Luận văn: Pháp luật về quyền, nghĩa vụ sử dụng đất của doanh nghiệp FDI

Luận văn thạc sĩ luật học phân tích thực trạng pháp luật về quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp FDI sử dụng đất tại Việt Nam cùng các đề xuất hoàn thiện.

Chuyên ngành

Luật học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ
83
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sử dụng đất

Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài giữ vai trò then chốt trong nền kinh tế Việt Nam. Khối doanh nghiệp này tạo việc làm, chuyển giao công nghệ và đóng góp ngân sách lớn. Hoạt động sản xuất kinh doanh luôn gắn liền với nhu cầu tiếp cận quỹ đất. Nhà đầu tư nước ngoài cần mặt bằng ổn định để xây dựng nhà máy và phát triển dự án.

Đất đai tại Việt Nam thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu. Do đó, doanh nghiệp ngoại tiếp cận đất đai qua các hình thức luật định cụ thể. Nhà nước thực hiện giao đất có thu tiền hoặc cho thuê đất theo từng loại dự án. Quy định pháp lý đặt ra quyền khai thác đi đôi với nghĩa vụ bảo vệ tài nguyên.

Khung pháp lý về quyền sử dụng đất định hình môi trường đầu tư kinh doanh. Các cải cách pháp luật qua từng thời kỳ từng bước tháo gỡ khó khăn cho nhà đầu tư. Hệ thống quy định hiện hành hướng tới tính bình đẳng, minh bạch và an toàn pháp lý. Nghiên cứu thực trạng pháp luật sử dụng đất của khối ngoại giúp hoàn thiện chính sách quốc gia và nâng cao năng lực cạnh tranh.

1.1. Cơ sở pháp lý và chế độ sở hữu đất đai toàn dân

Hiến pháp và Luật Đất đai khẳng định nguyên tắc đất đai thuộc sở hữu toàn dân. Nhà nước đại diện quản lý thống nhất và phân bổ tài nguyên đất cho các chủ thể. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài không có quyền sở hữu đất đai trực tiếp. Khối doanh nghiệp này thụ hưởng quyền sử dụng đất thông qua quyết định giao đất hoặc hợp đồng thuê đất. Cơ sở pháp lý phân định rõ thẩm quyền hành chính công và quyền lợi thương mại của nhà đầu tư. Pháp luật thiết lập trình tự thẩm định hồ sơ chặt chẽ nhằm bảo đảm an ninh kinh tế. Cơ chế này vừa duy trì chủ quyền lãnh thổ, vừa tạo sự an tâm cho các tập đoàn quốc tế mở rộng quy mô.

1.2. Các hình thức tiếp cận đất đai của nhà đầu tư ngoại

Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tiếp cận quỹ đất qua hai phương thức chính. Phương thức đầu tiên là thuê đất từ Nhà nước theo hình thức trả tiền hàng năm hoặc trả tiền một lần. Phương thức thứ hai là giao đất có thu tiền sử dụng đất để thực hiện dự án nhà ở thương mại. Ngoài ra, doanh nghiệp được phép thuê lại đất gắn liền kết cấu hạ tầng trong các khu công nghiệp, khu chế xuất hoặc khu công nghệ cao. Mỗi hình thức mang lại giới hạn quyền tài sản khác nhau đối với giá trị quyền sử dụng đất. Việc chọn hình thức trả tiền quyết định trực tiếp khả năng thế chấp hoặc chuyển nhượng dự án của doanh nghiệp.

II. Thực trạng doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sử dụng đất

Thực tiễn thi hành pháp luật đất đai đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ghi nhận nhiều kết quả tích cực song vẫn tồn tại hạn chế. Luật Đất đai mở rộng quyền tiếp cận mặt bằng sản xuất và đơn giản hóa thủ tục giao đất. Nhà đầu tư nước ngoài dễ dàng phát triển hạ tầng kỹ thuật và khu công nghiệp quy mô lớn. Nguồn vốn FDI chảy mạnh vào bất động sản công nghiệp và dịch vụ lưu trú.

