Luận văn thạc sĩ luật kinh tế: Pháp luật về doanh nghiệp tư nhân ở Việt Nam

Luận văn thạc sĩ luật kinh tế nghiên cứu thực trạng pháp luật về doanh nghiệp tư nhân ở Việt Nam, phân tích bất cập và đề xuất hoàn thiện.

Chuyên ngành

Luật kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ
69
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan pháp luật về doanh nghiệp tư nhân ở Việt Nam

Pháp luật về doanh nghiệp tư nhân ở Việt Nam hình thành từ công cuộc Đổi mới năm 1986. Luật Doanh nghiệp tư nhân năm 1990 đánh dấu bước ngoặt pháp lý đầu tiên. Văn bản này công nhận quyền tự do kinh doanh của cá nhân. Trải qua các thời kỳ sửa đổi, Luật Doanh nghiệp năm 2014 và Luật Doanh nghiệp năm 2020 tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý này. Doanh nghiệp tư nhân do một cá nhân duy nhất làm chủ sở hữu. Chủ sở hữu nắm toàn quyền quyết định mọi hoạt động đầu tư và kinh doanh. Doanh nghiệp tư nhân không có tư cách pháp nhân độc lập. Chủ doanh nghiệp chịu trách nhiệm vô hạn bằng toàn bộ tài sản cá nhân đối với mọi nghĩa vụ nợ. Doanh nghiệp tư nhân không được phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào để huy động vốn. Mỗi cá nhân chỉ được quyền thành lập một doanh nghiệp tư nhân duy nhất. Mô hình này vận hành đơn giản, linh hoạt và gọn nhẹ. Pháp luật hiện hành tạo hành lang thông thoáng nhằm khuyến khích tinh thần khởi nghiệp và thúc đẩy phát triển kinh tế tư nhân.

1.1. Khái niệm và đặc điểm pháp lý cơ bản

Doanh nghiệp tư nhân mang những đặc trưng pháp lý riêng biệt theo pháp luật hiện hành. Thứ nhất, doanh nghiệp do một cá nhân duy nhất đầu tư vốn và làm chủ sở hữu. Thứ hai, doanh nghiệp không có tư cách pháp nhân do không có sự tách bạch giữa tài sản của chủ sở hữu và tài sản doanh nghiệp. Thứ ba, chủ sở hữu chịu trách nhiệm vô hạn về mọi khoản nợ bằng toàn bộ tài sản cá nhân. Thứ tư, doanh nghiệp không được quyền phát hành chứng khoán trên thị trường vốn. Thứ năm, mỗi cá nhân chỉ được đứng tên thành lập một doanh nghiệp tư nhân. Những đặc điểm này bảo đảm sự an toàn cao nhất cho các đối tác giao dịch.

1.2. Điều kiện thành lập và đăng ký kinh doanh

Cá nhân thành lập doanh nghiệp tư nhân phải đáp ứng các điều kiện luật định. Người thành lập phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ. Cá nhân không thuộc các đối tượng bị cấm theo Điều 17 Luật Doanh nghiệp hiện hành. Cán bộ, công chức, viên chức và sĩ quan lực lượng vũ trang không được quyền thành lập doanh nghiệp tư nhân. Hồ sơ đăng ký bao gồm giấy đề nghị đăng ký doanh nghiệp và bản sao giấy tờ pháp lý cá nhân. Cơ quan đăng ký kinh doanh cấp Giấy chứng nhận trong thời hạn 03 ngày làm việc nếu hồ sơ hợp lệ. Thủ tục hành chính ngày càng đơn giản hóa và hỗ trợ tối đa người kinh doanh.

