Luật mang thai hộ nhân đạo tại NSW và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

Phân tích pháp luật mang thai hộ nhân đạo tại New South Wales (Úc). Bài viết đưa ra những kinh nghiệm thực tiễn nhằm hoàn thiện quy định tại Việt Nam.

Chuyên ngành

Pháp Luật

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Bài Nghiên Cứu
76
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Khái Niệm và Quy Định Pháp Luật về Mang Thai Hộ

Mang thai hộ là một giải pháp y học hiện đại giúp những cặp vợ chồng vô sinh có cơ hội trở thành cha mẹ. Tại bang New South Wales (NSW), pháp luật quy định rõ ràng về điều kiện, quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia hoạt động mang thai hộ vì mục đích nhân đạo. Theo Đạo luật Mang Thai Hộ năm 2010 của NSW, hoạt động này chỉ được phép thực hiện không vì mục đích thương mại. Việt Nam cũng đã hợp pháp hóa mang thai hộ nhân đạo thông qua Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 và Nghị định 10/2015/NĐ-CP. Tuy nhiên, pháp luật Việt Nam vẫn còn những khoảng trống cần được hoàn thiện để bảo vệ quyền lợi của các bên liên quan.

1.1. Định Nghĩa Mang Thai Hộ Vì Mục Đích Nhân Đạo

Mang thai hộ nhân đạo là hành động mà trong đó một người phụ nữ (người mang thai hộ) đồng ý mang thai và sinh con cho cặp vợ chồng không thể có con tự nhiên. Khác với mang thai hộ thương mại, hình thức này không liên quan đến lợi nhuận kinh tế. Đặc điểm chính là tính tự nguyện, không có mục đích lợi nhuận, và tuân thủ các điều kiện pháp luật.

1.2. Đặc Điểm Pháp Luật NSW về Mang Thai Hộ

Pháp luật NSW rõ ràng cấm mang thai hộ thương mại nhưng cho phép mang thai hộ nhân đạo. Các điều kiện bắt buộc bao gồm: các bên phải là người trưởng thành, phải có sự chấp thuận rõ ràng, và không được có lợi ích thương mại. Luật NSW cũng quy định chi tiết về xác định quan hệ cha mẹ và bảo vệ bí mật cá nhân của các bên.

II. Tình Hình Vô sinh Hiếm Muộn và Nhu Cầu Mang Thai Hộ tại Việt Nam

Tình trạng vô sinh hiếm muộn tại Việt Nam đang gia tăng đáng kể. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), tỷ lệ vô sinh ở các cặp vợ chồng trẻ hiện nay là 7,7%, trong đó vô sinh nguyên phát chiếm 3,9% và vô sinh thứ phát 3,8%. Nghiên cứu của Bệnh viện Phụ sản Trung ương và Bệnh viện Đại học Y Hà Nội cho thấy số ca vô sinh tăng gấp 20 lần trong 10 năm qua. Công nghệ thụ tinh ống nghiệm (IVF) đã mang lại hy vọng cho nhiều cặp vợ chồng, nhưng không phải trường hợp nào cũng thành công. Do đó, mang thai hộ nhân đạo trở thành giải pháp thực tiễn, đáp ứng nguyện vọng chính đáng của những người mong có con.

2.1. Thực Trạng Vô sinh ở Việt Nam

Vô sinh đứng thứ ba trong các vấn đề sức khỏe nguy hiểm, chỉ sau ung thư và bệnh tim mạch. Tỷ lệ này đang tăng nhanh ở các nước Châu Á-Thái Bình Dương. Nguyên nhân bao gồm tuổi tác, các bệnh lý, điều kiện sống, và tâm lý. Nhu cầu tìm kiếm giải pháp mang thai hộ ngày càng tăng cao.

2.2. Nhu Cầu Thực Tiễn của Mang Thai Hộ Nhân Đạo

Khát vọng có con mang huyết thống là nguyện vọng chính đáng của mọi cặp vợ chồng. Khi kỹ thuật hỗ trợ sinh sản không có kết quả, mang thai hộ nhân đạo trở thành giải pháp ưu việt. Việc hợp pháp hóa loại hình này giúp bảo vệ quyền lợi các bên và ngăn chặn hoạt động mang thai hộ phi pháp hay thương mại.

