mở đầu, kết thúc, nhân vật có tính cách, số phận. Tuy vậy hình tượng ở đây vẫn là những cấu tạo văn học, sáng tạo bằng tưởng tượng, hư cấu có giá trị như những hệ thống kí hiệu thẩm mi, chứ không phải đơn giản chỉ là sự “phản ánh” người thực, việc thực, dù cho nhà văn có dụng ý viết về người thực việc thực. Ý nghĩa là một yếu tố của cấu trúc văn bản, được hình dung nằm sâu bên trong văn bản, hoặc được đặt ở mặt sau, tầng sâu văn bản. Ý nghĩa này chính là dé tài, chủ để, tư tưởng, cảm hứng, ý nghĩa thẩm mĩ đóng vai trò những hạt nhân liên kết các yếu tố cấu trúc cũng như các yếu tố nhỏ hơn trong nội bộ mỗi yếu tố.
Ý nghĩa này là một phức hợp ý nghĩa rất nhiều mặt, thể hiện trong rất nhiều mạch liên kết của văn bản ngôn từ và hệ thống hình tượng. Sự thống nhất của các lớp nói trên tạo thành phương diện bản thể của văn bản văn học (nội dung này sẽ tiếp tục triển khai ở chương sau). Tính quá trình của tác phẩm văn học Xét tác phẩm văn học ở phương diện kí hiệu học, với tư cách là một sáng tạo có tính kí hiệu, một phương tiện giao tiếp thì tác phẩm có hai mặt: cdi biểu dat va cdi được biểu đạt, uăn bản uàè ý nghĩa. Nội dung tác phẩm văn học được mã hoá vào các phương tiện biểu đạt là văn bản ngôn từ và hình tượng văn học, làm thành ý nghĩa của chúng.
Người đọc giải mã văn bản ngôn từ và hình tượng để nắm bất ý nghĩa của tác phẩm. Do đó nội dung tác phẩm được thực hiện và mở ra qua ý nghĩa mà người đọc phát hiện, nội dung tác phẩm chính là tổng hoà mọi ý nghĩa của tác phẩm do hoạt động đọc mở ra. | | Văn bản là một cấu trúc mở, ý nghĩa do người đọc khám phá không chỉ trong nội bộ cấu trúc văn bản, mà còn ở mối liên hệ giữa văn bản với ngữ cảnh văn hoá, với văn bản khác (tính hên văn bản), với ngữ cảnh thời đại (tư tưởng và hiện thực cuộc sống của người đọc thuộc các thời đại khác nhau), cho nên có tính chất vô hạn. Ý nghĩa của tác phẩm có thể vượt xa dự kiến ban đầu của tác giả.
Như thế sự thống nhất giữa nội dung và hình thức trong tác phẩm văn học là sự thống nhất của cái biểu đạt và ý nghĩa đặt trong các mối quan hệ với ngữ cảnh hẹp — văn bản tác phẩm, sáng tac của tác giả và ngữ cảnh rộng — môi trường xã hội, văn hoá của sự đọc. 19 Hoạt động văn học là một quá trình toàn vẹn, trong đó tác giả, tác phẩm, người đọc đều là các yếu tố không thể thiếu. Nếu đặt văn học vào trong quá trình sản xuất văn học của một xã hội, thì tác giả là người sản xuất, tác phẩm là sản phẩm còn người đọc là người tiêu dùng. Như mọi sản xuất tỉnh thần khác, sản xuất và tiêu dùng văn học cũng là hai lĩnh vực khác nhau, nhưng không thể tách rời.
Không có sản xuất thì không có tiêu dùng, không có tiêu dùng thì sản xuất vô nghĩa. Tác phẩm văn học đóng vai trò môi giới, làm khâu nối giữa sản xuất và tiêu dùng. “Tiêu dùng” văn học là hoạt động đồng sáng tạo năng động của người đọc. Hoạt động đọc của người đọc nhằm kiến tạo lại tác phẩm từ các dữ kiện của văn bản nhà văn, theo ý nghĩa mà người đọc nắm bắt.
