Khám Phá Lý Luận Văn Học: Quá Trình Sáng Tác và Sưu Tầm Từ Sách Chuyên Khảo

Chuyên khảo văn học phân tích Chuyên đề lí luận văn học văn học nhà văn quá trình sáng tác lệ na sưu tầm, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo.

Trường đại học

Đại học Sư phạm

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

sách
98
14
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

1. CHƯƠNG I: VĂN NGHỆ, HÌNH THÁI Ý THỨC XÃ HỘI THẨM MĨ

1.1. Đặc trưng đối tượng và nội dung của văn học

1.2. Nội dung tình cảm xã hội thẩm mĩ

1.3. Hình tượng nghệ thuật

1.3.1. Hình tượng nghệ thuật như một khách thể tinh thần đặc thù

1.3.2. Tính tạo hình và biểu hiện của hình tượng

1.3.3. Hình tượng và kí hiệu

Trích đoạn nội dung tài liệu

NHÓM 1: Nguồn: Sách LÍ LUẬN VĂN HỌC Tập 1 - Phượng Lưu, Nguyễn Trọng Nghĩa, La Khắc Hòa, Lê Lưu Oanh - NXB Đại học Sư phạm. -----------------------------VĂN HỌC-------------------------- CHƯƠNG I: VĂN NGHỆ, HÌNH THÁI Ý THỨC XÃ HỘI THẨM MĨ Văn học là một hình thái ý thức xã hội, bắt nguồn từ đời sống, phản ánh đời sống, bày tỏ một quan điểm, một cách nhìn, một tình cảm đối với đời sống. Nhưng văn học nói riêng cũng như nghệ thuật nói chung, không giống các hình thái ý thức xã hội khác bởi có những đặc thù riêng mang tính thẩm mĩ về đối tượng, nội dung và phương thức thể hiện. Đặc trưng đối tượng và nội dung của văn học 1.

Đối tượng của văn học Nội dung là yếu tố đầu tiên quy định sự khác nhau của văn học so với các hình thái ý thức xã hội khác như chính trị, đạo đức, tôn giáo, lịch sử, địa lí, sinh học. Nội dung, trước hết là cái được nhận thức, chiếm lĩnh từ đối tượng. Vậy đối tượng của văn học là gì? Mĩ học duy tâm khách quan từ thời Platông đến Hêghen đều cho rằng đối tượng của nghệ thuật chính là biểu hiện của thế giới thần linh, của những linh cảm thần thánh, của ý niệm tuyệt đối – một thế giới sản sinh trước loài người. Nghĩa là, mọi đối tượng của nghệ thuật cũng như của văn học đều là thế giới của thần linh, của những điều huyền bí, cao cả.

Văn học nghệ thuật suy cho cùng là sự hồi tưởng và miêu tả thế giới ấy, một thế giới không thuộc phạm vi đời sống hiện thực. Quan điểm này đã đề cao và thần thánh hóa đối tượng của văn học nghệ thuật. Cho nên không lạ gì khi chúng ta bắt gặp hầu hết đối tượng phản ánh của văn học, nghệ thuật thời cổ chính là các câu chuyện về các vị thần linh: từ người khổng lồ Khoa Phụ đuổi bắt mặt trời, Nữ Oa vá trời trong thần thoại Trung Quốc, đến các vị thần trên đỉnh Ôlempơ và con cháu của của các vị thần đó như Hécquyn, Asin trong văn học Hi Lạp cổ đại, rồi Thánh Gióng, Sơn Tinh, Thủy Tinh, Lạc Long Quân và Âu Cơ của người Việt. Mĩ học duy tâm chủ quan lại cho rằng, đối tượng nghệ thuật chính là những cảm giácchủ quan, là cái tôi bề sâu trong bản chất con người của nghệ sĩ, không liên quan gì đến đời sống hiện thực.

Đây là một quan điểm đầy mâu thuẫn, bởi mọi cảm giác của con người bao giờ cũng chính là sự phản ánh của thế giới hiện thực. Còn các nhà mĩ học duy vật từ xưa đến nay đều khẳng định, đối tượng của nghệ thuật chính là toàn bộ đời sống hiện thực khách quan. Tsécnưsépxki đã nói: Phạm vi của nghệ thuật gồm tất cả những gì có trong hiện thực (trong thiên nhiên và trong xã hội) làm cho con người quan tâm. Quan điểm này đã đưa đối tượng của nghệ thuật về gần gũi với hiện thực đời sống .Thực ra, từ thời xa xưa, con người đã biết văn học nghệ thuật bắt nguồn từ đời sống.

