Luận văn: Thủ tục giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất tại Tòa án nhân dân

Luận văn thạc sĩ luật kinh tế về thủ tục giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất tại Tòa án nhân dân, phân tích cơ sở pháp lý và thực tiễn áp dụng.

Chuyên ngành

Luật kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ
99
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan thủ tục giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất tại TAND

Tranh chấp quyền sử dụng đất là một dạng tranh chấp dân sự phức tạp và phổ biến tại Việt Nam. Đây là những mâu thuẫn, bất đồng phát sinh giữa các chủ thể về quyền quản lý, sử dụng, chuyển nhượng hoặc định đoạt đối với thửa đất cụ thể. Việc giải quyết tranh chấp đất đai thông qua hệ thống Tòa án nhân dân giữ vai trò then chốt trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên liên quan, đồng thời duy trì trật tự pháp luật về quản lý đất đai.

Theo quy định hiện hành, Tòa án nhân dân chỉ thụ lý giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất sau khi các bên đã thực hiện thủ tục hòa giải bắt buộc tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp. Khi hòa giải không thành, đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết. Tòa án sẽ áp dụng các quy phạm của Bộ luật Tố tụng dân sự kết hợp với pháp luật đất đai để thụ lý, xác minh tài liệu, mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, công khai chứng cứ và tiến hành hòa giải. Trường hợp hòa giải không thành, Tòa án tiến hành xét xử công khai nhằm đưa ra bản án khách quan, có hiệu lực thi hành bắt buộc.

1.1. Khái niệm và đặc điểm của tranh chấp quyền sử dụng đất

Tranh chấp quyền sử dụng đất là sự xung đột quyền và nghĩa vụ giữa các bên trong quan hệ pháp luật đất đai. Đối tượng của loại tranh chấp này là quyền sử dụng đất, một loại quyền tài sản đặc thù gắn liền với tài nguyên quốc gia. Tranh chấp đất đai thường có tính chất gay gắt, kéo dài và liên quan mật thiết đến nguồn gốc tạo lập đất qua nhiều thời kỳ lịch sử. Các dạng phổ biến bao gồm tranh chấp ranh giới thửa đất, tranh chấp đòi lại đất cho mượn, tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất và tranh chấp phát sinh từ hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Tính chất phức tạp này đòi hỏi sự tham gia của cơ quan tài phán chuyên nghiệp.

1.2. Thẩm quyền và vai trò của Tòa án nhân dân trong giải quyết

Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của Nhà nước, thực hiện quyền tư pháp nhằm bảo vệ công lý và quyền con người. Trong lĩnh vực đất đai, Tòa án có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp đã có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc có một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại luật định. Tòa án cũng thụ lý các tranh chấp không có giấy tờ nếu đương sự lựa chọn giải quyết tại Tòa thay vì Ủy ban nhân dân. Phán quyết của Tòa án mang tính quyền lực nhà nước cao nhất, buộc các cơ quan hành chính và đương sự phải nghiêm túc chấp hành, qua đó bảo đảm sự ổn định và minh bạch cho thị trường bất động sản.

II. Thực trạng thủ tục giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất TAND

Thực tiễn áp dụng thủ tục giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất tại Tòa án nhân dân hiện nay bộc lộ nhiều khó khăn, vướng mắc. Quá trình tố tụng thường bị kéo dài qua nhiều cấp xét xử, gây tốn kém thời gian và chi phí cho đương sự. Một trong những nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ tính phức tạp trong lịch sử quản lý đất đai. Việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại nhiều địa phương trước đây còn thiếu chính xác, sơ sài về đo đạc hoặc trùng lặp ranh giới.