Tuy nhiên, khung pháp luật vẫn bộc lộ sự bất cập về quyền nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Doanh nghiệp FDI chưa được trực tiếp nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất nông nghiệp từ hộ gia đình cá nhân. Rào cản này buộc doanh nghiệp phải phụ thuộc vào khâu thu hồi đất của cơ quan quản lý. Quy trình giải phóng mặt bằng kéo dài làm chậm tiến độ triển khai dự án đầu tư.

Bên cạnh đó, việc xác định giá đất cụ thể để tính tiền thuê đất còn nhiều vướng mắc. Phương pháp định giá đất thiếu tính thị trường gây rủi ro pháp lý cho cả cơ quan công quyền lẫn nhà đầu tư. Cơ chế giải quyết tranh chấp đất đai giữa các bên liên quan còn chồng chéo, kéo dài thời gian xử lý khiếu nại.

2.1. Hạn chế về quyền nhận chuyển nhượng và tiếp cận đất

Pháp luật hiện hành chưa cho phép doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất trực tiếp từ cá nhân. Nhà đầu tư phải chờ đợi chính quyền địa phương thực hiện thu hồi đất và bồi thường tái định cư. Cơ chế trung gian này làm phát sinh độ trễ lớn về thời gian và gia tăng chi phí cơ hội. Nhiều dự án FDI trọng điểm bị đình trệ mặt bằng suốt nhiều năm liền. Sự phân biệt đối xử giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp FDI trong tiếp cận đất đai tạo nên rào cản hội nhập. Nhà đầu tư ngoại gặp khó khăn khi muốn chủ động tích tụ đất đai để mở rộng chuỗi cung ứng.

2.2. Vướng mắc trong định giá đất và giải quyết tranh chấp

Công tác định giá đất để tính tiền thuê đất cho khối doanh nghiệp ngoại thường xuyên gặp trở ngại. Bảng giá đất và hệ số điều chỉnh biến động chậm so với giá thị trường thực tế. Cơ quan chức năng lúng túng trong việc xác định chi phí bồi thường và khấu trừ tiền thuê đất. Điều này dẫn tới sự chậm trễ trong cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Mặt khác, tranh chấp đất đai liên quan đến nhà đầu tư quốc tế diễn biến phức tạp. Cơ chế khiếu nại hành chính và khởi kiện tư pháp còn chồng chéo về thẩm quyền. Việc thiếu vắng tòa án chuyên trách về đầu tư khiến thời gian giải quyết kéo dài, làm giảm niềm tin thương mại.

III. Giải pháp cho doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sử dụng đất

Hoàn thiện pháp luật về đất đai cho doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là đòi hỏi cấp bách của quá trình hội nhập. Nhà nước cần xây dựng khung khổ pháp lý đồng bộ, minh bạch và tương thích với các cam kết quốc tế. Cải cách chính sách đất đai phải lấy nguyên tắc không phân biệt đối xử làm nền tảng.

Trước hết, cơ quan lập pháp cần mở rộng quyền tiếp cận đất đai trực tiếp cho các nhà đầu tư nước ngoài. Quy định mới nên cho phép doanh nghiệp FDI thỏa thuận nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất trong các phân khu quy hoạch đã phê duyệt. Giải pháp này giúp cắt giảm thủ tục hành chính và đẩy nhanh tiến độ giải phóng mặt bằng.

Đồng thời, phương pháp định giá đất cần được đổi mới theo nguyên tắc thị trường độc lập. Việc áp dụng công nghệ số và cơ sở dữ liệu giá đất giúp minh bạch hóa nghĩa vụ tài chính. Nhà nước cũng cần hoàn thiện cơ chế trọng tài thương mại để giải quyết tranh chấp đất đai nhanh chóng. Đội ngũ cán bộ địa chính phải được chuẩn hóa chuyên môn nhằm hỗ trợ tối đa cho doanh nghiệp.