Do có sự tham gia của người đọc vào việc tạo thành tác phẩm cho nên sau khi đọc một tác phẩm mỗi người đọc đều tạo ra một “dị bản” của riêng mình về tác phẩm đó, tuỳ theo năng lực, trình độ, dụng ý, thị hiếu của anh ta. Như thế, không phải mọi cách hiểu đều có giá trị như nhau, mọi “di ban” đều tương đồng với tác phẩm. Chỉ có cách hiểu phù hợp với cấu trúc biểu hiện của văn bản thì mới tạo thành tác phẩm của nhà văn. Ví du, đọc bai tho Déy mua thu tới của Xuân Diệu, có người hiểu đó là nỗi buồn của thế hệ không lối thoát, có người hiểu đó là nỗi buổn trước thời gian chảy trôi, tuổi trẻ phai tàn, lại có người hiểu là cảm nhận mùa thu đẹp và buồn một cách lãng mạn.
Ba cách hiểu trên ít nhiều đều phù hợp với tác phẩm. Cách hiểu thứ nhất mang tính chất xã hội học. Cách hiểu thứ hai mang tính triết lí. Cách hiểu thứ ba nghiêng về tính chất thẩm mĩ.
Ví dụ tác phẩm Đồng tâm nhất trí của Hồ Chí Minh là một ngụ ngôn kể chuyện người bán trầu không với người bán hàng mã hứa “đồng tâm nhất trí” với nhau, hễ người này dé ra việc gì thì người kia “phải làm theo không chối cãi”. Thế rồi, gặp trời nắng anh hàng mã đem hàng ra phơi, anh bán trầu cũng đem trầu ra phơi nắng! Gặp dòng nước, anh bán trầu nhúng trầu xuống nước cho tươi, anh hàng mã cũng đem hàng mã nhúng xuống nước! Có người hiểu đây là tác phẩm kêu gọi sự hi sinh quyền lợi cá nhân cho tập thể, nhưng có người hiểu ngược lại, khi đoàn kết nhất trí, phải tính đến đặc điểm riêng, không được bắt chước một cách mù quáng, có hại. Hi sinh quyền lợi cá nhân như thế là hoàn toàn vô nghĩa. Thiết nghĩ cách hiểu thứ hai đúng hơn.
Ở đây chỉ mới đề cập tới khía cạnh lí giải tác phẩm. Trong thực tế người : đọc luôn có thái độ đối thoại với tác phẩm. Họ đồng cảm, đồng tình, nêu vấn đề và tìm lời đáp trong tác phẩm hoặc phản ứng, phan bác, phủ nhận. Đối thoại làm cho tác phẩm có dịp mở tung mọi chiều sâu của mình.
Như vậy, trong tiếp nhận, tác phẩm văn học được đọc và cảm nhận theo nhiều hướng khác nhau, có nhầm, có sai, có đúng và phải biết lựa chọn 20 cách hiểu đứng, tránh ngộ nhận. Các cách hiểu đúng cũng không phải một chiều. Như vậy, văn bản nói chung không thay đổi, nhưng tác phẩm lại đối thay theo lịch sử. Trong tiến trình lịch sử, do điều kiện xã hội, văn hoá, tư tưởng khác nhau, tác phẩm được khám phá ở các bình diện khác nhau, bình điện sau có thể sâu hơn bình diện trước, tạo thành quá trình của tác phẩm, tạo thành số phận của bản thân tác phẩm.
Nhìn chung, càng về sau, người đọc càng khám phá ở tác phẩm những giá trị mới mà thời gian trước chưa nhìn ra. Tuy vậy đối với các tác phẩm có giá trị văn học lớn, ý nghĩa của nó là vô tận. HƯỚNG DẪN HỌC TẬP * Nắm uững các khái niệm Các quan niệm về tác phẩm văn học, phân biệt văn bản và tác phẩm cùng mối quan hệ thống nhất của chúng, cấu trúc văn bản văn học và quan niệm tác phẩm văn học như một quá trình. * Câu hỏi suy nghĩ 1.
