Luận văn: Pháp luật về tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp tại Yên Bái

Luận văn thạc sĩ luật học về pháp luật tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp và thực tiễn thi hành tại tỉnh Yên Bái. Phân tích thực trạng và giải pháp hoàn thiện.

Chuyên ngành

Luật học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ
87
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan pháp luật về tai nạn lao động bệnh nghề nghiệp

Pháp luật về tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp giữ vị trí then chốt trong hệ thống an sinh xã hội. Hệ thống này bảo vệ tính mạng và sức khỏe cho lực lượng lao động trực tiếp. Luật An toàn, vệ sinh lao động năm 2015 cùng Bộ luật Lao động tạo hành lang pháp lý toàn diện. Các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia bắt buộc doanh nghiệp phải kiểm soát nguy cơ rủi ro tại nơi làm việc. Mục tiêu cốt lõi là ngăn chặn sự cố lao động nguy hiểm. Đồng thời, văn bản pháp luật xác lập cơ chế bồi thường kịp thời cho nạn nhân. Quá trình công nghiệp hóa làm gia tăng áp lực an toàn lao động tại các địa phương miền núi. Tỉnh Yên Bái có cơ cấu kinh tế chuyển dịch nhanh sang công nghiệp khai khoáng và chế biến. Việc trang bị kiến thức pháp lý cho người sử dụng lao động là yêu cầu cấp thiết. Mọi cơ sở sản xuất phải tuân thủ nghiêm ngặt quy định về bảo hộ lao động. Thực hiện tốt chính sách này giúp duy trì ổn định kinh tế và trật tự xã hội.

1.1. Khái niệm và đặc điểm của tai nạn lao động bệnh nghề nghiệp

Tai nạn lao động là tai nạn gây tổn thương cho bất kỳ bộ phận, chức năng nào của cơ thể. Sự cố này xảy ra trong quá trình lao động, gắn liền với việc thực hiện công việc. Bệnh nghề nghiệp là bệnh phát sinh do điều kiện lao động có hại tác động đến người lao động. Hai hiện tượng này mang tính chất rủi ro nghề nghiệp khách quan. Chúng trực tiếp làm suy giảm hoặc làm mất khả năng lao động. Thiệt hại thể chất thường kéo theo gánh nặng tài chính nặng nề cho gia đình người bị nạn. Pháp luật xác định rõ tiêu chí y khoa và pháp lý để phân loại từng trường hợp cụ thể.

1.2. Khung pháp lý điều chỉnh an toàn vệ sinh lao động tại Việt Nam

Hệ thống pháp luật Việt Nam về an toàn lao động được xây dựng đồng bộ và tiệm cận tiêu chuẩn quốc tế. Luật An toàn, vệ sinh lao động năm 2015 là văn bản trung tâm điều chỉnh lĩnh vực này. Luật Bảo hiểm xã hội và Bộ luật Lao động bổ trợ các quy định về chế độ trợ cấp. Nhà nước ban hành hàng loạt nghị định và thông tư hướng dẫn thi hành chi tiết. Các quy định phân định rõ quyền và nghĩa vụ của người sử dụng lao động. Người lao động được quyền từ chối làm việc khi thấy rõ nguy cơ đe dọa trực tiếp đến tính mạng. Cơ chế kiểm tra định kỳ được thiết lập trên toàn quốc.

