Luận án tiến sĩ nghiên cứu xây dựng lý thuyết bình sai lưới không gian kết hợp trị đo mặt đất vệ tinh trong thi công xây dựng công trình

Luận án tiến sĩ nghiên cứu xây dựng lý thuyết bình sai lưới không gian kết hợp trị đo mặt đất và vệ tinh trong thi công xây dựng công trình.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2020

141
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ LƯỚI KHỐNG CHẾ TRẮC ĐỊA CÔNG TRÌNH VÀ XỬ LÝ SỐ LIỆU LƯỚI TRẮC ĐỊA KẾT HỢP TRỊ ĐO MẶT ĐẤT - VỆ TINH

1.1. Tổng quan về lưới khống chế trắc địa công trình

1.1.1. Đặc điểm về lưới khống chế trắc địa công trình

1.1.2. Các phương pháp xây dựng lưới khống chế trắc địa công trình

1.1.2.1. Các phương pháp truyền thống
1.1.2.2. Phương pháp sử dụng công nghệ GNSS
1.1.2.3. Phương pháp kết hợp trị đo mặt đất và trị đo vệ tinh

2. CHƯƠNG 2: LƯỚI KHÔNG GIAN CẠNH NGẮN TRONG XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH ĐỘ CHÍNH XÁC CAO

3. CHƯƠNG 3: NGHIÊN CỨU LÝ THUYẾT BÌNH SAI LƯỚI KHÔNG GIAN CẠNH NGẮN KẾT HỢP TRỊ ĐO MẶT ĐẤT - VỆ TINH ỨNG DỤNG TRONG TRẮC ĐỊA CÔNG TRÌNH

4. CHƯƠNG 4: NGHIÊN CỨU PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ LƯỚI KHÔNG GIAN CẠNH NGẮN KẾT HỢP TRỊ ĐO MẶT ĐẤT - VỆ TINH ỨNG DỤNG ĐỂ CHUYỂN TRỤC VÀ ĐỘ CAO TRONG THI CÔNG NHÀ SIÊU CAO TẦNG

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN NỘI DUNG LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Bình sai lưới không gian kết hợp trị đo mặt đất và vệ tinh

Bình sai lưới không gian là phương pháp toán học để xử lý và hiệu chỉnh các trị đo trong mạng lưới trắc địa. Khi kết hợp trị đo mặt đấttrị đo vệ tinh, quá trình bình sai đòi hỏi sự thống nhất về hệ tọa độ và độ chính xác. Hệ thống định vị vệ tinh (GNSS) cung cấp các baseline, trong khi kỹ thuật đo đạc mặt đất sử dụng máy toàn đạc điện tử (TĐĐT) để đo góc và khoảng cách. Việc kết hợp hai loại trị đo này giúp tăng độ chính xác và tính khả thi trong xây dựng công trình.

1.1. Hệ tọa độ và hệ quy chiếu

Để thống nhất các trị đo, cần sử dụng hệ tọa độ địa diện chân trờihệ quy chiếu phù hợp. Hệ tọa độ không gian ba chiều thường được áp dụng để xử lý các trị đo từ công nghệ vệ tinhkỹ thuật đo đạc mặt đất. Việc chuyển đổi giữa các hệ tọa độ đảm bảo tính nhất quán trong quá trình bình sai.

1.2. Thuật toán bình sai tự do số khuyết dương

Thuật toán bình sai tự do số khuyết dương được sử dụng để xử lý các trị đo trong mạng lưới không gian. Phương pháp này cho phép hiệu chỉnh các sai số hệ thống và ngẫu nhiên, đảm bảo độ chính xác cao trong đo đạc công trình. Thuật toán này đặc biệt hiệu quả khi áp dụng trong lưới không gian cạnh ngắn.

II. Ứng dụng trong xây dựng công trình

Lý thuyết bình sai lưới không gian kết hợp trị đo mặt đất và vệ tinh có ứng dụng rộng rãi trong xây dựng công trình, đặc biệt là các công trình có độ chính xác cao và chiều lớn. Việc kết hợp hai loại trị đo giúp tối ưu hóa quá trình thi công và đảm bảo độ chính xác trong đo đạc địa hìnhđo đạc công trình.