III. Quy Định Pháp Luật NSW về Điều Kiện và Xác Định Quan Hệ Cha Mẹ

Đạo luật Mang Thai Hộ năm 2010 của NSW thiết lập các điều kiện bắt buộc cho hoạt động mang thai hộ nhân đạo. Bên nhờ mang thai hộ phải chứng minh rằng họ không thể mang thai hoặc sinh con một cách tự nhiên do lý do y tế. Người được nhờ mang thai hộ phải là người trưởng thành, có sức khỏe tâm thần ổn định, và tự nguyện tham gia. Pháp luật NSW quy định rõ ràng về xác định quan hệ cha mẹ và con, đảm bảo quyền lợi pháp lý của trẻ em. Cơ chế bảo vệ bí mật cá nhân, bí mật gia đình, và đời sống riêng tư được xây dựng để bảo vệ tất cả các bên liên quan.

3.1. Điều Kiện Đối Với Bên Nhờ và Người Mang Thai Hộ

Bên nhờ mang thai hộ phải chứng minh khả năng không mang thai, có đủ điều kiện tài chính để nuôi con, và lý do chính đáng. Người được nhờ phải có tuổi từ 25-55, tâm thần ổn định, đã từng sinh con thành công, và tự nguyện không nhận lợi nhuận. Cả hai bên phải ký hợp đồng rõ ràng và không được thương mại hóa hành vi này.

3.2. Xác Định Quan Hệ Cha Mẹ và Bảo Vệ Quyền Lợi Trẻ Em

Pháp luật NSW xác định rõ người cha mẹ là những người có ý định nuôi dạy con từ lúc mang thai, không phải người mang thai hộ. Giấy tờ pháp lý như giấy khai sinh được cấp cho cha mẹ nuôi dạy. Các quy định bảo vệ quyền lợi trẻ em, quyền thừa kế, và bí mật cá nhân được đảm bảo hoàn toàn.

IV. Kinh Nghiệm từ NSW và Khuyến Nghị Hoàn Thiện Pháp Luật Việt Nam

Pháp luật NSW cung cấp nhiều bài học quý báu cho Việt Nam trong việc hoàn thiện quy định về mang thai hộ nhân đạo. Trước hết, Việt Nam cần làm rõ hơn các điều kiện bắt buộc giống như NSW, bao gồm tiêu chuẩn y tế, tâm lý, và tài chính. Thứ hai, cần xây dựng cơ chế bảo vệ bí mật cá nhânđời sống riêng tư bằng luật pháp, tương tự NSW. Thứ ba, Việt Nam nên thiết lập quy trình giám sát chặt chẽ để phân biệt rõ mang thai hộ nhân đạo với mang thai hộ thương mại, cấm hành vi thương mại hóa. Cuối cùng, cần xây dựng hệ thống hỗ trợ pháp lý để bảo vệ quyền lợi của các bên, đặc biệt là quyền lợi của trẻ em.

4.1. Rút Ra Kinh Nghiệm từ Luật Pháp NSW

NSW cấm triệt để mang thai hộ thương mại và chỉ cho phép mang thai hộ nhân đạo với các điều kiện nghiêm ngặt. Hệ thống pháp luật rõ ràng, có cơ chế giám sát và xử lý vi phạm. Việc xác định cha mẹ dựa trên ý định nuôi dạy, không phải nhân sinh. Cơ chế bảo vệ bí mật gia đìnhquyền riêng tư được thực thi hiệu quả.

4.2. Khuyến Nghị Hoàn Thiện Pháp Luật Việt Nam

Việt Nam cần ban hành Nghị định chi tiết thêm về điều kiện, tiêu chí lựa chọn bên nhờ và người mang thai hộ. Xây dựng cơ chế giám sát, thanh tra hoạt động mang thai hộ để phát hiện thương mại hóa. Thiết lập quy trình pháp lý rõ ràng để xác định cha mẹ và cấp giấy khai sinh. Bảo vệ đời sống riêng tưbí mật cá nhân bằng luật pháp cụ thể.

