Luận văn: Pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường biển ngành hàng hải

Luận văn phân tích khung pháp luật về kiểm soát hoạt động gây ô nhiễm môi trường biển trong lĩnh vực hàng hải tại Việt Nam và đề xuất giải pháp hoàn thiện.

Chuyên ngành

Luật học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ
116
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường biển hàng hải

Ngành hàng hải giữ vị trí huyết mạch trong phát triển kinh tế và thương mại quốc tế của Việt Nam. Với bờ biển dài hơn 3.260 km, Việt Nam sở hữu tiềm năng giao thương hàng hải rất lớn. Vùng biển Việt Nam nằm trên các tuyến hàng hải nhộn nhịp kết nối Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương. Tuy nhiên, mật độ tàu thuyền tăng cao dẫn đến áp lực lớn cho môi trường biển. Các sự cố hàng hải đe dọa nghiêm trọng đến hệ sinh thái và nguồn lợi thủy sản. Ô nhiễm bắt nguồn từ dầu cặn, hóa chất nguy hiểm, rác thải sinh hoạt và nước dằn tàu. Nhiều vụ việc gây suy thoái tài nguyên sinh vật biển dài hạn. Thực tế đó đòi hỏi một hành lang pháp lý chuyên biệt và đồng bộ. Pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường biển đóng vai trò định hướng hành vi khai thác. Hệ thống quy phạm thiết lập các tiêu chuẩn an toàn kỹ thuật bắt buộc cho tàu biển. Đồng thời, văn bản pháp luật xác định thẩm quyền giám sát của cơ quan quản lý nhà nước. Việc nội luật hóa các công ước quốc tế như MARPOL là yêu cầu cấp thiết. Điều này giúp nâng cao năng lực quản trị rủi ro trên toàn bộ vùng biển chủ quyền.

1.1. Khái niệm và tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Kiểm soát ô nhiễm môi trường biển trong hàng hải là chuỗi hoạt động pháp lý và kỹ thuật chặt chẽ. Mục tiêu nhằm giảm thiểu tác động xấu từ hoạt động tàu thuyền và cảng biển. Đề tài luận văn mang tính thời sự cao trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Kinh tế biển phát triển nhanh tạo ra lượng chất thải khổng lồ mỗi ngày. Các quy định pháp luật hiện hành vẫn mang tính khái quát, thiếu chế tài cụ thể. Sự suy thoái chất lượng nước biển ảnh hưởng trực tiếp đến ngành du lịch và thủy hải sản. Do đó, nghiên cứu hệ thống pháp luật giúp nhận diện kịp thời các lỗ hổng chính sách. Đây là tiền đề khoa học để xây dựng cơ chế quản lý môi trường biển bền vững.

1.2. Khung pháp lý và điều ước quốc tế về môi trường biển

Việt Nam đã gia nhập nhiều công ước quốc tế then chốt về an toàn hàng hải. Nổi bật nhất là Công ước MARPOL 73/78 về ngăn ngừa ô nhiễm từ tàu. Ngoài ra, Công ước Luật Biển UNCLOS 1982 quy định rõ nghĩa vụ bảo vệ vùng biển. Ở cấp độ quốc gia, Bộ luật Hàng hải và Luật Bảo vệ môi trường tạo nền tảng điều chỉnh. Các nghị định chuyên ngành hướng dẫn chi tiết quy trình tiếp nhận và xử lý chất thải cảng biển. Tuy vậy, việc nội luật hóa cam kết quốc tế vẫn còn khoảng cách nhất định. Nhiều quy chuẩn kỹ thuật quốc gia chưa theo kịp tiêu chuẩn sửa đổi của Tổ chức Hàng hải Quốc tế (IMO). Yêu cầu đồng bộ văn bản là nhiệm vụ hàng đầu của các cơ quan quản trị.