Bên cạnh đó, công tác thu thập chứng cứ và thẩm định tại chỗ gặp nhiều cản trở. Sự phối hợp cung cấp tài liệu từ cơ quan tài nguyên và môi trường đôi khi chậm trễ. Hoạt động đo vẽ, định giá đất tranh chấp thường kéo dài do biến động giá cả thị trường và sự bất hợp tác của đương sự đang chiếm giữ đất. Thủ tục hòa giải tiền tố tụng tại cơ sở còn mang tính hình thức, chưa phát huy hiệu quả hòa giải mâu thuẫn ngay từ ban đầu. Điều này dẫn đến số lượng vụ án thụ lý tại Tòa án gia tăng nhanh chóng.

2.1. Vướng mắc trong thủ tục thu thập chứng cứ và định giá

Thu thập tài liệu, chứng cứ là giai đoạn chiếm nhiều thời gian nhất trong quá trình xét xử tranh chấp đất đai. Việc xác minh nguồn gốc thửa đất đòi hỏi hồ sơ địa chính qua nhiều thời kỳ, nhưng hồ sơ lưu trữ tại cơ sở thường thiếu đồng bộ, thất lạc hoặc sai lệch hiện trạng. Hoạt động xem xét, thẩm định tại chỗ thường xuyên bị cản trở bởi đương sự có hành vi chống đối. Ngoài ra, việc thành lập hội đồng định giá tài sản gặp khó khăn do khoảng cách giữa khung giá đất nhà nước và giá chuyển nhượng thực tế trên thị trường, làm chậm tiến độ giải quyết vụ án.

2.2. Hạn chế từ thủ tục hòa giải tiền tố tụng tại cơ sở

Hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã là điều kiện bắt buộc trước khi khởi kiện tranh chấp ai là người có quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, hoạt động này trên thực tế còn bộc lộ tính hình thức. Cán bộ tư pháp - hộ tịch và địa chính cấp xã thường kiêm nhiệm nhiều nhiệm vụ, hạn chế về chuyên môn pháp lý tố tụng. Biên bản hòa giải nhiều nơi lập sơ sài, không xác định rõ yêu cầu cụ thể của từng bên hoặc không thể hiện đầy đủ quá trình thương lượng. Kết quả hòa giải không thành đạt tỷ lệ cao, làm tăng gánh nặng giải quyết cho Tòa án các cấp.

III. Giải pháp hoàn thiện thủ tục giải quyết tranh chấp đất tại TAND

Để nâng cao hiệu lực, hiệu quả của thủ tục giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất tại Tòa án nhân dân, cần triển khai đồng bộ các giải pháp lập pháp và tổ chức thi hành. Về mặt lập pháp, pháp luật tố tụng cần quy định rõ ràng thời hạn cung cấp thông tin, tài liệu địa chính của cơ quan quản lý nhà nước về đất đai khi có yêu cầu từ Tòa án. Đồng thời, cần bổ sung chế tài nghiêm khắc đối với hành vi trốn tránh, cản trở việc xem xét, thẩm định tại chỗ hoặc không cung cấp chứng cứ đúng thời hạn.

Về mặt thực thi, việc nâng cao năng lực chuyên môn và kỹ năng hòa giải cho Thẩm phán đóng vai trò then chốt. Cần đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong việc số hóa dữ liệu hồ sơ địa chính và kết nối trực tiếp giữa Tòa án với cơ quan đăng ký đất đai. Việc hoàn thiện cơ chế đối thoại và hòa giải theo Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án sẽ giúp giải tỏa căng thẳng giữa các đương sự, giảm tải áp lực xét xử sơ thẩm và phúc thẩm.

3.1. Hoàn thiện quy định pháp luật và cơ chế phối hợp liên ngành

Cần chuẩn hóa quy chế phối hợp giữa ngành Tòa án nhân dân và ngành Tài nguyên và Môi trường. Quy chế này cần xác định rõ trách nhiệm, trình tự và thời hạn cung cấp hồ sơ trích lục bản đồ địa chính, sổ mục kê và lịch sử biến động thửa đất. Khi cơ quan hành chính chậm trễ cung cấp tài liệu mà không có lý do chính đáng, người đứng đầu phải chịu trách nhiệm công vụ. Đồng thời, việc sửa đổi quy định về thẩm định giá đất trong tố tụng dân sự cần bảo đảm tính độc lập, sát với biến động thị trường thực tế.