Ở Trung Quốc, thuyết cảm vật đã chỉ rõ: mùa xuân, mùa thu, các mùa thay thế nhau, làm cảnh vật biến đổi, tâm hồn cũng thay đổi theo. Còn theo các thuyết thi ngôn chí, thi duyên tình: văn chương tạo nên do con người có cảnh ngộ trong lòng mình muốn bộc lộ, mà cảnh ngộ đó cũng là do tác động của đời sống tạo nên. Như vậy, có thể nói, đối tượng của văn học, nghệ thuật là toàn bộ đời sống xã hội và tự nhiên. Tsécnưsépxki từng nói: “Cái đẹp là cuộc sống” vì lí do đó.

Nhưng phạm vi này vô cùng rộng. Bởi lẽ, nếu nói đối tượng của văn học là đời sống thì chưa tách biệt với đối tượng của các ngành khoa học và các hình thái ý thức xã hội khác như lịch sử, địa lí, hóa học, y học, chính trị, đạo đức. Văn học phải có cách nhận thức và thể hiện đối tượng khác biệt. Nếu như đối tượng của triết học là những quy luật chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy, là mối quan hệ giữa vật chất và ý thức; đối tượng của lịch sử là các sự kiện lịch sử, sự thay thế nhau của các chế độ; đối tượng của đạo đức học là các chuẩn mực đạo đức trong mối quan hệ người với người.

thì đối tượng của văn học là toàn bộ đời sống hiện thực, nhưng chỉ là hiện thực có ý nghĩa đối với đời sống tâm hồn, tình cảm con người. Tức là, dù văn học có miêu tả thế giới bên ngoài như thiên nhiên, lịch sử, chiến tranh, hòa bình., văn học cũng chỉ chú ý tới quan hệ của chúng đối với con người. Văn học, nghệ thuật nhìn thấy trong các hiện tượng đời sống những ý nghĩa “quan hệ người kết tinh trong sự vật”. Thế giới khách quan trong văn học là thế giới được kết cấu trong các mối liên hệ với con người.

Người ta gặp tất cả các hình thức đời sống trong văn học, từ những hiện tượng tự nhiên “mây, gió, trăng, hoa, tuyết, núi, sông”, tiếng sấm rền vang, giọt mưa rơi tí tách, tiếng sóng ào ạt xô bờ, một tiếng chim ban mai đến những biến cố lịch sử lớn lao. Nhưng cái văn học chú ý là kết quả, ý nghĩa của tất cả những hiện tượng đời sống đó đối với con người. Văn học không nhìn thiên nhiên như một nhà sinh học, một nhà khí tượng học, mà thấy ở đó tâm trạng, số phận, vận mệnh con người: tiếng chim ban mai là âm thanh của niềm vui sống, đám mây trắng vô tận là hình ảnh của sự hư vô, cái hư ảo, phù du của kiếp người. Ngay cả các hiện tượng lịch sử cũng được văn học nhìn nhận dưới góc độ khác biệt.

Sau những những biến cố dữ dội của cách mạng Nga tháng Hai và tháng Mười năm 1917, Rôtsin đã nói với Katia: “Mọi cuộc chiến tranh rồi sẽ qua đi, cách mạng sẽ thôi gào thét, chỉ còn tấm lòng em dịu dàng ngàn đời bất diệt” (Con đường đau khổ - A. Khi nhìn thấy ngôi sao chổi trên bầu trời Matxcơva năm 1812, trong lòng Pie Bêdukhốp tràn ngập những tình cảm cao thượng và mới mẻ (Chiến tranh và hòa bình – L. Điều văn học quan tâm là tác động của những biến cố lịch sử, của tự nhiên, của thế giới xung quanh tới tâm hồn con người chứ không phải bản thân những biến cố ấy. Như vậy, đối tượng của văn học là hiện thực mang ý nghĩa người.