II. Thực trạng kiểm soát ô nhiễm môi trường biển trong hàng hải

Thực trạng ô nhiễm biển từ vận tải biển tại Việt Nam diễn biến phức tạp. Lưu lượng phương tiện ra vào các cảng lớn gia tăng đột biến. Điển hình tại cụm cảng Hải Phòng, hàng chục nghìn lượt tàu thông qua mỗi năm. Khối lượng hàng hóa nguy hiểm chiếm tỷ trọng đáng kể trong tổng lưu lượng. Hàng lỏng bao gồm xăng dầu, hóa chất công nghiệp và khí hóa lỏng tiềm ẩn rủi ro cháy nổ. Quá trình bơm hút nhiên liệu và bốc dỡ hàng hóa dễ phát sinh sự cố tràn dầu. Nhiều vụ đâm va trên biển dẫn đến rò rỉ chất độc hại ra môi trường nước. Bên cạnh đó, công tác quản lý rác thải sinh hoạt tàu biển còn bộc lộ yếu kém. Cơ sở vật chất thu gom chất thải tại một số cảng chưa đáp ứng yêu cầu kỹ thuật. Hệ thống trang thiết bị ứng phó sự cố môi trường phân tán và thiếu đồng bộ. Công tác thanh tra, kiểm tra chuyên ngành hàng hải chưa được tiến hành thường xuyên. Mức xử phạt hành chính đối với các hành vi vi phạm xả thải vẫn chưa đủ sức răn đe. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại môi trường khó quy kết do thiếu bằng chứng pháp lý rõ ràng.

2.1. Nguy cơ từ sự cố hàng hải và vận chuyển hàng hóa độc hại

Vận chuyển hàng nguy hiểm dạng xô và bao gói chiếm hơn 15% tổng lượng hàng tải. Các hóa chất độc hại như dung môi, sơn bảo quản và khí hóa lỏng có độc tính cao. Khi rò rỉ ra môi trường biển, các chất này phá hủy hệ sinh thái trầm trọng và khó khắc phục. Sự cố hàng hải xuất phát từ nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan. Điều kiện thời tiết cực đoan như bão biển làm tăng nguy cơ chìm tàu hoặc đâm va. Lỗi thao tác kỹ thuật của thủy thủ đoàn trong quá trình nạp nhiên liệu cũng là nguyên nhân phổ biến. Sự cố tràn dầu tại cảng gây tê liệt hoạt động lưu thông và hủy hoại môi trường thủy sinh.

2.2. Hạn chế và bất cập trong thực thi quy định pháp luật

Hệ thống văn bản pháp luật hiện hành tồn tại nhiều điểm chồng chéo giữa các bộ ngành. Quy định về quản lý môi trường biển giữa ngành giao thông và tài nguyên chưa thống nhất. Thẩm quyền xử lý vi phạm tại vùng nước cảng biển còn thiếu sự phân định rõ ràng. Nhiều doanh nghiệp vận tải chưa lập kế hoạch ứng phó sự cố môi trường theo tiêu chuẩn. Việc đầu tư trang thiết bị tiếp nhận rác thải tại các bến phao còn mang tính hình thức. Công tác phối hợp liên ngành trong cứu hộ và khắc phục ô nhiễm biển diễn ra chậm. Chế tài bồi thường thiệt hại sinh thái chưa có cơ chế định giá cụ thể, gây khó khăn cho việc khởi kiện bồi thường.

III. Giải pháp hoàn thiện pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường biển

Hoàn thiện hệ thống pháp luật là giải pháp trọng tâm nhằm kiểm soát ô nhiễm biển hiệu quả. Nhà nước cần rà soát và sửa đổi các điều khoản trong Bộ luật Hàng hải hiện hành. Việc sửa đổi phải đồng bộ với Luật Bảo vệ môi trường và các hiệp định quốc tế. Các tiêu chuẩn kỹ thuật về an toàn tàu và trang thiết bị xả thải cần được chuẩn hóa. Cơ quan chức năng phải ban hành quy chế phòng ngừa tai nạn đâm va nghiêm ngặt. Quy trình bơm rót nhiên liệu tại các kho cảng cần có cơ chế giám sát điện tử tự động. Đồng thời, cơ chế phối hợp giữa Cảnh sát biển, Cảng vụ hàng hải và Bộ đội Biên phòng cần được củng cố. Phân định rõ trách nhiệm chỉ huy khi xảy ra sự cố tràn dầu quy mô lớn trên biển. Mức xử phạt hành chính đối với hành vi xả thải trộm cần tăng gấp nhiều lần. Ngoài ra, việc thiết lập quỹ bồi thường thiệt hại môi trường biển là giải pháp cấp thiết. Quỹ này hỗ trợ khắc phục nhanh sự cố và phục hồi hệ sinh thái biển bị suy thoái.