18/12/2025
Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo pháp luật bang new south wales và kinh nghiệm cho việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT BANG NEW SOUTH WALES VỀ MANG THAI HỘ VÌ MỤC ĐÍCH NHÂN ĐẠO 1. Khái quát về mang thai hộ vì mục đích nhân đạo 1. Khái niệm mang thai hộ vì mục đích nhân đạo Năm 1979, bác sĩ Richard M. Levin tiếp một cặp vợ chồng mà người vợ đã không sinh đẻ được từ nhiều năm.

Khi được bác sĩ giải thích là mình không thể sinh đẻ, người vợ cho biết rất mong muốn có một đứa con của chồng, dù bản thân bà không mang thai. Biết được nguyện vọng này, bác sĩ Levin mới nghĩ đến cách nhờ một phụ nữ khác “đẻ giúp” bằng cách thụ tinh nhân tạo với tinh trùng của người chồng. Tuy nhiên, để thực hiện được ý định, ông Levin đã phải mất 9 tháng hợp tác với các luật sư, nghiên cứu pháp luật bang và của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ để hiểu rõ hơn các khía cạnh pháp luật, sự phức tạp của mối quan hệ MTH (còn gọi là làm mẹ thuê, đẻ thuê). Cuối cùng, một “hợp đồng” đã được soạn thảo rất kín kẽ, bảo đảm quyền lợi cho cặp vợ chồng vô sinh, người mẹ MTH và cả đứa trẻ sinh ra bằng phương pháp MTH.

Người mẹ MTH lần đầu tiên trên thế giới đã được một nhóm thầy thuốc và các nhà hoạt động pháp luật thăm khám, tư vấn rất kỹ lưỡng. Sau đó, theo thỏa thuận, giữa người mẹ MTH và cặp vợ chồng vô sinh, người ta đã tiến hành thụ tinh nhân tạo bằng tinh trùng của người chồng vào đầu năm 1980. Sau đó, người phụ nữ MTH trình diện trước tòa án để chính thức chấm dứt những quyền liên quan đến việc làm mẹ của mình và trao lại con cho người bố sinh học2. Trên đây là câu chuyện MTH hợp pháp và có sự chuẩn bị kỹ lưỡng về đạo đức, xã hội cũng như pháp luật đầu tiên được biết đến.

Từ đó, vấn đề “MTH” được mở ra và ngày càng phổ biến trong xã hội mới với mục đích cuối cùng là giải quyết nhu cầu có con “ruột” của các cặp vợ chồng vô sinh, hiếm muộn. * Khái niệm MTH Bất kỳ giống loài nào trong tự nhiên, việc mang thai và sinh con đều nhằm mục đích duy trì nòi giống. Điều này phù hợp với quy luật phát triển của tự nhiên và có tầm quan trọng quyết định đến sự sinh tồn của mỗi giống loài. Dưới góc nhìn y học, quá trình mang thai bắt đầu khi noãn và tinh trùng gặp nhau rồi thụ tinh thành công.

Quá trình diễn ra bao gồm các giai đoạn: rụng trứng (phóng noãn), gặp tinh trùng, thụ tinh và làm tổ. Cụ thể, trong khoảng thời gian 2 tuần, sau ngày đầu tiên có kinh, khi phóng noãn từ buồng trứng, noãn sẽ được các tua vòi tử cung nằm ở cuối vòi tử cung đón nhận, được gọi là giai đoạn rụng trứng. Kế tiếp, noãn được đưa vào vòi tử cung trong vòng 24 giờ, nếu gặp tinh trùng thì sự thụ tinh xảy ra. Trong mỗi 2 Đào Xuân Dũng, “Sự ra đời của ‘công nghệ’ MTH”, [https://vnexpress.net/su-ra-doi-cua-cong-nghe-mang-thai- ho-2259855.

8 lần giao hợp có xuất tinh, hằng trăm triệu tinh trùng được đưa vào âm đạo. Phần lớn trong số đó sẽ bị chết do môi trường âm đạo có tính acid cao. Cuối cùng, chỉ những tinh trùng nào có sức sống mạnh mẽ nhất thì tồn tại được và bơi vào vòi tử cung tìm gặp noãn, nhưng thường cũng chỉ có một tinh trùng phá lớp màng noãn để chui vào trong noãn, tạo nên sự thụ tinh, gọi là phôi. Sau thụ tinh, phôi sẽ mất khoảng 4 – 5 ngày để di chuyển vào buồng tử cung và làm tổ.

