Luận văn: Thực trạng thi hành Luật An toàn thực phẩm 2010 và hướng hoàn thiện

Luận văn thạc sĩ luật học phân tích thực trạng thi hành Luật An toàn thực phẩm 2010, chỉ ra các bất cập pháp lý và đề xuất giải pháp hoàn thiện hiệu quả.

Chuyên ngành

Luật học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ
81
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan thi hành Luật An toàn thực phẩm 2010 tại Việt Nam

Luật An toàn thực phẩm năm 2010 là cơ sở pháp lý nền tảng cho công tác bảo vệ sức khỏe cộng đồng. Văn bản này thiết lập khung quản lý xuyên suốt từ khâu sản xuất ban đầu đến tay người tiêu dùng. Hệ thống cơ quan liên ngành bao gồm Bộ Y tế, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cùng Bộ Công Thương. Mỗi cơ quan chịu trách nhiệm đối với từng nhóm sản phẩm chuyên biệt. Sự ra đời của luật đánh dấu bước chuyển biến lớn trong tư duy quản trị nhà nước. Cơ chế kiểm soát chuyển dần từ tiền kiểm sang hậu kiểm minh bạch. Các văn bản hướng dẫn như Nghị định 15/2018/NĐ-CP tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp tự công bố sản phẩm. Luật số 28/2018/QH14 tiếp tục sửa đổi các quy định nhằm đồng bộ hệ thống pháp luật quy hoạch quốc gia. Việc thực thi luật góp phần chuẩn hóa quy trình chế biến nông sản và thủy sản xuất khẩu. Nhận thức của các cơ sở sản xuất kinh doanh có sự chuyển biến tích cực. Người dân ngày càng quan tâm hơn đến nguồn gốc xuất xứ thực phẩm.

1.1. Cơ sở lý luận về thi hành Luật An toàn thực phẩm 2010

Thi hành pháp luật an toàn thực phẩm là hoạt động có mục đích của các chủ thể pháp lý. Hoạt động này nhằm đưa các quy phạm pháp luật vào đời sống xã hội thực tế. Bốn hình thức thi hành gồm tuân thủ, chấp hành, sử dụng và áp dụng pháp luật. Nhà nước ban hành quy chuẩn kỹ thuật bắt buộc để bảo vệ tính mạng con người. Doanh nghiệp có nghĩa vụ tuân thủ nghiêm ngặt quy trình vệ sinh trong sản xuất. Người tiêu dùng thực hiện quyền tiếp cận thông tin trung thực về sản phẩm. Hiệu quả thi hành phụ thuộc vào tính minh bạch của các chế tài xử phạt hành chính.

1.2. Khung pháp lý điều chỉnh hoạt động an toàn thực phẩm

Khung pháp luật an toàn thực phẩm tại Việt Nam được xây dựng tương đối đồng bộ. Luật An toàn thực phẩm 2010 giữ vai trò trung tâm điều chỉnh mọi hành vi liên quan. Nghị định số 15/2018/NĐ-CP hướng dẫn chi tiết quy trình đăng ký bản công bố sản phẩm. Nghị định số 178/2013/NĐ-CP quy định cụ thể mức xử phạt vi phạm hành chính. Bộ tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật quốc gia xác định ngưỡng an toàn của từng chỉ tiêu vi sinh. Hệ thống văn bản liên tịch giữa các bộ ngành bảo đảm cơ chế phối hợp kiểm tra liên ngành. Các hiệp định thương mại quốc tế cũng đặt ra yêu cầu hài hòa hóa tiêu chuẩn pháp lý.