II. Thực trạng quy định pháp luật về doanh nghiệp tư nhân ở Việt Nam

Thực tiễn áp dụng pháp luật về doanh nghiệp tư nhân ở Việt Nam bộc lộ nhiều điểm nghẽn. Cơ chế chịu trách nhiệm vô hạn tạo ra rủi ro pháp lý lớn cho chủ đầu tư. Khi doanh nghiệp thua lỗ, toàn bộ tài sản cá nhân và gia đình chủ sở hữu đều bị xử lý nghĩa vụ nợ. Điều này khiến nhiều nhà đầu tư e ngại mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh. Bên cạnh đó, quy định cấm phát hành chứng khoán làm hạn chế khả năng huy động vốn trung và dài hạn. Doanh nghiệp tư nhân phụ thuộc hoàn toàn vào vốn tự có hoặc vốn vay ngân hàng với lãi suất cao. Quy định về chuyển đổi loại hình doanh nghiệp còn phát sinh một số vướng mắc về thủ tục chuyển giao tài sản và nghĩa vụ thuế. Quyền cho thuê và bán doanh nghiệp cũng gặp nhiều bất cập trong việc phân định trách nhiệm liên đới giữa chủ cũ và chủ mới. Các tranh chấp hợp đồng kinh tế thường kéo dài do thiếu cơ chế tài phán chuyên biệt cho loại hình này.

2.1. Hạn chế về trách nhiệm vô hạn và huy động vốn

Chế độ trách nhiệm vô hạn là rào cản lớn nhất đối với sự phát triển của doanh nghiệp tư nhân. Chủ doanh nghiệp phải gánh chịu rủi ro bằng toàn bộ khối tài sản hiện có và tương lai. Quy định này bảo vệ chủ nợ nhưng lại triệt tiêu động lực mở rộng kinh doanh mạo hiểm. Ngoài ra, việc không được phát hành cổ phiếu hay trái phiếu thu hẹp kênh dẫn vốn. Ngân hàng thương mại thường đòi hỏi tài sản thế chấp khắt khe khi cấp tín dụng. Tình trạng thiếu vốn lưu động và vốn đầu tư công nghệ diễn ra phổ biến. Khung pháp lý hiện nay chưa tạo điều kiện cho doanh nghiệp tiếp cận các nguồn vốn tài chính phi ngân hàng.

2.2. Bất cập trong quản lý tài sản và quan hệ sở hữu

Pháp luật chưa có ranh giới rõ ràng giữa tài sản kinh doanh và tài sản sinh hoạt của chủ doanh nghiệp. Việc không bắt buộc chuyển quyền sở hữu tài sản góp vốn vào doanh nghiệp gây khó khăn cho việc minh bạch tài chính. Khi xảy ra tranh chấp hoặc phá sản, cơ quan thi hành án gặp nhiều trở ngại trong việc xác định tài sản chung của vợ chồng. Quy định về cho thuê doanh nghiệp tư nhân vẫn chưa phân định triệt để nghĩa vụ thuế phát sinh. Bên thuê và bên cho thuê thường phát sinh bất đồng về trách nhiệm đối với các khoản nợ của bên thứ ba.

III. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện khung pháp lý về doanh nghiệp tư nhân là yêu cầu cấp thiết để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển bền vững. Nhà nước cần xây dựng cơ chế bảo vệ hợp lý tài sản thiết yếu của chủ doanh nghiệp khi xử lý nợ vô hạn. Cần nghiên cứu bổ sung quy định cho phép doanh nghiệp tư nhân phát hành trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ dưới sự giám sát chặt chẽ. Hệ thống đăng ký tài sản kinh doanh cần được hiện đại hóa và liên thông dữ liệu với cơ quan thuế. Quy trình chuyển đổi doanh nghiệp tư nhân sang công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần cần được tinh gọn tối đa. Cần hoàn thiện chế tài xử lý vi phạm nghĩa vụ báo cáo tài chính và công khai thông tin doanh nghiệp. Các cơ quan quản lý nhà nước cần tăng cường các gói hỗ trợ tín dụng ưu đãi và tư vấn pháp lý miễn phí cho các chủ cơ sở kinh doanh cá thể chuyển đổi lên doanh nghiệp tư nhân.