3.1. Hoàn thiện cơ chế giao đất cho thuê đất và định giá

Cơ chế cho thuê đất cần được linh hoạt hóa theo hướng đa dạng thời hạn trả tiền. Cơ quan quản lý nên khuyến khích hình thức thuê đất trả tiền một lần cho cả thời gian thuê để tăng tính chủ động tài chính. Bảng giá đất cần được cập nhật thường xuyên dựa trên cơ sở dữ liệu giao dịch thực tế. Cơ quan định giá độc lập phải tham gia vào quy trình xác định tiền thuê đất của các dự án lớn. Sự công khai thông tin quy hoạch giúp loại bỏ chi phí ngầm và ngăn chặn tình trạng trục lợi đất đai. Việc tính toán chính xác tiền sử dụng đất bảo đảm nguồn thu ngân sách bền vững cho Nhà nước.

3.2. Cải cách thủ tục hành chính và cơ chế tài phán quốc tế

Chính quyền địa phương cần áp dụng cơ chế một cửa liên thông trong giải quyết thủ tục cấp đất và cấp giấy chứng nhận. Hệ thống đăng ký đất đai trực tuyến giúp rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ cho doanh nghiệp ngoại. Quy trình thẩm định dự án đầu tư cần đồng bộ với quy hoạch không gian ngầm và môi trường. Về mặt tài phán, Việt Nam cần công nhận rõ ràng vai trò của trọng tài quốc tế trong xử lý tranh chấp hợp đồng thuê đất. Tòa án chuyên biệt về thương mại quốc tế cần được thành lập để bảo vệ nhà đầu tư hợp pháp. Môi trường pháp lý an toàn sẽ giữ chân các dòng vốn FDI chất lượng cao.

IV. Kết luận về doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sử dụng đất

Quyền và nghĩa vụ sử dụng đất của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là bộ phận then chốt trong pháp luật đất đai Việt Nam. Khung pháp lý hoàn thiện tạo nền tảng vững chắc cho hoạt động đầu tư dài hạn của khối ngoại. Những sửa đổi chính sách qua các thời kỳ đã nâng cao tính minh bạch và thu hẹp khoảng cách giữa nhà đầu tư trong nước và nước ngoài.

Việc thực thi pháp luật hiệu quả đòi hỏi sự đồng bộ từ trung ương đến địa phương. Quản lý đất đai phải kết hợp chặt chẽ giữa mục tiêu phát triển kinh tế và bảo vệ chủ quyền quốc gia. Các giải pháp tháo gỡ rào cản chuyển nhượng, định giá đất và tài phán tranh chấp mang lại giá trị thực tiễn to lớn.

Đề tài luận văn thạc sĩ luật học làm sáng tỏ cơ sở lý luận và chỉ ra các điểm nghẽn thực tế. Kết quả nghiên cứu cung cấp luận cứ khoa học cho các nhà hoạch định chính sách khi sửa đổi luật. Doanh nghiệp FDI cần nắm vững quy định pháp lý để khai thác hiệu quả tài nguyên đất và phòng ngừa rủi ro tranh chấp.

4.1. Giá trị lý luận và thực tiễn của đề tài luận văn

Luận văn thạc sĩ hệ thống hóa toàn diện các quan điểm khoa học pháp lý về quyền sử dụng đất của doanh nghiệp FDI. Công trình phân tích sâu sắc mối quan hệ giữa chế độ sở hữu đất đai toàn dân và quyền tự do kinh doanh quốc tế. Về mặt thực tiễn, nghiên cứu phản ánh chân thực những vướng mắc từ khâu thu hồi đất đến định giá tài sản. Các giải pháp hoàn thiện luật mang tính khả thi cao, đóng góp thiết thực cho công tác lập pháp quốc gia. Tài liệu này hỗ trợ hữu ích cho các nhà nghiên cứu, cơ quan quản lý và đội ngũ tư vấn pháp lý.