3.2. Nâng cao năng lực xét xử và kỹ năng hòa giải của Thẩm phán

Đội ngũ Thẩm phán cần được bồi dưỡng chuyên sâu về kỹ năng giải quyết án tranh chấp đất đai và cập nhật các chính sách đất đai mới. Kỹ năng nghiên cứu bản đồ, thẩm định thực địa và phân tích chuỗi chuyển dịch quyền sử dụng đất là yếu tố cốt lõi để đưa ra phán quyết chính xác. Bên cạnh đó, Thẩm phán cần chú trọng kỹ năng hòa giải trong giai đoạn chuẩn bị xét xử. Việc giải thích thấu tình đạt lý quyền và nghĩa vụ hợp pháp sẽ giúp các đương sự tự nguyện thương lượng, hạn chế xung đột kéo dài trong cộng đồng dân cư.

IV. Kết luận về thủ tục giải quyết tranh chấp đất đai tại TAND

Thủ tục giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất tại Tòa án nhân dân giữ vị trí trung tâm trong hệ thống pháp luật bảo vệ quyền tài sản tại Việt Nam. Việc thực hiện đúng đắn và nghiêm minh quy trình tố tụng không chỉ bảo đảm quyền lợi hợp pháp cho các chủ thể sử dụng đất, mà còn góp phần giữ vững ổn định trật tự xã hội và nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về đất đai. Một bản án công minh, đúng pháp luật là công cụ hữu hiệu nhất để chấm dứt dứt điểm các mâu thuẫn phức tạp kéo dài qua nhiều thế hệ.

Để quy trình tố tụng đất đai đạt hiệu quả tối ưu trong thực tế, các cá nhân và tổ chức khi tham gia tranh chấp cần chủ động thu thập, hoàn thiện hồ sơ chứng cứ ngay từ giai đoạn tiền tố tụng. Việc nắm vững trình tự khởi kiện, tích cực tham gia hòa giải và hợp tác chặt chẽ với cơ quan tiến hành tố tụng sẽ rút ngắn đáng kể thời gian giải quyết vụ án. Pháp luật đất đai ngày càng hoàn thiện sẽ tạo nền tảng vững chắc cho hoạt động xét xử của Tòa án trong tương lai.

4.1. Giá trị thực tiễn đối với bảo đảm quyền tài sản của công dân

Phán quyết của Tòa án nhân dân mang giá trị pháp lý bắt buộc thi hành, là cơ sở để cơ quan đăng ký đất đai cấp mới hoặc điều chỉnh Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Thủ tục tố tụng tư pháp bảo vệ hữu hiệu quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất trước các hành vi lấn chiếm, chiếm dụng trái phép. Đồng thời, quá trình giải quyết công khai, minh bạch giúp đương sự bảo vệ toàn vẹn tài sản hợp pháp của mình, loại bỏ sự bất an và các tranh chấp tiềm ẩn trong giao dịch bất động sản đời sống hàng ngày.

4.2. Khuyến nghị chuẩn bị hồ sơ cho đương sự khi khởi kiện

Khi tham gia tố tụng tranh chấp đất đai tại Tòa án, người khởi kiện cần chuẩn bị đầy đủ hồ sơ gồm đơn khởi kiện, biên bản hòa giải không thành tại UBND cấp xã và các giấy tờ chứng minh nguồn gốc đất. Cần chủ động thu thập chứng cứ về hiện trạng sử dụng, trích lục bản đồ địa chính, hóa đơn nộp thuế đất và văn bản xác nhận của những người làm chứng xung quanh thửa đất. Sự chuẩn bị kỹ lưỡng về mặt chứng cứ giúp Thẩm phán nhanh chóng nắm bắt bản chất vụ việc, từ đó hạn chế việc trả lại đơn khởi kiện hoặc đình chỉ vụ án.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