3.1. Đổi mới quy định tài chính và cơ chế huy động vốn

Pháp luật cần mở rộng các kênh tiếp cận vốn hợp pháp cho doanh nghiệp tư nhân. Nhà nước có thể thí điểm cho phép phát hành trái phiếu riêng lẻ có tài sản bảo đảm. Quy định về hợp đồng vay vốn giữa cá nhân chủ doanh nghiệp và các tổ chức tín dụng cần được chuẩn hóa. Việc thành lập các quỹ bảo lãnh tín dụng dành riêng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa là giải pháp then chốt. Bên cạnh đó, chính sách miễn giảm thuế thu nhập doanh nghiệp trong những năm đầu thành lập cần được áp dụng rộng rãi. Điều này giúp doanh nghiệp tái đầu tư lợi nhuận và nâng cao năng lực tài chính nội bộ.

3.2. Cải cách thủ tục hành chính và chuyển đổi mô hình

Quy trình đăng ký kinh doanh và chuyển đổi loại hình doanh nghiệp cần được số hóa hoàn toàn. Cơ quan đăng ký kinh doanh cần đơn giản hóa hồ sơ chuyển nhượng vốn và tài sản. Việc xác nhận nghĩa vụ thuế trong quá trình chuyển đổi cần được thực hiện qua cổng dịch vụ công trực tuyến. Hướng dẫn pháp lý về việc cho thuê và bán doanh nghiệp tư nhân phải cụ thể và minh bạch hơn. Cần quy định rõ thời điểm chấm dứt trách nhiệm tài sản của chủ cũ sau khi hoàn tất thủ tục bàn giao. Việc này giúp bảo vệ quyền lợi hợp pháp của cả người mua và chủ nợ.

IV. Ý nghĩa thực tiễn của pháp luật về doanh nghiệp tư nhân ở Việt Nam

Pháp luật về doanh nghiệp tư nhân ở Việt Nam giữ vai trò nền tảng trong việc giải phóng sức sản xuất xã hội. Khung pháp lý hoàn chỉnh tạo môi trường kinh doanh minh bạch, bình đẳng và an toàn. Doanh nghiệp tư nhân đóng góp quan trọng vào tăng trưởng GDP, giải quyết việc làm và tăng thu ngân sách nhà nước. Việc nắm vững các quy định pháp luật giúp các cá nhân chủ động lựa chọn mô hình đầu tư thích hợp. Các chủ doanh nghiệp có thể phòng ngừa rủi ro pháp lý, bảo vệ tài sản và tối ưu hóa hoạt động quản trị. Áp dụng đúng các chính sách ưu đãi của nhà nước giúp doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng, việc hoàn thiện thể chế kinh tế tư nhân là động lực then chốt đưa kinh tế Việt Nam phát triển nhanh và bền vững. Doanh nghiệp tư nhân tiếp tục khẳng định vị thế không thể thay thế trong nền kinh tế nhiều thành phần.

4.1. Vai trò thúc đẩy kinh tế tư nhân và khởi nghiệp

Quy định thông thoáng về doanh nghiệp tư nhân mở ra cơ hội khởi nghiệp dễ dàng cho mọi công dân. Mô hình quản lý một chủ giúp đưa ra các quyết định kinh doanh nhanh chóng và chớp thời cơ thị trường. Loại hình này đặc biệt phù hợp với các ngành nghề thương mại, dịch vụ quy mô vừa và nhỏ. Doanh nghiệp tư nhân đóng vai trò cầu nối giải quyết nguồn lao động tại chỗ ở các địa phương. Hệ thống pháp lý hoàn thiện tạo bệ phóng vững chắc để các hộ kinh doanh tự tin chuyển đổi lên mô hình doanh nghiệp chính quy.