II. Thực trạng thi hành pháp luật tai nạn lao động tại tỉnh Yên Bái

Tỉnh Yên Bái có nhiều đặc thù về địa hình đồi núi và phân bố dân cư. Địa bàn tập trung nhiều doanh nghiệp khai thác đá, khoáng sản, chế biến gỗ và xây dựng thủy điện. Đây là những ngành nghề tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn lao động rất cao. Công tác thi hành pháp luật về an toàn lao động tại địa phương đã đạt nhiều kết quả tích cực. Nhận thức của nhiều chủ doanh nghiệp đã có chuyển biến rõ rệt. Tuy nhiên, tình hình tai nạn lao động tại Yên Bái vẫn diễn biến phức tạp. Nhiều vụ tai nạn nghiêm trọng vẫn xảy ra trong các mỏ đá và xưởng chế biến sâu. Tỷ lệ người lao động mắc bệnh bụi phổi silic có chiều hướng gia tăng. Các cơ sở sản xuất nhỏ lẻ thường cắt giảm chi phí trang bị bảo hộ cá nhân. Nhiều người lao động là đồng bào dân tộc thiểu số chưa qua đào tạo an toàn bài bản. Việc báo cáo và khai báo tai nạn lao động của một số đơn vị còn thiếu trung thực.

2.1. Tồn tại trong thực hiện trách nhiệm của người sử dụng lao động

Nhiều doanh nghiệp tại địa phương chưa chấp hành nghiêm quy định pháp luật về an toàn lao động. Người sử dụng lao động thường lơ là việc kiểm định máy móc, thiết bị có yêu cầu nghiêm ngặt. Việc tổ chức huấn luyện an toàn vệ sinh lao động còn mang tính hình thức để đối phó. Khi xảy ra sự cố, doanh nghiệp thường chậm trễ trong việc sơ cứu và bảo vệ hiện trường. Một số đơn vị tìm cách che giấu thông tin hoặc thỏa thuận dân sự trái luật để tránh điều tra. Trách nhiệm bồi thường và chi trả chi phí y tế cho nạn nhân chưa được thực hiện đầy đủ.

2.2. Khó khăn trong quản lý nhà nước và thủ tục giám định y khoa

Lực lượng thanh tra lao động tại tỉnh Yên Bái còn mỏng so với số lượng doanh nghiệp hoạt động. Địa bàn quản lý rộng và giao thông chia cắt gây khó khăn cho hoạt động thanh tra đột xuất. Công tác đo kiểm môi trường lao động chưa được thực hiện thường xuyên và thiếu trang thiết bị hiện đại. Quy trình giám định mức độ suy giảm khả năng lao động còn phức tạp đối với lao động vùng sâu. Việc xác định tai nạn trên tuyến đường đi và về gặp nhiều vướng mắc về chứng cứ pháp lý. Sự phối hợp giữa ngành lao động và bảo hiểm xã hội đôi lúc chưa chặt chẽ.

III. Giải pháp nâng cao hiệu quả pháp luật tai nạn lao động tại Yên Bái

Để hoàn thiện thực tiễn thi hành pháp luật, tỉnh Yên Bái cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp trọng tâm. Cơ quan quản lý nhà nước cần tăng cường rà soát các cơ sở sản xuất có nguy cơ cao. Hoạt động thanh tra chuyên ngành cần được tiến hành thường xuyên và xử lý nghiêm vi phạm. Doanh nghiệp phải chủ động đầu tư cải tiến dây chuyền công nghệ và thiết bị che chắn an toàn. Việc trích lập quỹ dự phòng rủi ro tai nạn lao động là biện pháp bảo đảm tài chính cần thiết. Công tác tuyên truyền pháp luật cần được đổi mới bằng nhiều hình thức trực quan, dễ hiểu. Tài liệu hướng dẫn an toàn lao động nên được biên dịch sang tiếng dân tộc thiểu số. Các cấp chính quyền địa phương cần giám sát chặt chẽ hoạt động khai thác khoáng sản tự do. Doanh nghiệp cần xây dựng quy trình ứng phó khẩn cấp và sơ cấp cứu tại chỗ. Nâng cao văn hóa an toàn lao động là giải pháp căn cơ để giảm thiểu tai nạn bền vững.

3.1. Hoàn thiện quy định pháp lý và cơ chế bảo hiểm xã hội

Cơ quan lập pháp cần sửa đổi quy định về điều kiện hưởng chế độ tai nạn lao động cho rõ ràng. Cần cụ thể hóa tiêu chí xác định người được ủy quyền giao việc ngoài trụ sở. Quy định về xác minh tai nạn giao thông trên tuyến đường hợp lý cần được đơn giản hóa. Mức hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp cho người bị tai nạn lao động cần được nâng cao. Cơ chế chi trả từ Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp cần linh hoạt hơn. Thủ tục hồ sơ giám định y khoa cần được tích hợp liên thông qua hệ thống dữ liệu điện tử.