2.1. Chuyển trục và độ cao trong nhà siêu cao tầng

Trong thi công nhà siêu cao tầng, việc chuyển trục và độ cao lên các tầng là yêu cầu quan trọng. Lưới không gian cạnh ngắn kết hợp trị đo mặt đất và vệ tinh được sử dụng để đảm bảo độ chính xác trong quá trình này. Công nghệ GNSS hỗ trợ xác định độ cao, trong khi kỹ thuật đo đạc mặt đất hiệu chỉnh các sai số hệ thống.

2.2. Hiệu chỉnh trị đo và tọa độ

Quá trình hiệu chỉnh các trị đo trước bình sai và tọa độ sau bình sai là bước quan trọng để nâng cao độ chính xác. Phương pháp hiệu chỉnh bao gồm việc loại bỏ các sai số hệ thống và ngẫu nhiên, đảm bảo tính chính xác của hệ thống lưới không gian.

III. Phần mềm và thực nghiệm

Để áp dụng lý thuyết bình sai lưới không gian kết hợp trị đo mặt đất và vệ tinh, các phần mềm chuyên dụng như AdNet2 được sử dụng để xử lý số liệu. Phần mềm này hỗ trợ tính toán và hiệu chỉnh các trị đo, đảm bảo độ chính xác trong đo đạc hiện đại.

3.1. Xử lý số liệu thực tế

Các thực nghiệm được tiến hành trên các công trình thực tế để kiểm chứng tính hiệu quả của phương pháp bình sai. Kết quả cho thấy, việc kết hợp trị đo mặt đấttrị đo vệ tinh giúp tăng độ chính xác và giảm thời gian thi công.

3.2. Phát hiện sai số hệ thống

Quá trình thực nghiệm cũng bao gồm việc phát hiện và hiệu chỉnh các sai số hệ thống trong đo góc nghiêng. Thuật toán phát hiện sai số được áp dụng để đảm bảo độ chính xác của các trị đo trong lưới không gian kết hợp.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ nghiên cứu xây dựng lý thuyết bình sai lưới không gian kết hợp trị đo mặt đất vệ tinh trong thi công xây dựng công trình

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ LƯỚI KHỐNG CHẾ TRẮC ĐỊA CÔNG TRÌNH VÀ XỬ LÝ SỐ LIỆU LƯỚI TRẮC ĐỊA KẾT HỢP TRỊ ĐO MẶT ĐẤT - VỆ TINH 1. Tổng quan về lưới khống chế trắc địa công trình 1. Đặc điểm về lưới khống chế trắc địa công trình Lưới khống chế trắc địa công trình là một dạng lưới trắc địa chuyên dùng, được thành lập và sử dụng trong giai đoạn khảo sát thiết kế và thi công xây dựng công trình. Do tính chất đa dạng của các công trình xây dựng mà lưới khống chế thi công cũng rất đa dạng.

Tùy thuộc vào tính chất của từng công trình, điều kiện địa hình, điều kiện thi công mà mạng lưới trắc địa công trình được xây dựng một cách linh hoạt, nhằm đáp ứng yêu cầu trong quá trình thi công. Vì vậy, lưới thi công được thành lập theo các nguyên tắc sau đây: - Lưới thi công là mạng lưới độc lập, cục bộ để tránh ảnh hưởng sai số số liệu gốc, tọa độ quốc gia chỉ dùng để khởi tính. - Tất cả các bậc lưới thi công cần phải tính tọa độ, độ cao trong một hệ thống nhất đã được lựa chọn trong giai đoạn khảo sát và thiết kế công trình. - Trong một số trường hợp lưới thi công được thiết kế tối ưu độ chính xác theo hướng định trước phù hợp với yêu cầu kỹ thuật của công trình.