4.2. Khuyến nghị ứng dụng cho nhà đầu tư và cơ quan quản lý

Nhà đầu tư nước ngoài cần chủ động kiểm tra quy hoạch sử dụng đất và thẩm định kỹ hồ sơ pháp lý của mặt bằng dự án. Việc lựa chọn hình thức nộp tiền thuê đất hàng năm hay một lần phải gắn liền với kế hoạch vốn dài hạn. Cơ quan quản lý nhà nước tại địa phương cần đẩy mạnh công khai dữ liệu quy hoạch và rút ngắn thời gian xử lý thủ tục. Đội ngũ cán bộ địa chính cần hỗ trợ giải quyết nhanh các vướng mắc phát sinh trong bồi thường giải tỏa. Sự đồng hành giữa cơ quan công quyền và nhà đầu tư giúp phòng ngừa rủi ro pháp lý và nâng cao hiệu quả dự án.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

15/06/2026
Luan van thac si luật học thực trạng pháp luật về quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sử dụng đất tại việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI SỬ DỤNG ĐẤT TẠI VIỆT NAM 1. Lý luận về quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sử dụng đất 1. Khái niệm doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sử dụng đất 1. Khái niệm doanh nghiệp Doanh nghiệp là một thuật ngữ được sử dụng phổ biến trong xã hội và trong lĩnh vực học thuật để chỉ một chủ thể kinh doanh cơ bản trong nền kinh tế thị trường ở nước ta.

Có rất nhiều quan niệm khác nhau về doanh nghiệp; ví dụ: Một là, theo quan điểm nhà tổ chức: Doanh nghiệp là một tổng thể các phương tiện, máy móc thiết bị và con người được tổ chức lại nhằm đạt một mục đích; hai là, theo quan điểm lợi nhuận: Doanh nghiệp là một tổ chức sản xuất, thông qua đó, trong khuôn khổ một tài sản nhất định, người ta kết hợp nhiều yếu tố sản xuất khác nhau, nhằm tạo ra những sản phẩm và dịch vụ để bán trên thị trường và thu khoản chênh lệch giữa giá thành và giá bán sản phẩm; ba là, theo quan điểm chức năng: Doanh nghiệp là một đơn vị sản xuất kinh doanh nhằm thực hiện một, một số, hoặc tất cả các công đoạn trong quá trình đầu tư từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc thực hiện các dịch vụ nhằm mục đích sinh lợi; bốn là, theo quan điểm lý thuyết hệ thống: Doanh nghiệp là một bộ phận hợp thành trong hệ thống kinh tế, mỗi đơn vị trong hệ thống đó phải chịu sự tác động tương hỗ lẫn nhau, phải tuân thủ những điều kiện hoạt động mà nhà nước đặt ra cho hệ thống kinh tế đó nhằm phục vụ cho mục đích tiêu dùng của xã hội v. Trong lĩnh vực luật học, doanh nghiệp được quan niệm như sau: Theo Luật Doanh nghiệp năm 2014: "Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh" (khoản 7 Điều 4). 8 Theo Đỗ Thị Kim Tiên: "Doanh nghiệp là chủ thể pháp luật có hoạt động kinh doanh nhằm mục tiêu thu lợi nhuận"1. Theo Từ điển Luật học do Nhà xuất bản Từ điển Bách khoa ấn hành năm 1999: "Doanh nghiệp: Tổ chức kinh tế được thành lập nhằm mục đích chủ yếu là thực hiện các hoạt động kinh doanh nghĩa là thực hiện một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc thực hiện dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi.

Doanh nghiệp có thể được phân loại dựa trên những tiêu chí nhất định. Căn cứ vào phạm vi trách nhiệm tài sản của doanh nghiệp đối với kết quả kinh doanh, có thể chia thành doanh nghiệp chịu trách nhiệm hữu hạn và doanh nghiệp chịu trách nhiệm vô hạn. Căn cứ vào hình thức sở hữu tài sản của doanh nghiệp, có thể chia thành doanh nghiệp nhà nước, hợp tác xã, doanh nghiệp tư nhân, công ty (ví dụ công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần), doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Điều kiện, thủ tục thành lập doanh nghiệp và tổ chức hoạt động của các loại doanh nghiệp được quy định trong các luật doanh nghiệp tương ứng"2.