II. Thực trạng và bất cập thi hành Luật An toàn thực phẩm 2010

Quá trình thực thi Luật An toàn thực phẩm 2010 ghi nhận nhiều kết quả đáng kể trong việc kiểm soát dịch bệnh. Số vụ ngộ độc thực phẩm giai đoạn 2011 - 2016 giảm 11,6% so với giai đoạn trước. Số ca tử vong giảm mạnh đến 47,5% nhờ sự vào cuộc quyết liệt của các lực lượng chức năng. Tuy nhiên, tình trạng vi phạm quy chuẩn an toàn vẫn diễn biến phức tạp trên phạm vi toàn quốc. Hoạt động kinh doanh nông sản tươi sống nhỏ lẻ tại các chợ truyền thống chưa được kiểm soát chặt chẽ. Việc lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật và hóa chất bảo quản công nghiệp vẫn còn xảy ra. Cơ chế phối hợp phân công trách nhiệm giữa ba bộ chuyên ngành còn nhiều điểm chồng chéo. Một số cơ sở sản xuất lợi dụng cơ chế tự công bố để đưa hàng kém chất lượng ra thị trường. Năng lực kiểm nghiệm tại nhiều địa phương chưa đáp ứng kịp thời yêu cầu giám định nhanh. Hoạt động quảng cáo thực phẩm bảo vệ sức khỏe sai lệch bản chất vẫn tồn tại phổ biến trên không gian mạng.

2.1. Bất cập trong phân công trách nhiệm quản lý liên ngành

Mô hình quản lý đa ngành hiện nay tạo ra nhiều khoảng trống pháp lý khó khắc phục. Ba bộ cùng tham gia quản lý một chuỗi cung ứng dẫn đến hiện tượng đùn đẩy trách nhiệm. Bộ Y tế quản lý sản phẩm cuối cùng nhưng Bộ Nông nghiệp quản lý vùng trồng nguyên liệu. Bộ Công Thương phụ trách khâu lưu thông phân phối trên thị trường nội địa. Nhiều sản phẩm hỗn hợp chế biến chưa được quy định rõ thuộc thẩm quyền của bộ nào. Cơ chế chia sẻ thông tin dữ liệu kiểm nghiệm giữa các đơn vị còn chậm trễ. Thiếu cơ quan đầu mối duy nhất khiến hoạt động thanh tra chuyên ngành bị phân tán nguồn lực.

2.2. Hạn chế trong kiểm soát quảng cáo và truy xuất nguồn gốc

Quy định về truy xuất nguồn gốc thực phẩm chưa có tính khả thi cao đối với hộ sản xuất nhỏ lẻ. Đa số tiểu thương không lưu giữ hóa đơn chứng từ mua bán nông sản hằng ngày. Việc kiểm soát thực phẩm nhập lậu qua biên giới gặp nhiều trở ngại do thiếu nhân lực kiểm dịch. Hoạt động quảng cáo thực phẩm chức năng sai sự thật diễn ra tinh vi trên mạng xã hội. Nhiều doanh nghiệp sử dụng hình ảnh bác sĩ hoặc thư cảm ơn để lừa dối người tiêu dùng. Mức phạt tiền theo quy định hiện hành chưa đủ sức răn đe các hành vi vi phạm có lợi nhuận cao.

III. Giải pháp nâng cao hiệu lực thi hành Luật An toàn thực phẩm

Hoàn thiện hệ thống pháp luật an toàn thực phẩm đòi hỏi các giải pháp đồng bộ và căn cơ. Nhiệm vụ trọng tâm là sửa đổi, bổ sung Luật An toàn thực phẩm năm 2010 phù hợp với thực tiễn. Cần thiết lập mô hình cơ quan quản lý an toàn thực phẩm thống nhất từ trung ương đến địa phương. Việc tập trung đầu mối quản lý giúp xóa bỏ tình trạng phân tán và chồng chéo chức năng. Cơ quan lập pháp cần tăng mạnh mức phạt tiền và bổ sung chế tài hình sự nghiêm khắc. Các hành vi sản xuất thực phẩm giả mạo nguồn gốc cần bị xử lý nghiêm minh. Nhà nước cần đẩy mạnh đầu tư cơ sở hạ tầng kỹ thuật cho các trung tâm kiểm nghiệm trọng điểm. Ứng dụng công nghệ mã số mã vạch và chuỗi khối vào quy trình truy xuất nguồn gốc nông sản. Đẩy mạnh công tác truyền thông pháp luật nhằm nâng cao đạo đức kinh doanh của hộ sản xuất. Tăng cường quyền giám sát cộng đồng đối với các bếp ăn tập thể và cơ sở chế biến.