Những nguyên tắc trên đảm bảo cho lưới thi công không bị biến dạng do ảnh hưởng của sai số số liệu gốc, đồng thời lưới được định vị trong cùng một hệ tọa độ. Các phương pháp xây dựng lưới khống chế trắc địa công trình Tùy thuộc vào từng dạng công trình mà lưới khống chế thi công được thành lập theo các phương pháp khác nhau. Lưới khống chế thi công công trình có thể được thành lập bằng công nghệ đo đạc mặt đất (sử dụng máy kinh vĩ, máy toàn đạc điện 8 tử) hoặc công nghệ đo đạc vệ tinh (sử dụng các máy thu tín hiệu vệ tinh) hoặc kết hợp cả trị đo mặt đất và trị đo vệ tinh. Các phương pháp truyền thống Đây là phương pháp sử dụng các thiết bị đo ngắm trực tiếp trên mặt đất, lưới được thành lập chủ yếu dưới dạng: lưới tam giác đo góc, đo cạnh hoặc đo góc - cạnh.

Phương pháp lập lưới tam giác đo góc chỉ thường được áp dụng trong những năm trước đây khi điều kiện đo khoảng cách còn hạn chế, hiện nay hầu như không còn được sử dụng do sự phát triển của máy đo khoảng cách hiện đại. Phương pháp lập lưới tam giác đo cạnh có ưu điểm là thi công lưới nhanh nhưng số trị đo thừa trong mạng lưới ít, dẫn đến đồ hình lưới không chặt chẽ. Nhờ sự phát triển của các thế hệ máy TĐĐT, phương pháp xây dựng lưới tam giác đo góc - cạnh hiện nay được sử dụng phổ biến hơn cả do tận dụng được các ưu điểm, khắc phục một phần nhược điểm của hai phương pháp trên. Trong một số trường hợp khi gặp địa hình khó khăn có thể áp dụng đồ hình lưới đa giác hoặc lưới giao hội.

Phương pháp sử dụng công nghệ GNSS Ưu điểm vượt trội của công nghệ GNSS trong xây dựng lưới trắc địa so với công nghệ truyền thống là: độ chính xác đạt được đáp ứng yêu cầu thi công công trình, ít phụ thuộc vào người đo, thời gian thi công lưới ngắn, không phụ thuộc vào điều kiện thời tiết, đặc biệt là không yêu cầu thông hướng giữa các điểm, ít phụ thuộc địa hình. Do vậy xây dựng lưới khống chế bằng công nghệ GNSS được ứng dụng rộng rãi trong công tác trắc địa công trình. Với độ chính xác đạt được và khả năng đo được khoảng cách lớn mà không yêu cầu thông hướng, lưới GNSS có thể được phát triển vượt cấp, đây là ưu điểm nổi trội so với công nghệ truyền thống. Phương pháp kết hợp trị đo mặt đất và trị đo vệ tinh Trong những năm vừa qua, để thành lập các mạng lưới trắc địa công trình, thiết bị chủ yếu được sử dụng là các loại máy TĐĐT.

Có thể nói máy TĐĐT có lợi thế trong các trường hợp đo cạnh ngắn, số lượng trị đo nhiều, yêu cầu thời gian đo 9 ngắn. Hiện nay, các máy TĐĐT thế hệ mới có khả năng tự động đo nhiều trị đo liên tục theo thời gian. Tuy nhiên, sử dụng máy TĐĐT trở nên kém hiệu quả đối với những khu vực có địa hình phức tạp, đặc biệt khi điều kiện thông hướng kém. Thêm nữa, khi áp dụng phải chọn thời tiết và thời gian đo thích hợp để giảm ảnh hưởng của các yếu tố thời tiết đến các kết quả đo.

Chính vì vậy, lưới trắc địa thành lập bằng công nghệ GNSS đã giải quyết được những khó khăn so với lưới trắc địa thành lập bằng công nghệ truyền thống. Một ưu điểm nữa của phương pháp đo bằng công nghệ định vị vệ tinh GNSS là máy thu có khả năng thu tín hiệu liên tục với nhiều trị đo trên một giây. Khả năng này có ưu thế rất lớn trong các công tác quan trắc công trình hoặc hạn chế ảnh hưởng do công trình bị rung lắc [26]. Nhược điểm của công nghệ GNSS là đòi hỏi sự thông thoáng bầu trời tại các điểm đặt máy thu.