4.2. Khuyến nghị ứng dụng cho chủ doanh nghiệp

Chủ doanh nghiệp cần thiết lập hệ thống sổ sách kế toán bài bản ngay từ khi bắt đầu hoạt động. Việc phân tách rõ ràng chi tiêu cá nhân và dòng tiền kinh doanh là nguyên tắc bắt buộc để kiểm soát rủi ro. Các chủ doanh nghiệp phải tuân thủ nghiêm ngặt nghĩa vụ kê khai thuế và công bố thông tin theo luật định. Khi quy mô kinh doanh mở rộng, việc xem xét chuyển đổi sang mô hình công ty trách nhiệm hữu hạn là cần thiết để bảo vệ tài sản cá nhân. Chủ doanh nghiệp cũng cần chủ động tìm hiểu các hiệp định thương mại để tận dụng ưu đãi xuất khẩu.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

18/08/2026
Lv ths luật kinh tế pháp luật về doanh nghiệp tư nhân ở việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN 1. Lịch sử hình thành và phát triển doanh nghiệp tư nhân Sự phát triển của DNTN cần được nhìn nhận, đánh giá dưới lăng kính tổng quan của nền kinh tế tư nhân nói chung, của các doanh nghiệp nội khối tư nhân nói riêng. Vì vậy, trong phạm vi phần lịch sự phát triển này, thuật ngữ DNTN được dùng để chỉ DNTN nói riêng và chỉ các loại` hình doanh nghiệp thuộc khối tư nhân nói chung. Doanh nghiệp tư nhân ở Việt Nam trước thời kỳ đổi mới Trong bản Tuyên ngôn độc lập (1945), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lên án một trong những tội ác của thực dân khi chúng cai trị nước ta là: "chúng không cho các nhà tư sản của nước ta ngóc đầu lên".

Do đó, khi Việt Nam bước vào thời kỳ chống thực dân Pháp với khẩu hiệu "Toàn dân kháng chiến", Người đã kêu gọi những người giàu góp vốn để mở công ty kinh doanh công nghiệp, nông nghiệp, thương nghiệp, tài chính, giao thông để tịch thu một cách vô điều kiện các cơ sở sản xuất tư nhân. Hưởng ứng lời kêu gọi đó, nhiều thương nhân Việt Nam giàu lòng yêu nước đã đóng góp xứng đáng vào cuộc kháng chiến trường kỳ 1945-1954. Đến năm 1954, hòa bình lập lại ở Miền Bắc Việt Nam và bước vào công cuộc xây dựng lại đất nước, trong khi Miền Nam Việt Nam vẫn còn dưới chế độ Mỹ - Diệm. Với khẩu hiệu "xây dựng chủ nghĩa xã hội", tất cả tài sản của các thành phần kinh tế như: kinh tế cá thể người lao động ở nông thôn, các DNTN, hộ sản xuất thủ công, hay của các DNTN nhỏ đều bị chuyển đổi thành tài sản của nhà nước.

Cải cách ruộng đất ở nông thôn được nhìn nhận như một sai lầm trong phát triển kinh tế của Việt Nam. Vào thời kỳ đó, ở miền Bắc có 3.065 DNTN với tổng số vốn gần 22 triệu USD. Hình thức chủ yếu của các DNTN là DNTN một chủ hoặc một số ít là DNTN hợp danh, các hình thức doanh nghiệp khác như: Công ty TNHH, công ty cổ phần chưa xuất hiện. 6 Trong vòng 6 năm, toàn bộ sở hữu tư nhân trong các doanh nghiệp bị quy thành sở hữu nhà nước, khu vực kinh tế tư nhân gần như bị tiêu diệt hoàn toàn.

Nền kinh tế Việt Nam (miền Bắc) chỉ có hai thành phần chủ yếu là kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể, một phần nhỏ là kinh tế cá thể. Hiện trạng này giống như Trung Quốc trước cải cách mở cửa. Sau năm 1975, đất nước thống nhất, chính sách quốc hữu hóa tài sản của khu vực kinh tế tư nhân lại được áp dụng ở miền Nam. Gần như toàn bộ tài sản của 22.456 DNTN với giá trị khoảng 800 triệu USD đã trở thành sở hữu nhà nước.

