Chương 1: Một số lý luận cơ bản về marketing TMĐT, marketing qua mạng xã hội - Chương 2: Phương pháp nghiên cứu và kết quả phân tích thực trạng hoạt động marketing qua mạng xã hội của công ty TN HH & TMDV Kỹ thuật Việt Úc - Chương 3: Các kết luận và đề xuất giải pháp đNy mạnh marketing qua mạng xã hội cho công ty TN HH & TMDV Kỹ thuật Việt + Phần 3: Kết luận và kiến nghị 8 PHẦ HAI: ỘI DU G VÀ KẾT QUẢ GHIÊ CỨU CHƯƠ G 1: CƠ SỞ LÝ LUẬ VỀ MARKETI G THƯƠ G MẠI ĐIỆ TỬ, MARKETI G QUA MẠ G XÃ HỘI 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm về Marketing TMĐT 1. Khái niệm Marketing TMĐT Marketing là quá trình làm việc với thị trường để thực hiện các cuộc trao đổi nhằm thỏa mãn những nhu cầu và mong muốn của con người.
cũng có thể hiểu, Marketing là một dạng hoạt động của con người ( bao gồm cả tổ chức) nhằm thỏa mãn nhu cầu và mong muốn thông qua trao đổi. Có khá nhiều cách hiểu khác nhau về Marketing TMĐT: − Marketing TMĐT là quá trình xác lập kế hoạch về sản phNm, giá, phân phối và xúc tiến đối với sản phNm, dịch vụ và ý tưởng để đáp ứng nhu cầu của tổ chức và các nhân dựa trên các phương tiện điện tử à Internet (theo Philip Kotler). − Marketing TMĐT bao gồm tất cả các hoạt động để thỏa mãn nhu cầu và mong muốn của khách hàng thông qua Internet và các phương tiện điện tử (theo Joel Reedy, Shauna Schullo). − Marketing TMĐT là hoạt động ứng dụng mạng Internet và các phương tiện điện tử ( web, email, cơ sở dữ liệu, multimedia, PDA,…) để tiến hành các hoạt động Marketing nhằm đạt được các mục tiêu của tổ chức và duy trì quan hệ khách hàng thông qua nâng cao hiểu biết về khách hàng ( thông tin, hành vi, giá trị, mức độ trung thành,…) các hoạt động xúc iến hướng tới mục tiêu và các dịch vụ qua mạng hướng tới thỏa mãn nhu cầu khách hàng.
Từ những khái niệm trên ta có thể rút ra một điều rằng, Marketing TMĐT ảnh hưởng Marketing truyền thống theo hai cách: − Thứ nhất là tăng tính hiệu quả trong các chức năng của Marketing truyền thống. 9 − Thứ hai, công nghệ của Marketing TMĐT làm thay đổi nhiều chiến lược Marketing. Sự thay đổi này dẫn đến những mô hình kinh doanh mới công thêm giá trị khách hàng hoặc tăng thêm tính lợi nhuận cho công ty. Đặc điểm riêng biệt của Marketing TMĐT N goài những đặc điểm của Marketeing truyền thống, Marketing điện tử cũng có những đặc điểm riêng biệt nổi bật như sau: Khả năng tương tác cao hơn: nhờ việc chia sẻ thông tin và giao dịch với khách hàng 24/7 nên doanh nghiệp có thể loại bỏ những trở ngại bởi khâu giao dịch trung gian.
N hờ đó doanh nghiệp và khách hàng giao dịch trực tiếp với nhau dễ dàng và nhanh chóng hơn thông qua các Website, gửi e – mail trực tiếp, các diễn đàn thảo luận,… Phạm vi: hoạt động Marketing điện tử giúp Doanh nghiệp có thể mở rộng phạm vi toàn cầu, các rào cản thâm nhập thị trường có thể bị hạ thấp, giúp Doanh nghiệp nâng cao khả năng thâm nhập đến khắp mọi nơi trên toàn thế giới. Thông qua Internet, Doanh nghiệp Việt N am hoàn toàn có khả năng quảng bá sản phNm của mình đến với người tiêu dùng nước ngoài với chi phí thấp và thời gian nhanh nhất. Hiện nay Marketing điện tử đã hoàn toàn vượt qua mọi trở ngại về khoảng cách địa lý, thị trường trong Marketing điện tử không có giới hạn, cho phép Doanh nghiệp khai thác được triệt để thị trường toàn cầu. Đặc trưng này của Marketing điện tử bên cạnh những lợi ích còn Nn chứa những thách thức đối với các doanh nghiệp, khi khoảng cách về địa lý giữa các khu vực thị trường được rút ngắn thì việc đánh giá các yếu tố của môi trường cạnh tranh cũng trở nên khó khăn và phức tạp hơn nhiều.