Khi đó việc mang thai chính thức bắt đầu3. Còn theo Larsen’s Human Embryology thì mang thai (pregnancy) là thuật ngữ dùng để mô tả thời kỳ thai nhi phát triển bên trong tử cung của người phụ nữ4. Dưới góc nhìn xã hội, mang thai là việc tái sản xuất ra con người, nhằm duy trì và phát triển giống nòi. Đây cũng là chức năng cơ bản và cũng là lý do chính khiến các cá nhân gắn kết lại với nhau và tạo nên gia đình.

Bên cạnh đó, theo báo cáo nghiên cứu của Đại học Harvard (Mỹ) vừa công bố, Việt Nam là 1 trong 6 nước thuộc cực tăng trưởng châu Á có mức tăng trưởng kinh tế nhanh nhất thế giới đến năm 20305, cho nên Việt Nam cần một nguồn lực lao động lớn. Mang thai và sinh con chính là nguồn cung ứng sức lao động chủ yếu cho xã hội. Việc hiểu như thế nào về “mang thai” góp phần quan trọng để định nghĩa rõ ràng hơn về “MTH”. Cho đến thời điểm hiện tại, vẫn còn rất nhiều người nhầm lẫn giữa “MTH” và “đẻ thuê”.

Có người hiểu, “MTH” là việc một người đàn ông quan hệ với một người phụ nữ khác (không phải là vợ mình) để người này mang thai và sinh con cho anh ta. Đứa trẻ được sinh ra bằng tinh trùng của người đàn ông và trứng của người phụ nữ khác (không phải là vợ của người đàn ông). Cách hiểu này là hoàn toàn không phù hợp. Về mặt kỹ thuật, MTH được thực hiện hoàn toàn giống với một trường hợp xin noãn.

Cả hai kỹ thuật đều có sự tham gia của một nam giới và hai phụ nữ. Tinh trùng được thụ tinh trong ống nghiệm với noãn của một phụ nữ để tạo phôi và sau đó phôi được cấp vào tử cung của người phụ nữ thứ hai6. Theo đó, MTH được định nghĩa là việc áp dụng biện pháp kĩ thuật lấy noãn không phải của người được nhờ MTH và tinh trùng của người nhờ mang thai để thụ tinh trong ống nghiệm sau đó cấy vào tử cung của phụ nữ MTH để người này mang thai và sinh con cho bên nhờ MTH7. Với cách hiểu này, có thể thấy, đứa trẻ sinh ra bằng tinh trùng của người đàn ông và người phụ nữ (là vợ của anh ta), cũng tức là đứa trẻ mang huyết thống của cặp vợ chồng nhờ MTH.

Chính nghĩa 3 Bộ Y tế Vụ sức khỏe bà mẹ - trẻ em (2021), Cẩm nang “Lần đầu làm mẹ và nuôi con”, NXB. Thanh niên, tr. Bleyl MD, Philip R. Francis-West (2014), Larsen’s Human Embryology, NXB.

Elsevier - Health Sciences Division, tr. 5 “Việt Nam nằm trong số các nước phát triển nhanh nhất thế giới”, [https://baochinhphu.vn/viet-nam-nam-trong- so-cac-nuoc-phat-trien-nhanh-nhat-the-gioi- 6 Hồ Mạnh Tường, “MTH - Những điều cần biết”, [https://hosrem.vn/detailNews/thongtin/mang-thai-ho- nhung-dieu-can-biet-3563] (truy cập ngày 10/03/2023). 7 Nguyễn Thị Lê Huyền (2020), Chế định MTH theo pháp luật Việt Nam, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr. 9 cử cao đẹp ấy mà MTH đã tạo cơ hội làm cha, làm mẹ cho những cặp vợ chồng không thể mang thai và sinh con tự nhiên.