3.1. Thống nhất mô hình cơ quan quản lý nhà nước tập trung

Việt Nam cần nghiên cứu thành lập cơ quan quản lý an toàn thực phẩm chuyên trách duy nhất. Cơ quan này sẽ chịu trách nhiệm toàn diện từ khâu nuôi trồng đến tiêu thụ sản phẩm. Mô hình này giúp tinh gọn bộ máy hành chính và tối ưu hóa ngân sách hoạt động. Quy trình cấp phép, thanh tra và kiểm nghiệm sẽ được thực hiện theo tiêu chuẩn thống nhất. Cơ sở dữ liệu quốc gia về an toàn thực phẩm cần được xây dựng đồng bộ. Việc liên thông thông tin giữa các tỉnh thành giúp ngăn chặn kịp thời các lô hàng nhiễm độc. Hiệu lực thanh tra chuyên ngành sẽ được tăng cường rõ rệt.

3.2. Ứng dụng công nghệ số trong giám sát chuỗi cung ứng

Chuyển đổi số là chìa khóa nâng cao tính minh bạch của thị trường thực phẩm. Doanh nghiệp bắt buộc phải dán tem truy xuất nguồn gốc điện tử trên từng đơn vị sản phẩm. Người tiêu dùng có thể quét mã QR để kiểm tra nguồn gốc trang trại và ngày thu hoạch. Cơ quan quản lý dễ dàng phát hiện vị trí phát sinh sự cố mất an toàn để thu hồi sản phẩm. Hệ thống camera giám sát trực tuyến cần được lắp đặt tại các cơ sở giết mổ công nghiệp. Dữ liệu giám sát tự động giúp giảm tải áp lực kiểm tra trực tiếp của thanh tra viên.

IV. Kết luận và định hướng sửa đổi Luật An toàn thực phẩm 2010

Luật An toàn thực phẩm 2010 đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử trong việc định hình trật tự quản lý vệ sinh thực phẩm. Sau hơn một thập kỷ thi hành, đạo luật này cần được sửa đổi toàn diện để đáp ứng yêu cầu mới. Xu thế hội nhập kinh tế quốc tế đòi hỏi sự tương thích hoàn toàn với các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới. Nâng cao hiệu quả thực thi luật là giải pháp sống còn để bảo vệ nòi giống dân tộc. Sự kết hợp chặt chẽ giữa hoàn thiện thể chế pháp lý và siết chặt kỷ cương áp dụng pháp luật là bắt buộc. Doanh nghiệp cần xác định an toàn thực phẩm là tiêu chí cốt lõi để duy trì năng lực cạnh tranh. Người tiêu dùng cần được trang bị kiến thức pháp lý để tự bảo vệ quyền lợi chính đáng. Các nghiên cứu học thuật về luật học tiếp tục cung cấp luận cứ khoa học vững chắc cho cơ quan soạn thảo. Hệ thống pháp luật an toàn thực phẩm hoàn thiện sẽ thúc đẩy nền kinh tế phát triển bền vững.

4.1. Đóng góp học thuật của luận văn thạc sĩ luật học

Luận văn thạc sĩ luật học làm sáng tỏ cơ sở lý luận về thi hành pháp luật an toàn thực phẩm. Đề tài hệ thống hóa toàn diện các văn bản quy phạm pháp luật đang có hiệu lực. Nghiên cứu chỉ ra những mâu thuẫn giữa quy định hiện hành và thực tiễn thương mại điện tử. Các số liệu thống kê về ngộ độc thực phẩm cung cấp bằng chứng thực nghiệm giá trị. Tác giả đề xuất hệ thống giải pháp lập pháp và hành pháp có tính khả thi cao. Đây là tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhà nghiên cứu, giảng viên và sinh viên ngành luật.