Môi trường cạnh tranh càng trở nên gay gắt hơn khi nó mở rộng ra phạm vi quốc tế. Chính vì vậy đòi hỏi các Doanh nghiệp phải luôn sáng suốt trong quá trình lập kế hoạch Marketing của mình. Tốc độ: giao dịch trong Marketing điện tử nhanh hơn nhiều so với Marketing truyền thống, đặc biệt là so với hoạt động giao hàng của các loại hàng hóa số hóa, việc giao hàng được thực hiện nhanh chóng, thuận tiện và không tốn kém chi phí. Đồng thời với đặc điểm nổi bật của Internet, thông tin về sản phNm dịch vụ cũng như các thông tin về khuyến mại của Doanh nghiệp sẽ được tung ra thị trường nhanh hơn; 10 khách hàng cũng nhanh chóng và dễ dàng tiếp cận với những thông tin này.
Doanh nghiệp dễ dàng và nhanh chóng nhận được thông tin phản hồi từ phía khách hàng Tính liên tục 24/7: với Marketing điện tử, hoạt động được đảm bảo tính liên tục, không gián đoạn, 24h trong ngày, 7 ngày trong tuần. Với những chương trình Marketing thông thường, khi chưa có ứng dụng Internet, dù có hiệu quả đến đâu thì cũng không thể phát huy tác dụng 24/24 mỗi ngày. Còn đối với hoạt động Marketing điện tử không có khái niệm thời gian chết, khả năng hoạt động liên tục 24h một ngày ở bất cứ thời điểm nào, ở bất cứ đâu chỉ cần có chiếc máy tính kết nối Internet là điều mà Marketing điện tử có thể thực hiện được. Đây cũng là một ưu điểm vượt trội của Marketing điện tử so với Marketing truyền thống, đó là nó đã khắc phục được trở ngại của yếu tố thời gian và tận dụng tốt hơn nữa các cơ hội kinh doanh vào bất cứ thời điểm nào và ở bất cứ nơi đâu.
Đa dạng hóa sản phNm: khách hàng có thể tiếp cận nhiều sản phNm, dịch vụ hơn. Với việc giới thiệu sản phNm và dịch vụ trên các cửa hàng ảo ( Virtual Stores), chỉ cần ngồi ở nhà, với chiếc máy tính kết nối Internet, khách hàng có thể thực hiện được việc mua sắm như tại các cửa hàng thật. Còn đối với các nhà cung cấp, họ cũng có thể cá biệt hóa sản phNm phù hợp với các nhu cầu khác nhau của khách hàng nhờ khả năng khai thác và chia sẻ thông tin qua Internet. Đồng thời bằng việc ứng dụng CN TT và Internet vào hoạt động kinh doanh, Doanh nghiệp đã tạo ra được một kênh Marketing hoàn toàn mới mẻ, cũng thông qua đó, Doanh nghiệp có thể nắm bắt được sô liệu thốn kê trực tuyến, đánh giá ngay được hiệu quả chiến lược marketing của Doanh nghiệp mình.
Hạn chế của Marketing TMĐT − Marketing TMĐT đòi hỏi đầu tư ban đầu các điều kiện cơ sở vật chất và nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn đáp ứng yêu cầu nên không phải bất cứ Doanh nghiệp nào cũng áp dụng được. − Marketing điện tử đòi hỏi các điều kiện môi trường bên ngooaif khắt khe hơn để Doanh nghiệp có thể ứng dụng được. − Không phải bất kỳ hàng hóa hay dịch vụ nào cũng có thể đưa lên mạng bán được. Đối với những sản phNm người tiêu dùng khi mua chỉ tin tưởng vào kinh nghiệm trong giai đoạn đầu tiên.