Do đó, MTH mang tính nhân văn sâu sắc. Còn theo khoản 1 Điều 5 Đạo luật MTH năm 2010 bang NSW, định nghĩa một thỏa thuận MTH là: (i) Một sự thỏa thuận theo đó một người phụ nữ đồng ý mang thai hoặc cố gắng mang thai đứa trẻ, và huyết thống của đứa trẻ sinh ra từ quá trình mang thai sẽ được chuyển giao cho một hoặc nhiều người khác (thỏa thuận MTH trước khi thụ thai), hoặc (ii) Một thỏa thuận theo đó một người phụ nữ đồng ý rằng huyết thống của đứa trẻ được sinh ra từ quá trình mang thai sẽ được chuyển giao cho một hoặc nhiều người khác (thỏa thuận MTH sau khi thụ thai). Với quy định này, có thể hiểu, dù trong thỏa thuận MTH trước khi thụ thai hay thỏa thuận MTH sau khi thụ thai thì người được nhờ MTH vẫn là người mẹ hợp pháp của đứa trẻ sinh ra bằng kỹ thuật MTH. Để quan hệ huyết thống được chuyển giao cho bên nhờ MTH, các bên phải trải qua một thủ tục nhất định.

Như vậy, có thể thấy, tồn tại rất nhiều quan điểm về MTH, tuy nhiên, chúng ta không thể phủ nhận sự nhân văn của nó mang lại, mở ra một cơ hội mới cho các cặp vợ chồng vô sinh, hiếm muộn. * Khái niệm MTH vì mục đích nhân đạo Dưới góc nhìn y học, MTH vì mục đích nhân đạo và MTH là giống nhau, đều áp dụng biện pháp kĩ thuật lấy noãn không phải của người được nhờ MTH và tinh trùng của người nhờ mang thai để thụ tinh trong ống nghiệm sau đó cấy vào tử cung của phụ nữ MTH để người này mang thai và sinh con cho bên nhờ MTH. Lúc này, người được nhờ MTH sẽ trải qua quá trình mang thai, cũng tức là thời kỳ thai nhi phát triển bên trong tử cung của người phụ nữ MTH. Dưới góc nhìn xã hội, MTH vì mục đích nhân đạo đã tạo ra một cơ hội mới, giúp các cặp vợ chồng vô sinh, hiếm muộn, không thể mang thai và sinh con tự nhiên được làm cha, làm mẹ của đứa con mang huyết thống của mình.

Từ đó, đảm bảo khả năng thực hiện chức năng tái sản xuất con người. Không những thế, việc “MTH vì mục đích nhân đạo” còn góp phần làm lành mạnh mối quan hệ hôn nhân của các cặp vợ chồng khi mà con cái được xem là động lực để cha mẹ chúng làm việc tốt hơn, sống có trách nhiệm hơn, từ đó tạo nên sự ổn định cho xã hội. Dưới góc nhìn pháp lý, khái niệm MTH vì mục đích nhân đạo chỉ mới được ghi nhận tại khoản 22 Điều 3 Luật HNGĐ năm 2014. Theo đó, “MTH vì mục đích nhân đạo là việc một người phụ nữ tự nguyện, không vì mục đích thương mại giúp mang thai cho cặp vợ chồng mà người vợ không thể mang thai và sinh con ngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, bằng việc lấy noãn của người vợ và tinh trùng của người chồng để thụ tinh trong ống nghiệm, sau đó cấy vào tử cung của người phụ nữ tự nguyện mang 10 thai để người này mang thai và sinh con”.

Việc MTH chỉ được thực hiện trong trường hợp người vợ không thể mang thai, sinh con ngay cả khi áp dụng kĩ thuật hỗ trợ sinh sản vì lý do bệnh lý. Khi đó vợ chồng được nhờ một người phụ nữ khác mang phôi thai đã được thụ tinh trong ống nghiệm từ noãn của người vợ và tinh trùng của người chồng để sinh con. Việc MTH nhằm giúp cặp vợ chồng vô sinh thực hiện được quyền làm cha mẹ đối với đứa con mang dòng máu huyết thống của mình mà không kèm theo bất cứ lợi ích vật chất nào8. Dưới góc nhìn pháp lý tại tiểu bang NSW, Đạo luật MTH năm 2010 lại không đưa ra định nghĩa về MTH vì mục đích nhân đạo.

Tuy nhiên, tại khoản 1 Điều 23 Đạo luật MTH năm 2010 có quy định: Thỏa thuận MTH cấm các thỏa thuận MTH vì mục đích thương mại.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