3.1. Hoàn thiện quy chuẩn phòng ngừa và ứng phó sự cố môi trường

Công tác phòng ngừa sự cố hàng hải giữ vai trò cốt lõi trong chính sách bảo vệ môi trường. Pháp luật cần chi tiết hóa bốn nội dung kiểm soát trọng tâm tại cảng và luồng hàng hải. Nội dung bao gồm bảo đảm an toàn dẫn luồng, phòng chống đâm va, phòng chống cháy nổ và cung ứng nhiên liệu. Mọi tàu thuyền phải lắp đặt thiết bị phân ly dầu nước đạt chuẩn quốc tế trước khi rời cảng. Các cảng biển bắt buộc trang bị phao quây dầu và hóa chất phân tán sinh học. Doanh nghiệp khai thác cảng phải tổ chức diễn tập định kỳ ứng phó sự cố hóa chất nguy hiểm. Đội ngũ thuyền viên cần được đào tạo chuyên sâu về kỹ năng ngăn chặn rò rỉ chất độc hại.

3.2. Tăng cường chế tài và cơ chế hợp tác quốc tế

Chế tài xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hàng hải cần tăng mức tiền phạt tối đa. Quy định pháp luật phải buộc chủ tàu gây ô nhiễm chi trả toàn bộ chi phí tẩy rửa và phục hồi tự nhiên. Đồng thời, cơ chế xử lý hình sự đối với hành vi cố ý xả chất thải nguy hại cần được áp dụng nghiêm. Song song với đó, hợp tác quốc tế trong quản trị biển là yếu tố quyết định. Việt Nam cần tích cực chia sẻ thông tin giám sát tàu biển với các quốc gia trong khu vực ASEAN. Việc tiếp nhận chuyển giao công nghệ làm sạch biển hiện đại giúp nâng cao hiệu quả cứu hộ. Sự phối hợp này đảm bảo an ninh môi trường trên các vùng biển giáp ranh quốc tế.

IV. Giá trị ứng dụng luận văn kiểm soát ô nhiễm môi trường biển

Luận văn cung cấp luận cứ khoa học toàn diện về pháp luật kiểm soát ô nhiễm biển trong ngành hàng hải. Kết quả nghiên cứu đóng góp thiết thực cho công tác hoàn thiện hệ thống thể chế tại Việt Nam. Đề tài làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn thi hành các quy định pháp luật hiện hành. Những đề xuất lập pháp trong luận văn là tài liệu tham khảo giá trị cho các cơ quan quản lý. Bộ Giao thông Vận tải và Bộ Tài nguyên và Môi trường có thể ứng dụng trong quá trình sửa đổi thông tư hướng dẫn. Nghiên cứu cũng hỗ trợ các doanh nghiệp cảng biển xây dựng quy trình kiểm soát rác thải chuẩn hóa. Đội tàu vận tải nội địa có thêm định hướng điều chỉnh kỹ thuật để đạt chuẩn bảo vệ môi trường. Bên cạnh giá trị thực tiễn, luận văn còn là tài liệu học thuật hữu ích cho sinh viên chuyên ngành luật. Đề tài mở ra hướng nghiên cứu sâu hơn về trách nhiệm pháp lý đối với ô nhiễm biển xuyên biên giới.

4.1. Đóng góp lý luận cho khoa học pháp lý môi trường

Luận văn hệ thống hóa cơ sở lý luận về kiểm soát ô nhiễm môi trường biển trong lĩnh vực hàng hải. Công trình làm rõ bản chất pháp lý của các quan hệ xã hội phát sinh từ hoạt động khai thác cảng và vận tải biển. Nghiên cứu phân tích sâu sắc các nguyên tắc phòng ngừa ô nhiễm và nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền. Những luận điểm này bổ sung và phát triển nguồn tài liệu giảng dạy trong các trường đại học luật. Đề tài cũng làm rõ mối quan hệ giữa luật quốc tế và pháp luật nội địa. Qua đó, công trình củng cố nền tảng lý luận cho việc xây dựng chính sách kinh tế biển xanh của quốc gia.