4.2. Giá trị ứng dụng thực tiễn trong công tác lập pháp

Kết quả nghiên cứu của luận văn đóng góp trực tiếp vào quá trình tổng kết thi hành luật. Các kiến nghị về phân định thẩm quyền quản lý là căn cứ thực tiễn cho cơ quan soạn thảo luật mới. Đề xuất quy định chặt chẽ về điều kiện quảng cáo thực phẩm bảo vệ sức khỏe giúp bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Việc chuẩn hóa quy trình thanh tra chuyên ngành giúp giảm thiểu phiền hà cho doanh nghiệp chân chính. Những giải pháp pháp lý này góp phần xây dựng môi trường kinh doanh thực phẩm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

15/06/2026
Lv ths luật học thực trạng thi hành luật an toàn thực phẩm 2010 những bất cập và hướng hoàn thiện

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ AN TOÀN THỰC PHẨM 1. Thực phẩm và an toàn thực phẩm Từ khi con người bắt đầu xuất hiện trên trái đất đã cần đến thực phẩm để duy trì sự sống. Thực phẩm là một trong những yếu tố không thể thiếu đối với mỗi con người mỗi ngày. Theo quy định tại khoản 20 Điều 2 Luật an toàn thực phẩm năm 2010 thì thực phẩm là sản phẩm mà con người ăn, uống ở dạng tươi sống hoặc đã qua sơ chế, chế biến, bảo quản.

Thực phẩm không bao gồm mỹ phẩm, thuốc lá và các chất sử dụng như dược phẩm. An toàn thực phẩm hay vệ sinh an toàn thực phẩm an toàn thực phẩm hiểu theo nghĩa hẹp là một môn khoa học dùng để mô tả việc xử lý, chế biến bảo quản và lưu trữ thực phẩm bằng những phương pháp phòng ngừa, chống bệnh tật do thực phẩm gây ra. An toàn thực phẩm cũng bao gồm một số thói quen, thao tác trong khâu chế biến cần được thực hiện để tránh các nguy cơ gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe. An toàn thực phẩm luôn là vấn đề được quan tâm ngày càng sâu sắc trên toàn cầu bởi vai trò quan trọng bậc nhất đó chính là sức khỏe, tính mạng con người, sự tồn tại và phát triền giống nòi.

Trước đây, theo Pháp lệnh vệ sinh an toàn thực phẩm an toàn thực phẩm số 12/2003/PL-QBTVQH11 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, vệ sinh an toàn thực phẩm, an toàn thực phẩm được hiểu là việc phải thực hiện các điều kiện và biện pháp cần thiết để bảo đảm cho thực phẩm không gây hại đến sức khỏe và tính mạng con người. Tuy nhiên đề phù hợp với tiến trình hội nhập quốc tế sau khi Việt Nam chính thức gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) vào ngày 1/1/2007, khái niệm này đã được đơn giản hóa, ngắn gọn và phù hợp hơn được thể hiện trong Luật an toàn thực phẩm có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2011, theo đó an toàn thực phẩm là việc bảo đảm để thực phẩm không gây hại đến sức khỏe, tính mạng con người. Có thể hiểu một cách đơn giản an toàn thực phẩm là toàn bộ những vấn đề cần xử lý liên quan đến việc đảm bảo vệ sinh, an toàn đối với thực phẩm nhằm bảo vệ cho 8 sức khỏe của người tiêu dùng. Thực phẩm là nhu cầu thiết yếu hằng ngày của con người, cung cấp cho con người nguồn dinh dưỡng, năng lượng để duy trì sự sống và phát triển.

Tuy nhiên khi bị nhiễm khuẩn, nhiễm độc. an toàn thực phẩm chưa tốt thì thực phẩm lại là nguồn bệnh nguy hiểm gây ảnh hưởng trực tiếp và nghiêm trọng đến sự phát triển của con người và xã hội. Như vậy vệ sinh an toàn thực phẩm, an toàn thực phẩm là tất cả điều kiện, biện pháp cần thiết từ khâu sản xuất, chế biến, bảo quản, phân phối, vận chuyển cũng như sử dụng nhằm bảo đảm cho thực phẩm sạch sẽ, an toàn, không gây hại cho sức khỏe, tính mạng người tiêu dùng. Sự cần thiết điều chỉnh bằng pháp luật đối với lĩnh vực an toàn thực phẩm Nhà nước Việt Nam là nhà nước xã hội chủ nghĩa, pháp luật xã hội chủ nghĩa là công cụ chuyên chính giai cấp, là phương tiện để bảo vệ lợi ích cho giai cấp công nhân và nhân dân lao động, thực hiện những mục đích mà nhà nước và nhân dân đề ra; mặt khác pháp luật là công cụ để điều chỉnh các quan hệ xã hội mang tính quy phạm và tính bắt buộc chung để tổ chức quản lý các mặt khác nhau của đời sống xã hội vì sự tồn tại và phát triển của mỗi con người và của cả xã hội pháp luật còn là công cụ để bảo vệ công lý và công bằng xã hội.