Văn học không miêu tả thế giới trong ý nghĩa chung nhất của sự vật. Điều mà văn học chú ý chính là một “quan hệ người kết tinh trong sự vật”: dòng sông là nơi lưu giữ những kỉ niệm tuổi thơ, đầm sen là nơi gặp gỡ, giao duyên, con đê làng là ranh giới của hồn quê và văn minh thị thành. Đó chính là những giá trị nhân sinh thể hiện trong sự vật. Có thể nói, đối tượng của văn học nói riêng, nghệ thuật nói chung, là toàn bộ thế giới hiện thực có ý nghĩa đối với sự sống con người, mang tư tưởng, tình cảm, khát vọng của con người.

“Nghệ thuật được tác thành bởi Con người. Nó là sự biểu đạt của con người trước thế giới tự nhiên và đời sống” (Bách khoa toàn thư Comtorp’s). Trong toàn bộ thế giới hiện thực đó, con người với toàn bộ các quan hệ của nó là đối tượng trung tâm của văn học.ấ Toàn bộ thế giới khi được tái hiện trong tác phẩm đều được tái hiện dưới con mắt một con người cụ thể. Đó có thể là người kể chuyện, là nhân vật hoặc nhân vật trữ tình.

Con người trong văn học trở thành những trung tâm giá trị, trung tâm đánh giá, trung tâm kết tinh các kinh nghiệm quan hệ giữa con người và thế giới. Khi lấy con người làm hệ quy chiếu, làm trung tâm miêu tả, văn học có một điểm tựa nhìn ra thế giới, bởi văn học nhìn thế giới qua lăng kính của những con người có cá tính riêng. Do đó, miêu tả con người là phương thức miêu tả toàn thế giới. Văn học không miêu tả con người như một nhà triết học, chính trị học, đạo đức học, y học, giải phẫu học., mà thấy đó là con người có lịch sử cá nhân, có tính cách, có tình cảm, có số phận với những quan hệ cụ thể, cá biệt.

Khi nhà thơ Tố Hữu viết về Bác Hồ: Cha đã đi đày đau nỗi riêng, Còn nghe dưới gót nặng dây xiềng, Mẹ nằm dưới đất hay chăng hỡi, Xin sáng lòng con ngọn lửa thiêng (Theo chân Bác) ta thấy hiện lên hình ảnh Bác Hồ Không phải như một nhà chính trị trừu tượng mà là một con người có tâm hồn, tình cảm và số phận riêng. Con người trong văn học còn tiêu biểu cho những quan hệ xã hội nhất định, vì vậy, con người được miêu tả vừa như những kiểu quan hệ xã hội kết tinh trong những tính cách (tham lam, keo kiệt, hiền lành, trung hậu.), vừa cả thế giới tâm hồn, tư tưởng của chính họ. Có thể nói, toàn bộ lịch sử văn học của nhân loại chính là lịch sử tâm hồn con người. Vì thế, con người trong văn học không giống với con người là đối tượng của các ngành khoa học khác như lịch sử, đạo đức, sinh học, y học.

Điều đó khẳng định tính không thể thiếu được của văn học trong lịch sử ý thức nhân loại. Bên cạnh con người là đối tượng chính, văn học còn hướng tới đời sống trong toàn bộ tính phong phú và muôn vẻ của các biểu hiện thẩm mĩ của nó. Đó là toàn bộ đời sống trong tính cụ thể, sinh động, toàn vẹn, với mọi âm thanh, màu sắc, mùi vị. vô cùng sinh động và gợi cảm.

Văn học cũng như nghệ thuật luôn hướng tới cái đẹp của đời sống, đặc biệt là cái đẹp về hình thức của sự vật: ánh chiều tà đỏ ối, một lá ngô đồng rụng, giọt sương mai long lanh. Nhưng tất cả cái đẹp này của cuộc sống cũng đều được tái hiện dưới con mắt của một con người cụ thể với những kinh nghiệm, ấn tượng và sự tinh tế. Có những bài thơ chỉ như bức tranh thiên nhiên, thiếu vắng con người: Lạc hà dữ cô lộ tề phi, Thu thủy cộng trường thiên nhất sắc (Ráng chiều vạc lẻ cùng bay, Nước thu cùng với trời thu một màu) (Vương Bột) Nhưng bức tranh thực sự vẫn bộc lộ gián tiếp về cái nhìn của con người về tự nhiên, một tự nhiên giàu màu sắc và nhịp điệu, giàu sức sống và sức biểu hiện, làm thư thái tâm hồn con người.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