4.2. Ý nghĩa thực tiễn đối với quản trị cảng biển và vận tải

Về mặt thực tiễn, luận văn đưa ra khuyến nghị trực tiếp cho công tác quản trị cảng biển an toàn. Các mô hình kiểm soát chất thải được đề xuất giúp ban quản lý cảng tối ưu hóa chi phí vận hành. Doanh nghiệp vận tải biển có thể dựa vào nghiên cứu để chuẩn hóa quy trình an toàn cho đội tàu. Nghiên cứu cũng nâng cao nhận thức tuân thủ pháp luật môi trường của thuyền viên và chủ hàng. Việc áp dụng đồng bộ các giải pháp giúp hạn chế tối đa nguy cơ phạt hành chính và đình chỉ hoạt động. Kết quả này thúc đẩy ngành hàng hải Việt Nam phát triển bền vững và đáp ứng tiêu chuẩn xanh quốc tế.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

15/06/2026
Luan van pháp luật về kiểm soát hoạt động gây ô nhiễm môi trường biển trong hoạt động hàng hải ở việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT KIỂM SOÁT HOẠT ĐỘNG GÂY Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG BIỂN TRONG HOẠT ĐỘNG HÀNG HẢI 1. Ô nhiễm môi trường biển trong hoạt động hàng hải và hậu quả của ô nhiễm môi trường biển trong hoạt động hàng hải Những năm gần đây, song song với vấn đề phát triển kinh tế thì vấn đề ÔNMT biển và hậu quả ÔNMT do chịu ảnh hưởng trực tiếp từ hoạt động hàng hải có xu hướng gia tăng. Sự biến động của môi trường đã và đang có tác động mạnh đến hệ sinh thái biển. Để tìm hiểu hậu quả của ÔNMT biển trong hoạt động hàng hải, chúng ta cần tìm hiểu khái niệm ÔNMT biển trong hàng hải và một số khái niệm liên quan đến hoạt động hàng hải.

Khái niệm ô nhiễm môi trường biển trong hoạt động hàng hải Môi trường biển theo quy định tại Khoản 2 Điều 2 Nghị định số 25/2009/NĐ-CP ngày 6/3/2009 là "các yếu tố vật lý, hóa học và sinh học đặc trưng cho nước biển, đất ven biển, trầm tích biển, không khí trên mặt biển và các hệ sinh thái biển tồn tại một cách khách quan, ảnh hưởng đến con người và sinh vật" [15]. Như vậy môi trường biển hình thành, phát triển theo quy luật tự nhiên, không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của con người. Với các lợi ích khai thác từ biển, hoạt động hàng hải là một trong những hoạt động tác động đến môi trường biển nhiều nhất. Dựa trên nghiên cứu và thực tiễn, ta có thể tổng hợp các hoạt động hàng hải gồm: - Hoạt động đóng mới và sửa chữa tàu biển được triển khai tại các nhà máy đóng tàu sát bờ biển và những nhà máy nằm trên các lưu vực sông.

- Hoạt động tại cảng. Cảng là nơi trung chuyển các loại hàng hóa từ nước ngoài vào Việt Nam và từ Việt Nam ra nước ngoài (khoảng 80-90% tổng lượng hàng hóa thương mại). 8 - Hoạt động phá dỡ tàu cũ đang ngày càng gia tăng với nhiều chủng loại được phá dỡ. Phương pháp phá dỡ hầu hết là thủ công.

- Hoạt động của các tuyến hàng hải là sự lưu thông của các phương tiện vận tải hàng hải trên các tuyến hàng hải. Hiện nay, hoạt động hàng hải ở Việt Nam phát triển mạnh. Vận tải biển trong thời gian qua, do thực hiện tốt chính sách quyền vận tải nội địa, đã tạo cơ hội cho đội tàu trong nước phát triển, đặc biệt là tàu container, số lượng tàu container mang cờ quốc tịch Việt Nam đã tăng lên là 33 tàu (từ 19 tàu vào năm 2013). Đội tàu mang cờ quốc tịch Việt Nam cơ bản đã đảm nhận được gần 100% lượng hàng vận tải nội địa bằng đường biển, trừ một số tàu chuyên dụng như LPG, xi măng rời… Trong 6 tháng đầu năm 2017, sản lượng vận tải do đội tàu biển Việt Nam thực hiện ước đạt 88,5 triệu tấn, tăng 3% so với cùng kỳ năm 2016.