Khái niệm mạng xã hội, Marketing qua mạng xã hội 1. Mạng xã hội Mạng xã hội hay gọi là mạng xã hội ảo (social netwwork) là dịch vụ kết nối các thành viên cùng sở thích trên Internet lại với nhau với nhiều mục địch khác nhau không phân biệt không gian và thời gian (?guồn: theo Dave Kerpen – “ Truyền thông xã hội”) Mạng xã hội có những tính năng như chat, e – mail, phim ảnh, voice chat, chia sẻ file, blog và xã luận. Mạng đổi mới hoàn toàn cách cư dân mạng liên kết với nhau và trở thành một phần tất yếu mỗi ngày cho hàng trăm triệu thành viên trên khắp thế giới. Các dịch vụ này có nhiều phương cách để các thành viên tìm kiếm bạn bè, đối tác dựa theo nhóm ví dụ như (tên trường hoặc tên thành phố), dựa trên thông tin cá nhân (như địa chỉ e-mail hoặc screen name), hoặc dựa trên sở thích cá nhân (như thể thao, phim ảnh, sách báo, hoặc dựa trên các lĩnh vực quan tâm: kinh doanh, mua bán.
Hiện nay thế giới có hàng trăm mạng mạng xã hội khác nhau, và tùy từng vùng mà mạng xã hội gặt hái được những thành công khác nhau như MySpace và Facebook nổi tiếng ở thị trường Bắc Mỹ và Tây Âu; Orkut và Hi5 tại N am Mỹ; Friendster tại châu Á và Thái Bình Dương, Bebo tại Anh Quốc, CyWorld tại Hàn Quốc, Mixi tại N hật Bản và tại Việt N am cũng xuất hiện nhiều các mạng xã hội như: Zing Me, Facebook, Tiktok,… Mạng xã hội xuất hiện đầu tiên năm 1995 với sự ra đời của trang Classmate với mục đích kết nối bạn học, tiếp theo là sự xuất hiện của SixDegrees vào năm 1997 với mục đích giao lưu kết bạn dựa theo sở thích. N ăm 2002, Friendster trở thành một trào lưu mới tại Hoa Kỳ với hàng triệu thành viên ghi danh. N ăm 2004, MySpace ra đời với các tính năng như phim ảnh (embeded video) và nhanh chóng thu hút hàng chục ngàn thành viên mới mooix ngày, MySpace trở thành mạng xã hội đầu tiên có nhiều lượt xem hơn cả Google và được tập đoàn N ews Corporation mua lại với giá 580 triệu USD. N ăm 2006, sự ra đời của Facebook đánh dấu bước ngoặt mới cho hệ thống mạng xã hội trực tuyến với nền tảng lập trình “ Facebook Platform” cho phép thành viên tạo ra những công cụ mới cho cá nhân mình cũng như các thành viên khác dùng.
12 Facebook Platform nhanh chóng gặt hái được thành công vượt bậc, mang lại hàng trăm tính năng mới cho Facebook và đóng góp không nhỏ cho con số trung bình 19 phút mà các thành viên bỏ ra trên trang này mỗi ngày. Marketing qua mạng xã hội Mạng xã hội bao gồm những website cung cấp các công cụ cho phép mọi người chia sẻ thông tin với nhau như phim ảnh, trang web, tương tác online với nhau theo nhiều cách như: bình luận, kết nối, retweet về một nội dung, blog hay trang web nào đó. Hiện nay, các công cụ quảng cáo mạng xã hội nhiều người biết đến là Youtube, Facebook, Twitter, Linkedln,… Hình 2: Mô hình cách thức lan truyền Marketing mạng xã hội Marketing qua mạng xã hội là khái niệm để chỉ đến hình thức sử dụng hệ thống mạng xã hội (social madia) để marketing, bán hàng trực tuyến, PR hay giải đáp thắc mắc của khách hàng.