Các DNTN bị liệt vào thành phần phi xã hội chủ nghĩa và không được phép tồn tại. Cũng như ở Trung Quốc, doanh nghiệp ở miền Bắc Việt Nam bị phân biệt đối xử, thậm chí còn bị coi là thành phần phản cách mạng. Nền kinh tế Việt Nam đến giữa những năm 1980 ngày càng trì trệ, lạc hậu. Một đất nước nông nghiệp với điều kiện tự nhiên tương đối thuận lợi và người dân cần cù, sáng tạo nhưng liên tục thiếu đói, phải trông chờ vào viện trợ lương thực từ các nước xã hội chủ nghĩa ở châu Âu.

Năm 1986 là năm đánh dấu một thời kỳ mới - thời kỳ đổi mới - bằng việc Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VI lần đầu tiên khẳng định cần xây dựng một nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần cho dù nền kinh tế hàng hóa đó vẫn phải theo chế độ sở hữu chung về tư liệu sản xuất. Thời kỳ này đánh dấu bước ngoặt cho các DNTN có cơ hội phát triển trở lại. Sự phát triển của DNTN ở Việt Nam từ 1986 đến 1990 Bước đầu nền kinh tế Việt Nam nổi lên với nền kinh tế hộ cá thể (năm 1990 số hộ kinh doanh cá thể lên đến khoảng 840 hộ), những điều kiện phát triển kinh tế tư nhân thoát khỏi phạm vi kinh tế hộ cá thể gần như chưa có. Các hộ sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp này vẫn phải hoạt động "ngầm" và chủ hộ vẫn bị kỳ thị, vẫn bị coi là con buôn.

Đây thực sự mới chỉ là giai đoạn chuẩn bị cho sự ra đời của DNTN. Sự phát triển của DNTN ở Việt Nam từ 1991 đến 1999 Kinh tế hộ đứng trước đòi hỏi bức thiết về mở rộng quy mô, ngành nghề sản xuất kinh doanh, muốn thoát khỏi cảnh hoạt động ngầm cũng như được pháp 7 luật và xã hội chính thức thừa nhận. Điều này phù hợp với đòi hỏi khách quan. Do đó, Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam toàn quốc lần VII (1991) đã chính thức thừa nhận nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường nhưng có định hướng xã hội chủ nghĩa.

Tiếp theo đó, tháng 12/1990, Luật DNTN được Đảng và Nhà nước chính thức thông qua và có hiệu lực thi hành từ ngày 15/4/1991. Đây là bước ngoặt hết sức quan trọng cho DNTN Việt Nam bởi Luật DNTN 1990 chính thức được đặt nền tảng pháp lý cho DNTN Việt Nam. DNTN và sở hữu tư nhân được chính thức pháp luật thừa nhận và bảo hộ. Luật DNTN 1990 có tác dụng như một luồng gió mới, phá vỡ những rào cản vô hình (từ trong nhận thức) và hữu hình (qua những quy định, quy phạm) trước đây đã từng trói buộc kinh tế tư nhân.

Giai đoạn 10 năm 1990- 1999 có thể coi là giai đoạn khai sinh ra DNTN. Sự phát triển của DNTN ở Việt Nam từ 2000 đến nay Sau nhiều lần soạn thảo, tháng 5/1999, Luật doanh nghiệp ra đời và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2000. Sự ra đời của Luật doanh nghiệp 1999 là bước đột phá cả về tư duy lẫn kỹ năng quản lý đối với khối kinh tế tư nhân. Do yêu cầu của kinh tế thị trường, hội nhập kinh tế quốc tế nên các DNTN của nước ta đã gia tăng nhanh chóng.548 DNTN được thành lập, năm 2001 tăng lên 22.777 DNTN; năm 2002 tăng tiếp lên 24.980 và tới năm 2008 đã tăng lên 46.