3.2. Tăng cường thanh tra và đào tạo an toàn lao động cơ sở

Sở Lao động Thương binh và Xã hội cần bổ sung biên chế thanh tra viên chuyên trách an toàn. Địa phương nên ứng dụng công nghệ thông tin vào việc quản lý dữ liệu an toàn lao động. Các khóa huấn luyện an toàn phải gắn liền với thực hành thao tác vận hành máy móc cụ thể. Doanh nghiệp bắt buộc phải khám sức khỏe định kỳ và tầm soát bệnh nghề nghiệp cho công nhân. Đội ngũ an toàn vệ sinh viên tại phân xưởng cần được bồi dưỡng kỹ năng giám sát hiện trường. Việc khen thưởng đơn vị thực hiện tốt cần được đẩy mạnh để tạo động lực lan tỏa.

IV. Ý nghĩa nghiên cứu pháp luật về tai nạn lao động tại tỉnh Yên Bái

Đề tài luận văn thạc sĩ luật học mang lại giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc cho tỉnh Yên Bái. Nghiên cứu hệ thống hóa các quan điểm khoa học pháp lý về bảo vệ người lao động trong thời kỳ mới. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở thực chứng để đánh giá mức độ tuân thủ pháp luật tại địa phương. Các kiến nghị giải pháp có tính khả thi cao, phục vụ trực tiếp cho công tác quản trị doanh nghiệp. Việc áp dụng đúng các chuẩn mực an toàn giúp doanh nghiệp giảm thiểu tổn thất tài chính và ổn định nhân sự. Người lao động được trang bị lá chắn pháp lý vững chắc để tự bảo vệ tính mạng khi làm việc. Báo cáo nghiên cứu là tài liệu tham khảo giá trị cho các nhà hoạch định chính sách an sinh xã hội. Thực thi nghiêm minh pháp luật an toàn lao động là điều kiện tiên quyết để phát triển kinh tế bền vững. Đây là mục tiêu quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Yên Bái.

4.1. Đóng góp về mặt học thuật và xây dựng chính sách địa phương

Luận văn làm sáng tỏ mối quan hệ giữa quy chuẩn kỹ thuật an toàn và quyền con người trong lao động. Công trình bổ sung tư liệu nghiên cứu chuyên sâu về thực tiễn thi hành luật tại địa bàn miền núi. Các cơ quan quản lý tại Yên Bái có thể sử dụng đề tài làm căn cứ ban hành quy chế an toàn đặc thù. Nghiên cứu đề xuất mô hình phối hợp liên ngành giữa y tế, công an và lao động. Tài liệu giúp nâng cao chất lượng giảng dạy pháp luật lao động tại các cơ sở đào tạo.

4.2. Hướng dẫn áp dụng thực tế cho doanh nghiệp và người lao động

Doanh nghiệp cần áp dụng quy trình đánh giá rủi ro an toàn định kỳ trước mỗi ca làm việc. Người sử dụng lao động phải niêm yết công khai bảng chỉ dẫn an toàn tại các khu vực nguy hiểm. Công nhân cần chủ động tìm hiểu quyền lợi bảo hiểm và quy trình khai báo khi gặp rủi ro nghề nghiệp. Việc tổ chức diễn tập ứng phó sự cố khẩn cấp phải trở thành hoạt động thường niên. Tuân thủ nghiêm ngặt quy định pháp luật giúp xây dựng môi trường lao động văn minh, nhân văn và an toàn.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

15/06/2026
Lv ths luạt học pháp luật về tai nạn lao động bệnh nghề nghiệp và thực tiễn thi hành tại tỉnh yên bái

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TAI NẠN LAO ĐỘNG, BỆNH NGHỀ NGHIỆP VÀ PHÁP LUẬT VỀ TAI NẠN LAO ĐỘNG, BỆNH NGHỀ NGHIỆP 1. Khái quát chung về tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp 1. Khái niệm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp 1. Khái niệm tai nạn lao động Để tồn tại con người phải lao động sản xuất ra của cải vật chất nuôi sống bản thân mình, trong quá trình lao động sản xuất con người tác động trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua công cụ lao động thô sơ hay hiện đại vào thế giới vật chất để sản xuất ra tư liệu tiêu dùng phục vụ cho cuộc sống.

