có thể phát triển ung thư vú. - Khả năng bị bệnh ung thư vú tăng lên ở những phụ nữ lớn tuổi.
Khoảng 2 trong 3 phụ nữ mắc bệnh ung thư vú xâm lấn có độ tuổi khoảng 55 tuổi hoặc lớn tuổi hơn khi được phát hiện. - Những phụ nữ có người thân như mẹ, chị hay em gái mắc bệnh thì có nguy cơ mắc bệnh cao hơn. - Tiền sử bệnh ung thư vú của bản thân: một phụ nữ mắc bệnh ung thư vú ở một bên thì nguy cơ mắc bệnh ở vú còn lại hoặc những phần khác ở cùng vú đó sẽ có khả năng mắc bệnh cao hơn. LÊ HUYỀN ÁI THÚY 6 Luận văn tốt nghiệp SVTH: Huỳnh Thị Kim Nhung - Chủng tộc: phụ nữ da trắng dễ bị ung thư vú hơn phụ nữ Mỹ gốc phi, tuy nhiên lại có nhiều khả năng chết vì ung thư vú hơn.
Phụ nữ châu Á, Tây Ban Nha, và phụ nữ người Mỹ bản địa có nguy cơ mắc bệnh và chết vì ung thư vú thấp hơn. - Những phụ nữ có mô vú dày đặc có nguy cơ mắc bệnh cao. Mô vú dày đặc có nghĩa là mô tuyến nhiều hơn mô mỡ. - Dinh dưỡng và rượu: ăn nhiều mỡ cũng như uống nhiều rượu làm tăng nguy cơ mắc ung thư vú.
- Phụ nữ sử dụng kích thích tố sau khi tắt kinh trên năm năm có nguy cơ mắc bệnh ung thư vú cao hơn. TỔNG QUAN EPIGENETICS: 2. ĐỊNH NGHĨA EPIGENETICS Thuật ngữ epigenetics được sử dụng lần đầu tiên bởi nhà phôi sinh học Conrad Waddington của trường đại học Cambridge vào năm 1939. Ông đã sử dụng thuật ngữ epigenetic để diễn tả nguồn gốc sự phát triển của sinh vật.
Theo ông đặc tính hình thái, chức năng của một sinh vật xuất hiện liên tục dưới một chương trình được thiết lập bởi bộ gen và chịu ảnh hưởng từ môi trường sống của sinh vật [5]. Theo sinh học phân tử hiện đại thì thuật ngữ epigenetics được mở rộng hơn, Feinberg cho rằng epigenetics là những biến đổi về mặt di truyền trong biểu hiện gen không liên quan đến những biến đổi về trình tự DNA [5].