Pháp luật là công cụ để nhà nước quản lý hiệu quả các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, là phương tiện để thể chế hóa đường lối, chủ trương, chính sách của nhà nước làm cho đường lối đó có hiệu lực thi hành và bắt buộc chung trên quy mô toàn xã hội; là công cụ để cho nhà nước kiểm tra, kiểm soát hoạt động của các tổ chức, các cơ quan, các nhân viên nhà nước và mọi công dân; là công cụ để bảo vệ lợi ích của nhà nước, của xã hội, tính mạng, tài sản, danh dự, nhân phẩm của các cá nhân, tài sản, danh dự, uy tín của các tổ chức. Pháp luật tạo ra cơ sở pháp lý, khung pháp lý cho tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước. Pháp luật cũng là phương tiện để nhà nước kiểm tra tính đúng đắn trong đường lối lãnh đạo chỉ đạo của mình đối với xã hội. Mặt khác, bắt nguồn từ nguồn gốc và vai trò của thực phẩm đối với con người như vậy nên công tác quản lý chất lượng an toàn thực phẩm có vị trí rất quan trọng, đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay, khi đời sống kinh tế có phần được nâng cao, cải 9 thiện hơn.

Vấn đề an toàn thực phẩm là một vấn đề rất nóng, bao gồm là tất cả điều kiện, biện pháp cần thiết từ khâu sản xuất, chế biến, bảo quản, phân phối, vận chuyển cũng như sử dụng nhằm bảo đảm cho thực phẩm sạch sẽ, an toàn, không gây hại cho sức khỏe, tính mạng người tiêu dùng. Vì vậy, vệ sinh an toàn thực phẩm an toàn thực phẩm là công việc đòi hỏi sự tham gia của nhiều ngành, nhiều khâu có liên quan đến thực phẩm như nông nghiệp, thú y, cơ sở chế biến thực phẩm, y tế, người tiêu dùng. Tuy vậy, nhưng ở Việt Nam vấn đề an toàn thực phẩm vẫn đang diễn biến hết sức phức tạp. Thường xuyên trên các phương tiện thông tin đại chúng đưa tin về các vụ ngộ độc, có nơi số lượng lên tới vài trăm người.

Theo thống kê của Bộ Y tế trong những năm gần đây, hàng năm có khoảng 200-600 vụ ngộ độc thức ăn, khoảng 5.000 người mắc bệnh. Trong đó có vài chục người chết. Khoảng 20-30% là ngộ độc do hóa chất (chủ yếu là thuốc bảo vệ thực vật, khoảng 50% là do vi sinh vật, 14-20% do thức ăn có độc. Trong khi đó các vấn đề liên quan trực tiếp đến sức khỏe, chất lượng an toàn thực phẩm là mối quan tâm hàng đầu của người tiêu dùng.