18/08/2026
Lv ths luật kinh tế thủ tục giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất tại tòa án nhân dân

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỦ TỤC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN 1. Khái niệm, đặc điểm của tranh chấp quyền sử dụng đất 1. Khái niệm quyền sử dụng đất Đất đai là một bộ phận không thể tách rời với lãnh thổ quốc gia. Ngoài ý nghĩa là cơ sở vật chất thì lãnh thổ còn có ý nghĩa đối với việc tồn tại và duy trì một ranh giới quyền lực nhà nước trong một cộng đồng dân cư nhất định.

Không chỉ có vậy, đối với con người, nếu được khai thác, sử dụng hợp lý, đất đai là một tài nguyên vô tận, trở thành một loại tư liệu sản xuất có giới hạn về không gian, diện tích nhưng vô hạn về thời gian sử dụng và khả năng sinh lời. Chính bởi vậy, nhằm đảm bảo cho việc quản lí và khai thác tối đa các lợi ích mà đất đai mang lại cho con người, pháp luật của nước ta cũng có những quy định chặt chẽ về QSDĐ của cá nhân, tổ chức, hộ gia đình nhằm xác lập cho những người trực tiếp sử dụng đất những quyền và lợi ích nhất định, tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho NSDĐ phát huy năng lực tự chủ trong quá trình sử dụng đất. Cụ thể: Hiến pháp 2013 tại Điều 54 của nước ta quy định: "1. Đất đai là tài nguyên đặc biệt của quốc gia, nguồn lực quan trọng phát triển đất nước, được quản lý theo pháp luật.

Tổ chức, cá nhân được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất. Người sử dụng đất được chuyển quyền sử dụng đất, thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo quy định của luật. Quyền sử dụng đất được pháp luật bảo hộ". Hiện thực hóa quy định của đạo luật gốc, Luật Đất đai 2013 tại Điều 4 khẳng định rõ hơn quyền sở hữu đất đai: Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý.

Nhà nước trao QSDĐ cho NSDĐ theo quy định của Luật này. Cùng với đó, với vai trò chủ sở hữu đại diện, Nhà nước 9 có quyền định đoạt đất đai thông qua hàng loạt các quyền như: quyền quyết định mục đích, thời hạn, hạn mức sử dụng đất; quyền phân bổ đất đai thông qua các hoạt động giao đất cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất; thực hiện quản lí nhà nước ở cả phương diện hành chính và kinh tế thông qua việc điều tiết các nghĩa vụ tài chính đối với NSDĐ, điều tiết các thu nhập đối với NSDĐ và thực hiện quyền giải quyết các tranh chấp, bất đồng, các khiếu nại, tố cáo về đất đai. Với các quy định cụ thể nêu trên của pháp luật hiện hành cho thấy, QSDĐ trong trường hợp này là một trong ba quyền năng của quyền sở hữu đó là: quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt đất đai theo cách tiếp cận truyền thống từ cổ luật La Mã về quyền sở hữu tài sản. Theo đó, khi một tài sản được xác định thuộc quyền sở hữu của ai thì người đó có quyền được chi phối đối với tài sản đó theo cách riêng của mình để thỏa mãn cho nhu cầu của họ.

Việc tiến hành khai thác, sử dụng tài sản nhằm để hưởng thụ những giá trị do tài sản đó mang lại là một trong những cách thức chi phối của người có quyền sở hữu tài sản, miễn sao quá trình thực hiện quyền sử dụng tài sản phục vụ cho lợi ích của mình phải không được vượt ra khỏi phạm vi pháp luật quy định. Với ý nghĩa đó, quyền sử dụng tài sản là một trong những cách thức thực hiện quyền sở hữu tài sản. Pháp luật Việt Nam cũng tiếp cận quyền sở hữu tài sản từ quan điểm gốc rễ này. Cụ thể, BLDS Việt Nam năm 2015 cũng đã ra khái niệm về quyền sở hữu: "Quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo quy định của pháp luật".