Tình hình kinh doanh của các doanh nghiệp vận tải biển Việt Nam tiếp tục gặp nhiều khó khăn do dư thừa nguồn cung tàu, lượng hàng tăng trưởng thấp, giá cước giảm. Nhiều doanh nghiệp vận tải biển, trong đó có các doanh nghiệp lớn, tiếp tục thua lỗ. Sản lượng hàng hóa thông qua cảng biển bằng phương tiện VR-SB trong 6 tháng đầu năm 2017 ước đạt 8,1 triệu tấn tăng 62% so với cùng kỳ năm trước với khoảng hơn 10 nghìn lượt tàu. Phạm vi hoạt động của đội tàu biển Việt Nam chủ yếu trên các tuyến vận tải ngắn Đông Nam Á và Đông Bắc Á.

Hiện chỉ đảm đương khoảng 10% thị phần vận tải hàng hoá xuất, nhập khẩu của Việt Nam. Nguyên nhân do kém liên kết giữa các chủ tàu với nhau và chủ tàu với chủ hàng. Về đội tàu biển, theo số liệu tại Sổ đăng ký tàu biển quốc gia, tính đến ngày 30/6/2017, Việt Nam có tổng số 1.617 tàu biển mang cờ quốc tịch Việt Nam đang hoạt động, với tổng dung tích gần 4,8 triệu GT, tổng trọng tải khoảng 7,8 triệu DWT. 9 Cảng biển trong 6 tháng đầu năm 2017, sản lượng hàng hóa thông qua hệ thống cảng biển Việt Nam ước đạt 254,5 triệu tấn, tăng 11% so với cùng kỳ, đạt 51% kế hoạch năm, trong đó hàng công-te-nơ đạt 6,87 triệu TEUs, tăng 5% so với cùng kỳ năm 2016, đạt 46% so với kế hoạch năm 2017.

Hiện nay, cả nước có 44 cảng biển (259 bến cảng) với 64.684 mét dài cầu cảng, tổng công suất thiết kế khoảng 500 triệu tấn hàng/năm. Hệ thống cảng biển Việt Nam đã đáp ứng được yêu cầu vận chuyển hàng hóa vận tải bằng đường biển, phục vụ tích cực cho quá trình phát triển kinh tế - xã hội vùng ven biển và cả nước, tạo động lực thu hút, thúc đẩy các ngành kinh tế, công nghiệp liên quan cùng phát triển. Hầu hết các cảng biển hiện do các doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp tư nhân sở hữu và quản lý khai thác. Chỉ có 04 bến cảng mới được đầu tư bằng nguồn vốn ngân sách trong giai đoạn gần đây nhà nước vẫn nắm giữ quyền sở hữu kết cấu hạ tầng và tổ chức cho thuê khai thác.

Cục Hàng hải Việt Nam (HHVN) là cơ quan được giao làm đại diện ký hợp đồng cho thuê khai thác các cầu 5, 6, 7 cảng Cái Lân (Quảng Ninh), bến cảng ODA Thị Vải, bến cảng ODA Cái Mép (Bà Rịa - Vũng Tàu) và bến cảng An Thới (Phú Quốc). Dịch vụ hàng hải và logistics theo xếp hạng của Ngân hàng Thế giới (WB), năm 2017 Việt Nam đứng thứ 64/160 nước về mức độ phát triển logistics và đứng thứ 4 trong ASEAN sau Singapore (5), Malaysia (32) và Thái Lan (45). Tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm của lĩnh vực logistics Việt Nam là 16-20%. Cả nước hiện nay có khoảng 1.300 doanh nghiệp tham gia cung cấp các loại hình dịch vụ hàng hải và logistics, 70% trong đó có trụ sở tại khu vực Thành phố Hồ Chí Minh.

Khoảng 30 công ty logistics quốc tế chiếm thị phần lớn về dịch vụ logistics. Các công ty logistics của Việt Nam với số lượng nhiều nhưng chỉ chiếm thị phần tương đối nhỏ, chủ yếu thực hiện một số khâu dịch vụ trong chuỗi dịch vụ logistics hoặc làm đại lý cho hãng tàu biển nước ngoài. Hiện có 68 doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ lai dắt 10 trên cả nước. Hoạt động của các công ty lai dắt tàu biển về cơ bản có thuận lợi.