Quá trình lao động sản xuất luôn tiềm ẩn những nguy cơ gây ra tai nạn cho con người, tức người lao động (NLĐ), vì vậy, tai nạn lao động (TNLĐ) xuất hiện gắn liền với quá trình lao động và có thể xảy ra ở mọi ngành nghề, mọi quốc gia. TNLĐ không chỉ ảnh hưởng đến cuộc sống, sức khỏe, thu nhập của NLĐ mà còn ảnh hưởng đến thân nhân của NLĐ, người sử dụng lao động (NSDLĐ), Nhà nước và xã hội. Trong các văn bản luật quốc tế hiện nay không nêu ra khái niệm TNLĐ. Điều 7 Công ước số 121 về trợ cấp TNLĐ năm 1964 (Công ước số 121) của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) quy định: mỗi nước thành viên phải đưa ra định nghĩa về "tai nạn lao động" trong đó nêu các điều kiện để tai nạn giao thông được coi là TNLĐ và chỉ rõ các điều khoản trong định nghĩa…2 Có nhiều khái niệm về TNLĐ do các tài liệu khoa học đưa ra: - Tai nạn lao động là tai nạn bất ngờ xảy ra do lao động hay trong quá trình lao động, có thể gây tử vong hoặc gây cho cơ thể một tổn thương hoặc một rối loạn chức năng vĩnh viễn hay tạm thời3.

2 Tổ chức Lao động quốc tế (1964), Công ước số 121 về trợ cấp tai nạn lao động, Hà Nội. 3 Trung tâm biên soạn Từ điển bách khoa Việt Nam (2000), Từ điển Bách khoa Việt Nam, Hà Nội, trích trong tài liệu: "Hoàng Bích Hồng (2011), Hoàn thiện chế độ bảo hiểm xã hội tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp ở Việt Nam, Luận án Tiến sĩ Kinh tế, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội, tr. 7 - Tai nạn lao động là tai nạn xảy ra gây tác hại đến cơ thể NLĐ do tác động của yếu tố nguy hiểm và có hại trong sản xuất4. - Tai nạn lao động là tai nạn gây tổn thương cho bất kỳ bộ phận, chức năng nào của cơ thể hoặc gây tử vong cho NLĐ, xảy ra trong quá trình lao động, gắn liền với việc thực hiện công việc, nhiệm vụ lao động5.

Mặc dù có nhiều khái niệm về TNLĐ nhưng các khái niệm về TNLĐ đều có điểm chung đó là tai nạn được xem là TNLĐ khi thỏa mãn ba điều kiện: thứ nhất, là tai nạn xảy ra bất ngờ; thứ hai, TNLĐ xảy ra gắn với quá trình làm việc của NLĐ, gắn với việc thực hiện nhiệm vụ lao động; thứ ba, tai nạn phải để lại hậu quả hoặc làm chết người hoặc làm tổn thương, hoặc hủy hoại chức năng hoạt động bình thường của một bộ phận nào đó của cơ thể6. Điểm quan trọng nhất để phân biệt TNLĐ với tai nạn rủi ro là ở chỗ tai nạn đó gắn liền với việc thực hiện công việc, nhiệm vụ của NLĐ (bị tai nạn) hay không. Chỉ được coi là TNLĐ khi tai nạn đó xảy ra trong quá trình NLĐ thực hiện các nghĩa vụ lao động được pháp luật quy định, nội quy, quy chế của đơn vị sử dụng lao động quy định hoặc theo sự thỏa thuận của hai bên trong thỏa ước lao động tập thể, hợp đồng lao động (HĐLĐ)… những trường hợp khác đều được coi là tai nạn rủi ro và áp dụng chế độ bảo hiểm ốm đau để giải quyết quyền lợi của NLĐ 7. Tuy có nhiều khái niệm về TNLĐ, nhưng theo Luận văn có thể đưa ra khái niệm về TNLĐ như sau: TNLĐ là tai nạn xảy ra bất ngờ trong quá trình lao động, gắn liền với việc thực hiện nhiệm vụ lao động, gây ra tổn thương cơ thể hoặc tử vong cho NLĐ.