Từ cơ sở pháp lý nền tảng nêu trên hoàn toàn cho phép chúng ta có cách tiếp cận đối với quyền sở hữu, quyền sử dụng của những tài sản cụ thể (trong đó có tài sản là đất đai) một cách tương tự. Theo đó, người có quyền sở hữu đối với tài sản là đất đai cũng có ba quyền năng quan trọng: quyền chiếm hữu đất đai, QSDĐ đai và quyền định đoạt đất đai. Trong các quyền năng cơ bản nêu trên của chủ sở hữu đối với đất đai thì quyền có vai trò quan trọng và ý nghĩa quyết định trong việc chuyển hóa đất đai từ một tài sản tự nhiên thuần túy và ở dạng "tiềm năng", "nguyên thủy" trở thành tài sản có giá trị và giá trị sử dụng cụ thể để đáp ứng 10 cho nhu cầu của con người và sự phát triển của xã hội, quyền có vai trò thực hiện hóa ý đồ của chủ sở hữu đất đai, làm cho đất đai có giá trị về mặt kinh tế đó là QSDĐ. Khi xem xét và tiếp cận QSDĐ trong mối quan hệ với quyền sở hữu đất đai cho chúng ta thấy, QSDĐ gắn liền với quyền sở hữu và bị chi phối bởi quyền sở hữu đối với đất đai.

Ở các nước duy trì chế độ sở hữu tư nhân về đất đai thì QSDĐ là một quyền năng của quyền sở hữu và không tách rời quyền sở hữu. Người có QSDĐ cũng đồng thời là người có quyền sở hữu chính mảnh đất đó. Trong quá trình sử dụng đất và thực hiện các quyền đối với đất, họ cũng đồng thời là người có quyền quyết định số phận pháp lý đối với mảnh đất thuộc quyền sở hữu của mình. Khác với các nước thực hiện quyền sở hữu tư nhân đối với đất đai nêu trên, ở các nước duy trì chế độ sở hữu Nhà nước hay chế độ sở hữu toàn dân mà Nhà nước là đại diện chủ sở hữu thì QSDĐ được tiếp cận có phần khác biệt hơn.

Theo đó, QSDĐ vừa mang tính phụ thuộc vào quyền sở hữu đất đai của Nhà nước, được phát sinh trên cơ sở quyền sở hữu của Nhà nước và cũng bị chi phối bởi quyền sở hữu Nhà nước đối với đất đai. Các QSDĐ của mỗi tổ chức, cá nhân có được xác lập hay không là phụ thuộc vào quyền sở hữu đất đai của Nhà nước, được phát sinh trên cơ sở quyền sở hữu của Nhà nước và cũng bị chi phối bởi quyền sở hữu Nhà nước đối với đất đai. Các QSDĐ của mỗi tổ chức, cá nhân có được xác lập hay không là dựa trên cơ sở sự chuyển giao hoặc cho phép của Nhà nước mới có được. Tuy nhiên, trong quá trình khai thác và sử dụng đất ấy, QSDĐ của mỗi chủ thể lại mang tính độc lập tương đối, chúng được thoát ly ra khỏi quyền sở hữu và trở thành một chế định độc lập trong quan hệ với Nhà nước và chủ thể khác, người có QSDĐ được Nhà nước xác lập có quyền chủ động khai thác và sử dụng cho các nhu cầu và mục đích khác nhau.