Sau một số hiện tượng cạnh tranh không lành mạnh giữa các doanh nghiệp trong lĩnh vực này, hiện Bộ GTVT đã ban hành quyết định khung giá dịch vụ bốc dỡ container và quyết định giá dịch vụ lai dắt tại cảng biển, qua đó sẽ hạn chế được tình trạng phá giá, bảo đảm bình đẳng giữa các doanh nghiệp. Công nghiệp tàu thủy cả nước hiện có 69 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp đóng tàu biển và một số cơ sở đóng tàu tư nhân tại các địa phương như Hải Phòng, Nam Định, Thái Bình, Hải Dương. Trong 6 tháng đầu năm 2017, tình hình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp đóng và sửa chữa tàu biển tiếp tục gặp khó khăn, sản lượng đóng mới tàu giảm mạnh. Với tàu thương mại, việc đầu tư đóng mới các tàu vận tải biển rất hạn chế, chủ yếu tập trung vào đầu tư các loại tàu vận tải đường sông, sông - biển (SB) với giá thành hợp lý.

Theo báo cáo của Tổng công ty Công nghiệp tàu thủy giá trị sản xuất trong 6 tháng đầu năm 2017 ước chỉ đạt khoảng 38% so với kế hoạch cả năm 2017. Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong quá trình tái cơ cấu nhưng tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp vẫn còn rất khó khăn, chưa thể có lợi nhuận. Sự phát triển của ngành công nghiệp đóng tàu dẫn đến sự phát triển của các dịch vụ có liên quan, thu hút một nguồn lao động lớn đặc biệt là ở các vùng ven biển. Dịch vụ hàng hải như đại lý tàu biển, bốc xếp hàng hóa tại cảng, lai dắt tàu biển, đại lý tàu biển, giao nhận hàng hóa, khoa hàng và dịch vụ xử lý chất thải cũng đã không ngừng phát triển.

Hoạt động hàng hải ngày càng có vài trò và vị trí quan trọng trong đời sống kinh tế, xã hội của đất nước. Do vậy, nhiệm vụ đặt ra cho mọi lực lượng tham gia hoạt động hàng hải là phải đi đôi vơi công tác BVMT và phát triển bền vững. Dưới góc độ pháp lý, do Việt Nam là thành viên của Công ước Luật Biển năm 1982 nên ta có thể tiếp cận khái niệm ÔNMT biển của Công ước này. Theo Khoản 4 Điều 1 Công ước Luật Biển năm 1982 thì ÔNMT biển là: 11 Việc con người trực tiếp hoặc gián tiếp đưa các chất liệu hoặc năng lượng vào môi trường biển, bao gồm cả các cửa sông, khi việc đố gây ra hoặc có thể gây ra những tác hại như gây tổn hại đến nguồn lợi sinh vật, và đến hệ động vật, và hệ thực vật biển, gây nguy hiểm cho sức khỏe của con người, gây trở ngại cho các hoạt động ở biển, kể cả việc đánh bắt hải sản và các việc sử dụng biển một cách hợp pháp khác, làm biến đổi chất lượng nước biển về phương tiện sử dụng nó và làm giảm sút các giá trị mỹ cảm của biển [41].

Nhìn chung, ÔNMT biển trong hoạt động hàng hải là sự biến đổi môi trường biển theo chiều hướng xấu, gây bất lợi cho con người và các cá thể sống khác bởi các hoạt động hàng hải như hoạt động đóng mới và sửa chữa tàu biển hoạt động tại cảng, hoạt động phá dỡ tàu cũ, hoạt động của các tuyến hàng hải. Thực trạng môi trường biển Thực trạng môi trường biển hiện nay là vấn đề cấp thiết, và nhức nhối dư luận. Hoạt động đóng mới và sửa chữa tàu biển có thể gây ra nhiều tác động tới môi trường. Từ quy trình đóng mới tàu biển cho thấy ô nhiễm chủ yếu là kim loại nặng dưới dạng bột ô xít như oxít Pb3O4, Pb2O3, PbCrO3… Trong quy trình công nghệ đóng tàu, nhiên liệu xăng dầu được sử dụng khá nhiều, gây ra lượng dầu thải tương đối lớn trong các công đoạn thi công.

Tất cả các kim loại nặng: Zn, Cu, Hg, Cr đều có trong nước và trầm tích, đó là những kim lại có độc tính cao. Những chất thải nói trên gây ô nhiễm chủ yếu cho vùng nước mặt biển ven bờ, ô nhiễm dầu và ô nhiễm trầm tích (kim loại nặng) tại các khu vực có nhà máy đóng tàu và bến tàu.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