Các quan niệm về tác phẩm văn học từ truyền thống đến nay có những ưu điểm và nhược điểm như thế nào? 2. Hãy hình dung sự tổn tại của tác phẩm văn học trong thực tế xã hội, lịch sử? Đâu là cơ sở tổn tại ổn định của tác phẩm và đâu là sự biến động của tác phẩm văn học? Lấy ví dụ về một vài tác phẩm văn học mà anh, chị biết. Sự phân biệt văn bản và tác phẩm văn học có ý nghĩa như thế nào? 4. Có phải mọi cách đọc, mọi cách giải thích về văn bản tác phẩm đều đồng nhất với tác phẩm văn học? Có thể phân biệt cách đọc đúng và cách đọc không đúng trong chừng mực nào? 5.
Nêu mối quan hệ giữa nội dung và ý nghĩa của tác phẩm văn học. Vì sao nói tác phẩm văn học là một quá trình? Có thể hiểu quá trình đó như thế nào? * Giải thích khúi niệm Quan niệm truyền thống: Tác phẩm văn học là sự thống nhất không tách rời giữa nội dung và hình thức. Nội dưng xét về mặt triết học là tổng hoà mọi yếu tố bên trong của tác phẩm mà trước hết là đề tài, chủ để, cảm hứng, tư tưởng. Hình thức tác phẩm là kết cấu, tổ chức và hình thái biểu hiện của nội dung.
Hình thức là phương thức đặc thù dùng để gia công các yếu tố nội dung. 21 Văn bản uà tác phẩm: Theo sự phân biét cua mi hoc tiép nhan, van bản là hệ thống kí hiệu được cố định lại bằng những phương tiện nhất định. Túc phẩm là khách thể thẩm mĩ, sản phẩm sau khi đọc, tổn tại trong ý thức người đọc, là sự thống nhất của hình tượng và ý nghĩa. Cấu trúc uăn bản uăn học: Văn bản có cấu trúc ba lớp: lớp ngôn từ, lớp hình tượng và lớp ý nghĩa.
Túc phẩm uăn học là một quá trình: Do văn học vừa tổn tại trong văn bản cố định, vừa tồn tại trong tiếp nhận của người đọc, mà sự tiếp nhận phụ thuộc vào các yếu tố chủ quan và khách quan, nên tác phẩm văn học là một sản phẩm không ngừng biến động về nghĩa trong quá trình tiếp nhận. * Trích yếu tư liệu 1.NÓI VỀ HÌNH THỨC VÀ NỘI DUNG CUA TAC PHẨM VĂN HỌC Hình thức và nội dung là các phạm trù triết học được sử dụng trong nhiều lĩnh vực tri thức khác nhau. Từ “hình thức” (gốc La tinh 14 Forma) cũng giống như từ morphe va eidos cha tiéng Hi Lạp cổ đại. Từ “nội dung” xuất hiện muộn hơn trong thời cận đại châu Âu (Conient, Gehoœlt, Contenu).
Trong triết học cổ đại, đối lập với hình thức là uậ¿ chất, chất liệu, là cái được quan niệm như một thứ không có tính chất, hỗn độn, đòi hỏi phải được g1a công, do gọt để trở thành những vật thể có trật tự, tức là các hình thức. Ý nghĩa của từ hình thức gần với các khái niệm “bản chất”, “tư tưởng”, “logos”. Aristote viết: “Tôi gọi thực chất tổn tại của từng sự vật là hình thức”. Cặp phạm trù vật chất — hình thức xuất hiện để đáp ứng nhu cầu của nhân loại nhằm chỉ sức mạnh sáng tạo của thiên nhiên, chúa trời và con người.
" Trong triết học cận đại, khái niệm “vật chất” bị thay thế bởi khái niệm “nội dung”. Khái niệm này trong tương quan với khái niệm hình thức đã được hiểu một cách khác: hình thức có nghĩa là sự biểu hiện, thể hiện cho một bản chất (vật chất) được suy ra bằng lí trí, hoặc là bản chất tâm lí, tỉnh thần tổn tại phổ quát (thiên nhiên, vũ trụ). Thế giới của các hình thức biểu hiện rộng hơn rất nhiều so với lĩnh vực sáng tạo nghệ thuật.