Vì vậy không thể áp dụng công nghệ GNSS tại những nơi có độ che phủ lớn. Ngoài ra, đo GNSS chịu ảnh hưởng đáng kể của nguồn gây nhiễu tín hiệu, hiện tượng đa đường dẫn từ trạm phát sóng, các đường dây tải điện hay các tín hiệu điện từ khác. Xuất phát từ ưu, nhược điểm của hai phương pháp nhận thấy rằng, trong một số trường hợp cần phải kết hợp cả đo mặt đất và công nghệ GNSS để thành lập lưới. Khi đó chắc chắn sẽ phát huy được ưu điểm và khắc phục được những mặt hạn chế của mỗi phương pháp, nâng cao hiệu quả kinh tế - kỹ thuật trong công tác xây dựng lưới.

Dựa vào số lượng các loại trị đo trong lưới, có thể phân thành các loại: lưới GNSS có bổ sung thêm trị đo mặt đất, lưới mặt đất có bổ sung thêm trị đo GNSS và lưới kết hợp trị đo mặt đất - vệ tinh trong trường hợp số lượng hai loại trị đo tương đối đồng đều nhau. Tổng quan về xử lý số liệu lưới kết hợp trị đo mặt đất - vệ tinh 1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới Mạng lưới trắc địa kết hợp mặt đất - vệ tinh là dạng lưới khống chế được xây dựng bao gồm cả trị đo vệ tinh lẫn trị đo mặt đất truyền thống. Từ những năm 1970, khi mà các hệ thống định vị vệ tinh bắt đầu được phát triển, đã có nhiều nghiên cứu về mạng lưới trắc địa kết hợp như nghiên cứu của Krakiwsky và Thomson (1974), 10 Groten (1977), Gajderowicz (1979, 1981), Adam và các đồng nghiệp (1982), Welsch và Oswald (1984), Baeumker (1984), Swiatek (1986, 1988) [45].

Trước đây, thông thường các trị đo mặt đất và trị đo vệ tinh sẽ được bình sai riêng rẽ với nhau. Sự kết hợp nếu có giữa hai loại trị đo này thường là sử dụng các phép tính chuyển sau khi đã bình sai hai mạng lưới riêng rẽ. Hiện nay, các trị đo mặt đất và vệ tinh đã có thể kết hợp với nhau để bình sai trong một mạng lưới chung. Vấn đề cần giải quyết đối với dạng lưới kết hợp trị đo mặt đất - vệ tinh là các dạng trị đo này ở những mặt quy chiếu khác nhau.

Kết quả đo vệ tinh thu được là các gia số tọa độ ΔX, ΔY, ΔZ trong hệ tọa độ ba chiều không gian địa tâm. Ví dụ như đo GPS sẽ thu được gia số tọa độ trong hệ WGS-84. Trong khi đó các trị đo góc, cạnh, hướng truyền thống lại nằm trên bề mặt thực của khu vực, với giá trị độ cao được tính theo phương của đường dây dọi. Thêm nữa, các trị đo mặt đất sau quá trình xử lý số liệu sẽ được tách ra thành tọa độ mặt bằng (hai chiều) của điểm với hệ quy chiếu là bề mặt Ellipsoid và độ cao điểm (một chiều) với bề mặt quy chiếu là Geoid.

Để giải quyết được bài toán bình sai kết hợp trị đo mặt đất - vệ tinh nghĩa là chúng ta phải bình sai hai dạng trị đo khác biệt này trong một hệ quy chiếu chung. Vấn đề cần giải quyết đối với dạng lưới kết hợp trị đo mặt đất - vệ tinh là các dạng trị đo này ở những mặt quy chiếu khác nhau. Tùy theo mục đích, yêu cầu sử dụng và phạm vi của lưới khống chế, mỗi cách chọn hệ quy chiếu đều có ưu nhược điểm và khả năng ứng dụng phù hợp riêng. Xử lý số liệu là công tác nội nghiệp có vai trò quan trọng của trắc địa, đặc biệt là khi xuất hiện dạng trị đo vệ tinh với những đặc điểm riêng, nên những vấn đề nêu trên cũng là hướng nghiên cứu được quan tâm của các nhà trắc địa trên thế giới.