Bằng các quy định về quyền sở hữu đất đai ghi nhận tại Điều 54 Hiến pháp 2013 và Điều 4 Luật đất đai năm 2013, Nhà nước đã trao QSDĐ cho các tổ chức và cá nhân thông qua các hình thức nhận giao đất không thu tiền, giao đất có thu tiền, cho thuê đất hoặc công nhận QSDĐ và họ trở thành người có QSDĐ chứ không 11 phải người có quyền sở hữu đất đai. Khi chuyển giao đất cho NSDĐ, tùy thuộc vào các hình thức sử dụng đất khác nhau mà Nhà nước cho phép các chủ thể sử dụng đất khác nhau được hưởng các quyền và thực hiện các nghĩa vụ đối với Nhà nước. Theo Từ điển giải thích Luật học thì: "Quyền sử dụng đất của Nhà nước là quyền khai thác các thuộc tính có ích từ đất để phục vụ cho các mục đích phát triển kinh tế và đời sống xã hội. Nhà nước thực hiện quyền sử dụng đất một cách gián tiếp thông qua việc giao đất cho các tổ chức, cá nhân sử dụng.

Các tổ chức, cá nhân này khi sử dụng có nghĩa vụ đóng góp vật chất cho Nhà nước dưới dạng thuế sử dụng đất, tiền sử dụng đất". Theo định nghĩa này thì QSDĐ của Nhà nước không được thực hiện trực tiếp bởi Nhà nước mà gián tiếp thực hiện qua chủ thể là NSDĐ, là người được Nhà nước cho phép sử dụng đất thông qua các hình thức pháp lý khác nhau và trao cho họ những quyền và nghĩa vụ pháp lý cụ thể trong quá trình khai thác QSDĐ. Và như vậy, những giá trị và khả năng sinh lợi của đất, những thuộc tính có ích trên từng mảnh đất và ở phạm vi toàn bộ đất đai của quốc gia có được khai thác và sử dụng có hiệu quả hay không là tùy thuộc vào NSDĐ - người trực tiếp thực hiện QSDĐ theo ý đồ của Nhà nước. Tuy nhiên, không phải bất kỳ chủ thể nào cũng có thể trở thành chủ thể sử dụng đất, cũng đương nhiên có QSDĐ, mà quyền đó phụ thuộc vào sự cho phép của Nhà nước với tư cách là chủ sở hữu.

Đến đây có thể thấy rằng QSDĐ vừa mang tính phụ thuộc (nếu xem xét chúng với ý nghĩa một trong ba quyền năng của chủ sở hữu) và vừa mang tính độc lập (nếu xem xét chúng với ý nghĩa là quyền khai thác trực tiếp các giá trị của đất của từng chủ thể sử dụng đất cụ thể). Tuy không đồng nhất giữa quyền sở hữu đất đai và quyền sử dụng đất nhưng quyền sở hữu đất đai được chủ sở hữu đất đai chuyển giao cho người sử dụng đất thực hiện và trở thành một loại quyền tài sản thuộc về người sử dụng đất. Về điểm này, PGS. Phạm Duy Nghĩa cho rằng: "Phải thừa nhận quyền sử dụng đất của cá nhân và tổ chức là quyền tài sản tư, cần được Nhà nước tôn trọng và bảo hộ.

Điều đó không có nghĩa là phải thay đổi sở hữu về đất đai. Sáng tạo ra khái niệm quyền sử dụng đất cả người Việt Nam và người Trung Quốc dường như đã tạo ra một khái 12 niệm sở hữu kép, một khái niệm sở hữu đa tầng: Đất đai thuộc sở hữu toàn dân, song quyền sử dụng đất lại thuộc về cá nhân hoặc tổ chức". Như vậy, chủ thể thực hiện QSDĐ với tư cách là chủ thể sử dụng đất chứ không phải với tư cách chủ sở hữu. Với tư cách là người đại diện chủ sở hữu, Nhà nước thống nhất quản lí đất đai thông qua các quyền năng được pháp luật ghi nhận và đảm bảo thực hiện, đó là: quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