Cho đến nay, với cơ chế mở cửa, chính sách hội nhập quốc tế và sự phát triển đa dạng các loại hình doanh nghiệp cho thương nhân lựa chọn, loại hình DNTN dù không tiếp tục phát triển rầm rộ như những năm trước, nhưng xu hướng mua bán DNTN vẫn tồn tại phát triển. Do đó, cùng với quá trình này, việc bổ sung, sửa đổi và ban hành các quy định mới về DNTN cũng được dần hoàn chỉnh. Khái niệm chung về doanh nghiệp Hiện nay trên phương diện lý thuyết có khá nhiều định nghĩa thế nào là một doanh nghiệp, mỗi định nghĩa đều mang trong nó một nội dung nhất định với một 8 giá trị nhất định. Điều ấy cũng là đương nhiên, vì rằng mỗi tác giả đứng trên nhiều quan điểm khác nhau khi tiếp cận doanh nghiệp để phát biểu.

Chẳng hạn: Theo quan điểm về chức năng của doanh nghiệp thì doanh nghiệp được định nghĩa như sau: Doanh nghiệp là một đơn vị tổ chức sản xuất mà tại đó người ta kết hợp các yếu tố sản xuất (có sự quan tâm giá cả của các yếu tố) khác nhau do các nhân viên của công ty thực hiện nhằm bán ra trên thị trường những sản phẩm hàng hóa hay dịch vụ để nhận được khoản tiền chênh lệch giữa giá bán sản phẩm với giá thành của sản phẩm ấy. Theo quan điểm phát triển doanh nghiệp là một cộng đồng người sản xuất ra những của cải. Nó sinh ra, phát triển, có những thất bại, có những thành công, có lúc vượt qua những thời kỳ nguy kịch và ngược lại có lúc phải ngừng sản xuất, đôi khi tiêu vong do gặp phải những khó khăn không vượt qua được [12]. Theo quan điểm về tính hệ thống doanh nghiệp được xem rằng bao gồm một tập hợp các bộ phận được tổ chức, có tác động qua lại và theo đuổi cùng một mục tiêu.

Các bộ phận tập hợp trong doanh nghiệp bao gồm 4 phân hệ sau: sản xuất, thương mại, tổ chức, nhân sự. Theo quan điểm pháp lý doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tư cách pháp nhân, có con dấu, có tài sản, có quyền và nghĩa vụ dân sự hoạt động kinh tế theo chế độ hạch toán độc lập, tự chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động kinh tế trong phạm vi vốn đầu tư do doanh nghiệp quản lý và chịu sự quản lý của nhà nước bằng các loại luật và chính sách thực thi. Ngoài ra có thể liệt kê hàng loạt những định nghĩa khác nữa khi xem xét doanh nghiệp dưới những góc nhìn khác nhau. Song giữa các định nghĩa về doanh nghiệp đều có những điểm chung nhất, nếu tổng hợp chúng lại với một tầm nhìn bao quát trên phương diện tổ chức quản lý là xuyên suốt từ khâu hình thành tổ chức, phát triển đến các mối quan hệ với môi trường, các chức năng và nội dung hoạt động của doanh nghiệp cho thấy đã là một doanh nghiệp nhất thiết phải được cấu thành bởi những yếu tố sau đây: 9 * Yếu tố tổ chức: một tập hợp các bộ phận chuyên môn hóa nhằm thực hiện các chức năng quản lý như các bộ phận sản xuất, bộ phận thương mại, bộ phận hành chính.

* Yếu tố sản xuất: các nguồn lực lao động, vốn, vật tư, thông tin. * Yếu tố trao đổi: những dịch vụ thương mại - mua các yếu tố đầu vào, bán sản phẩm sao cho có lợi ở đầu ra. * Yếu tố phân phối: thanh toán cho các yếu tố sản xuất, làm nghĩa vụ nhà nước, trích lập quỹ và tính cho hoạt động tương lai của doanh nghiệp bằng khoản lợi nhuận thu được. Tuy nhiên, nhiều đạo luật của Việt Nam lại thường sử dụng thuật ngữ doanh nghiệp theo nghĩa là những thực thể kinh doanh nói chung.

Điển hình Luật doanh nghiệp 2005 định nghĩa: "Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh" [17, Khoản 1 Điều 4]. Sự tiến bộ về định nghĩa doanh nghiệp được thể hiện trong Luật doanh nghiệp 2014 định nghĩa: Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh [19, Khoản 7 Điều 4].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