Như vậy có thể thấy vấn đề an toàn thực phẩm hiện nay ở nước ta còn nhiều tồn tại. Các vụ ngộ độc thực phẩm vẫn thường xuyên xảy ra ở các thành phố cũng như ở nông thôn và co chiều hướng gia tăng sau sau cao hơn năm trước. Nguồn gốc nguyên nhân gây ra ngộ độc là do môi trường sản xuất nông nghiệp gồm đất, nước tưới tiêu không đảm bảo; kỹ thuật canh tác trong trồng trọt và chăn nuôi còn nhiều bất cập như lạm dụng phân bón, hóa chất bảo vệ thực vật, thuốc kháng sinh, công nghệ sau thu hoạch như hóa chất sử dụng trong bảo quản, kỹ thuật bảo quản cũng như thiết bị bảo quản, việc chế biến thực phẩm chưa tuân thủ các quy định. Đối với bất kì loại thực phẩm nào khi đưa ra thị trường cần được xác định rõ về xuất xứ, ghi rõ những hàm lượng, chất lượng và chỉ dẫn rõ ràng để tiện dụng cho người tiêu dùng.

Việc quảng cáo những thực phẩm cũng chưa được quản lý một cách chặt chẽ dẫn đến nguy cơ gặp nhiều vấn đề sức khỏe trong tương lai. Như vậy có thể thấy, an toàn thực phẩm trong cả nước nói chung đang tạo nhiều lo lắng cho người dân. Trong khi chúng ta đang cố gắng tạo ra những ưu thế về 10 nhiều mặt để có nhiều lợi thế nhất để trong quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng. Vấn đề then chốt là làm thế nào để tạo được được hành lang pháp lý, xây được hệ thống quy phạm pháp luật điều chỉnh về vấn đề an toàn thực phẩm tạo một sân chơi bình đẳng, công bằng và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể đồng thời tạo ra được những quy trình chuẩn mực về an toàn thực phẩm cũng như xử lý vi phạm về an toàn thực phẩm.

Có như vậy mới đáp ứng được vừa đòi hỏi quyền được sử dụng được hưởng an toàn thực phẩm của người dân, vừa đáp ứng được việc chuẩn hóa quy định pháp luật cho tiến trình hội nhập quốc tế. Khái niệm thi hành pháp luật và thi hành Luật an toàn thực phẩm năm 2010 Có lẽ chưa bao giờ vấn đề an toàn thực phẩm lại được quan tâm đặc biệt như trong thời gian gần đây. Trên các mặt báo, các phương tiện thông tin đại chúng liên tục đưa tin về các hiện tượng vi phạm pháp luật về an toàn thực phẩm. Hệ thống các văn bản pháp luật như: Luật An toàn thực phẩm được Quốc hội nước Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 17 tháng 6 năm 2010 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2011; Nghị định 38/2012/NĐ-CP ngày 25/4/2012 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật an toàn thực phẩm; Nghị định 91/2012/NĐ CP của Chính phủ ngày 08/11/2012 quy định xử phạt hành chính về an toàn thực phẩm, hay mới đây nhất là Nghị định số 15/2018/NĐ-CP.

đã tạo một hành lang pháp lý cho công tác đảm bảo an toàn thực phẩm. Tuy nhiên, việc đưa các văn bản này vào cuộc sống lại là một bài toán khó vì đây là việc mà các cấp, các ngành và mọi tổ chức cá nhân phải thực hiện tốt việc thi hành pháp luật. Thi hành pháp luật là một trong bốn hình thức của thực hiện pháp luật (Thực hiện pháp luật bao gồm: Tuân thủ pháp luật, thi hành pháp luật, sử dụng pháp luật và áp dụng pháp luật), theo đó thi hành pháp luật về an toàn thlụa phẩm là việc các chủ thể pháp luật về an toàn thực phẩm phải thực hiện nghĩa vụ pháp lý của mình bằng hành động tích cực và chủ động. 11 Các vấn đề liên quan trực tiếp đến sức khoẻ, chất lượng an toàn thực phẩm luôn là mối quan tâm hàng đầu của các nhà chức trách và người tiêu dùng.

Bên cạnh đó, tại các đô thị lớn với phần đông người tiêu dùng đang phải đối mặt với vô số khó khăn trước những thách thức của xã hội. Một trong những khó khăn đó là nguồn cung cấp thực phẩm. Các yếu tố: An toàn, cân bằng dinh dưỡng, hợp khẩu vị, thuận tiện nhằm thoả mãn nhu cầu và phong cách sống của người thụau dùng được đặt ra những thách thức cho các nhà quản lý và cả chính người tiêu dùng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