Khái niệm bệnh nghề nghiệp Cũng giống như TNLĐ, bệnh nghề nghiệp (BNN) cũng xuất hiện gắn liền với quá trình lao động của con người. Trong quá trình lao động NLĐ có thể phải tiếp xúc với những yếu tố có hại của môi trường làm việc, dần dần gây ảnh hưởng 4 Trường Đại học Lao động - Xã hội (2010), Giáo trình Bảo hiểm xã hội, Hà Nội, tr. 371, trích trong tài liệu: "Lục Thị Thu Hòe (2015), Chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp từ thực tiễn thi hành tại Bắc Giang , Luận văn Thạc sĩ Luật học, khoa Luật, Trường Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, tr. 5 Quốc hội (2012), Bộ luật lao động, khoản 1 Điều 142, Hà Nội.

6 Hoàng Bích Hồng (2011), Hoàn thiện chế độ bảo hiểm xã hội tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp ở Việt Nam, Luận án Tiến sĩ Kinh tế, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội, tr. 7 Trường Đại học Luật Hà Nội (2013), Giáo trình Luật an sinh xã hội, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, tr. 8 đến sức khỏe của NLĐ, có nhiều khái niệm về BNN do các tài liệu khoa học đưa ra: - Bệnh nghề nghiệp là những bệnh lý mang đặc trưng của nghề nghiệp hoặc liên quan đến nghề nghiệp, nguyên nhân của BNN là do tác hại thường xuyên và lâu dài của điều kiện lao động không tốt8.

- Bệnh nghề nghiệp là một hiện trạng bệnh lý mang tính chất đặc trưng nghề nghiệp hoặc liên quan đến nghề nghiệp mà nguyên nhân gây bệnh do tác động thường xuyên và kéo dài của điều kiện lao động xấu9. - Bệnh nghề nghiệp là bệnh phát sinh do điều kiện lao động có hại của nghề nghiệp tác động đối với NLĐ10. Cũng tương tự như TNLĐ, dấu hiệu "gắn liền với công việc, nhiệm vụ lao động" chính là dấu hiệu quan trọng để phân biệt giữa BNN và bệnh thông thường. Điều kiện lao động có hại của nghề nghiệp có thể là hệ quả của các yếu tố vật lý như nhiệt độ, độ ẩm, tiếng ồn, rung động, các bức xạ có hại… do các yếu tố hóa học như các chất độc các chất phóng xạ… do các yếu tố sinh hóa như sinh vật, vi sinh vật, các loại vi khuẩn, siêu vi khuẩn, côn trùng… hoặc các yếu tố về tư thế lao động, độ tiện nghi về không gian nơi làm việc, mất vệ sinh, các yếu tố tâm lý không thuận lợi… điều kiện có hại của nghề nghiệp tác động dần dần, phá hủy các bộ phận, chức năng của NLĐ và sinh ra bệnh11.