Có thể tóm tắt các hướng nghiên cứu thành các nhóm như sau: 1. Nghiên cứu xử lý số liệu lưới kết hợp trị đo mặt đất - vệ tinh trong mặt phẳng Nghiên cứu của Daxinger và Stirling [51] đã chỉ ra khả năng bình sai lưới hỗn hợp mặt đất vệ tinh trong hệ tọa độ phẳng hai chiều. Để xây dựng mạng lưới trắc địa ở Ba Lan, Kadaj và các đồng nghiệp đã sử dụng chương trình GeoNet 11 (www.pl), trong đó trị đo mặt đất và vệ tinh được bình sai với lưới mặt bằng hai chiều, còn lưới độ cao một chiều được xử lý riêng rẽ sau khi đã chuyển đổi trị đo của GNSS (ΔX, ΔY, ΔZ) thành khoảng cách, phương vị và chênh cao trắc địa Ellipsoid s, α, ΔHTĐ [44]. Việc chuyển đổi các gia số tọa độ GNSS trong hệ địa tâm sang tọa độ phẳng thành (Δx, Δy) cũng được sử dụng để bình sai kết hợp các mạng lưới có cả trị đo vệ tinh và trị đo mặt đất, chênh cao trắc địa ΔH khi này được chuyển thành chênh cao thuỷ chuẩn thông thường.

Những vấn đề này đã được nghiên cứu và đề cập đến trong các tài liệu [38], [52]. Tuy nhiên, rõ ràng là sự chuyển đổi các gia số tọa độ đo được từ GNSS sang các bề mặt khác, bao gồm các mặt Ellipsoid tham chiếu hay mặt phẳng bản đồ thì đều có chứa sai số hệ thống trong các phép tính [45]. Nghiên cứu bình sai lưới không gian kinh điển khi chưa xuất hiện công nghệ định vị vệ tinh Từ năm 1878, Bruns đã đề xuất đến vấn đề bình sai lưới tam giác trong không gian (ba chiều). Sau đó năm 1957 Hotine đã phát triển đầy đủ lý thuyết của phương pháp này.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Lý thuyết bình sai lưới không gian kết hợp trị đo mặt đất và vệ tinh trong xây dựng công trình" cung cấp một cái nhìn toàn diện về phương pháp bình sai lưới không gian, kết hợp dữ liệu từ đo đạc mặt đất và vệ tinh để nâng cao độ chính xác trong xây dựng công trình. Các điểm chính bao gồm: nguyên lý bình sai lưới, cách tích hợp dữ liệu từ nhiều nguồn, và ứng dụng thực tiễn trong các dự án xây dựng. Tài liệu này mang lại lợi ích lớn cho kỹ sư và nhà quản lý dự án, giúp tối ưu hóa quy trình đo đạc và giảm thiểu sai số trong thiết kế và thi công.

Để mở rộng kiến thức về các phương pháp xử lý nền móng và kỹ thuật xây dựng, bạn có thể tham khảo thêm Luận văn thạc sĩ chuyên ngành địa kỹ thuật xây dựng nghiên cứu lựa chọn thông số thiết kế cọc đất xi măng xử lý nền đường ở sóc trăng trà vinh ứng dụng cho đường vào cầu c16 khu kinh tế định an, Luận văn thạc sĩ chuyên ngành địa kỹ thuật xây dựng nghiên cứu giải pháp móng cọc cho công trình thấp tầng trên địa bàn thành phố sóc trăng, và Luận văn thạc sĩ chuyên ngành địa kỹ thuật xây dựng nghiên cứu giải pháp ứng dụng cọc khoan nhồi đường kính nhỏ trên địa bàn thành phố sóc trăng. Những tài liệu này sẽ giúp bạn hiểu sâu hơn về các giải pháp kỹ thuật liên quan đến nền móng và xây dựng công trình.