Việc xác định BNN phụ thuộc vào khả năng xác định yếu tố độc hại của môi trường lao động và trình độ phát triển kinh tế - xã hội ở mỗi quốc gia. Tuy có nhiều khái niệm về BNN, nhưng theo luận văn có thể đưa ra khái niệm BNN như sau: BNN là bệnh mà NLĐ mắc phải do làm việc thường xuyên trong thời gian dài ở môi trường có yếu tố độc hại. Tai nạn lao động, BNN đều làm suy giảm sức khỏe gây ảnh hưởng đến khả năng lao động hoặc có thể gây ra tử vong cho NLĐ, tuy nhiên TNLĐ, BNN có điểm 8 https://vi.org/wiki/B%E1%BB%87nh_ngh%E1%BB%81_nghi%E1%BB%87p ngày truy cập 02/7/2017. 9 Trường Đại học Lao động - Xã hội (2010), Giáo trình Bảo hiểm xã hội, Hà Nội, tr.

374, trích trong tài liệu: "Lục Thị Thu Hòe (2015), Chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp từ thực tiễn thi hành tại Bắc Giang , Luận văn Thạc sĩ Luật học, khoa Luật, Trường Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, tr. 10 Quốc hội (2012), Bộ luật Lao động, khoản 1 Điều 143, Hà Nội. 11 Trường Đại học Luật Hà Nội (2013), Giáo trình Luật an sinh xã hội, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, tr.

9 khác nhau căn bản là TNLĐ xảy ra bất ngờ, phát sinh trong khoảng thời gian ngắn còn BNN xảy ra từ từ, phát sinh trong khoảng thời gian dài. Khái niệm và vai trò của pháp luật về tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp 1. Khái niệm pháp luật về tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp Nhà nước xây dựng, tổ chức thực hiện pháp luật để thực hiện chức năng quản lý xã hội. Pháp luật có đặc trưng là: do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận; có giá trị bắt buộc phải thực hiện đối với mọi cá nhân, tổ chức khi cá nhân, tổ chức đó ở vào những hoàn cảnh, tình huống mà pháp luật dự liệu; pháp luật được Nhà nước đảm bảo thực hiện bằng biện pháp cưỡng chế12.

NLĐ là chủ thể trực tiếp tham gia quá trình lao động sản xuất tạo ra của cải vật chất và các giá trị tinh thần trong xã hội, tuy nhiên, trong quá trình lao động sản xuất lại tiềm ẩn những nguy cơ gây ra TNLĐ, BNN cho NLĐ. Để bảo vệ NLĐ Nhà nước phải xây dựng, tổ chức thực hiện những quy định pháp luật trong lĩnh vực TNLĐ, BNN. Có thể đưa ra khái niệm pháp luật về TNLĐ, BNN như sau: Pháp luật về TNLĐ, BNN là những quy định mang tính bắt buộc của Nhà nước đối với các chủ thể liên quan trong công tác ATVSLĐ, các chế độ bảo hiểm xã hội (BHXH) NLĐ được hưởng khi TNLĐ, BNN xảy ra và các biện pháp tổ chức thực hiện. Nội dung pháp luật về TNLĐ, BNN bao gồm các quy định về các nguyên tắc cơ bản; trách nhiệm của các chủ thể trong lĩnh vực TNLĐ, BNN; tiêu chuẩn an toàn lao động (ATLĐ), vệ sinh lao động (VSLĐ) và các biện pháp phòng ngừa TNLĐ, BNN; trách nhiệm của NSDLĐ khi TNLĐ, BNN xảy ra; các chế độ từ quỹ BHXH NLĐ được hưởng khi bị TNLĐ, BNN.

Vai trò của pháp luật về tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp Vai trò của pháp luật về TNLĐ, BNN có thể được hiểu là tác dụng của pháp luật về TNLĐ, BNN đối với các chủ thể liên quan như Nhà nước, NSDLĐ, NLĐ và xã hội được thể hiện như sau: Đối với Nhà nước: pháp luật về TNLĐ, BNN do Nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện bằng sức mạnh cưỡng chế. Nội dung pháp luật về TNLĐ, BNN bao gồm những quy phạm thể chế hóa chính sách của Nhà nước về lĩnh vực TNLĐ, BNN, là khung pháp lý mà các chủ thể liên quan bắt buộc phải thực hiện. Vì vậy, 12 Nguyễn Văn Động (2014), Giáo trình lý luận chung về Nhà nước và pháp luật, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