Theo Từ điển Luật học do Viện Khoa học Pháp lý - Bộ Tư pháp biên soạn: "Doanh nghiệp: Tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản riêng và trụ sở giao dịch ổn định, được thành lập theo thủ tục pháp luật quy định, lấy kinh doanh làm nghề nghiệp chính (chức năng nhiệm vụ chính là kinh doanh). Các doanh nghiệp trong nền kinh tế Việt Nam hiện nay gồm doanh nghiệp nhà nước, hợp tác xã, công ty hợp danh, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội. Thuật ngữ doanh nghiệp được sử dụng đầu tiên ở nước ta từ năm 1948, theo tinh thần của Sắc lệnh số 104/SL ngày 01/01/1948 về doanh nghiệp quốc gia. Trong suốt thời kỳ kinh tế kế hoạch hóa tập trung, thuật ngữ này bị lãng quên, các thuật ngữ thay thế thường được sử dụng là xí nghiệp, đơn vị kinh tế, cơ quan kinh tế… Đến khi ở Việt Nam xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận 1.

Đỗ Thị Kim Tiên (2017), Quản trị doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường, (Sách chuyên khảo), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. Trường Đại học Luật Hà Nội (1999), Từ điển Luật học, Nxb Từ điển Bách khoa, Hà Nội, tr. 9 hành theo cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, thuật ngữ doanh nghiệp mới được sử dụng trở lại. Theo tinh thần của Luật công ty năm 1990 hay Luật doanh nghiệp năm 1999, thuật ngữ doanh nghiệp được xác định là một thực thể pháp lý được thành lập và đăng ký kinh doanh nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh"3.

Như vậy, doanh nghiệp là một pháp nhân có tên gọi riêng, có tài sản riêng và có trụ sở giao dịch ổn định được thành lập theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định có chức năng chủ yếu là kinh doanh (nhằm mục đích thu lợi nhuận). Doanh nghiệp có các đặc điểm sau: 1) Được thành lập và đăng ký kinh doanh theo thủ tục pháp lý nhất định. Hiện tại, tùy thuộc tính chất của mỗi loại chủ thể kinh doanh mà pháp luật quy định thủ tục thành lập và đăng ký kinh doanh riêng; 2) Được thừa nhận là thực thể pháp lý; có thể nhân danh mình tham gia quan hệ pháp luật. Doanh nghiệp được tham gia vào tất cả các quan hệ trong giao lưu dân sự cũng như các quan hệ tố tụng; 3) Chức năng, nhiệm vụ chính của doanh nghiệp là kinh doanh.

Doanh nghiệp được thực hiện các hoạt động kinh doanh như sản xuất, mua bán, cung ứng hàng hóa, dịch vụ nhằm mục tiêu thu lợi nhuận hoặc thực hiện chính sách kinh tế - xã hội. Phân loại doanh nghiệp Tùy vào từng loại tiêu chí, có các cách phân loại doanh nghiệp khác nhau, cụ thể: i) Căn cứ vào bản chất kinh tế của chủ sở hữu 4 Theo tiêu chí này, doanh nghiệp được chia ra làm ba loại hình chính dựa trên hình thức và giới hạn trách nhiệm của chủ sở hữu, bao gồm: doanh nghiệp tư nhân (Proprietorship); doanh nghiệp hợp danh (Partnership); doanh nghiệp trách nhiệm hữu hạn (Corporation). ii) Căn cứ vào hình thức pháp lý doanh nghiệp 5 Theo tiêu chí này, doanh nghiệp được phân loại thành công ty trách nhiệm hữu hạn (bao gồm công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên và công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên); công ty cổ phần; công ty hợp danh; doanh 3. Viện Khoa học Pháp lý - Bộ Tư pháp (2006), Từ điển Luật học, Nxb Từ điển Bách khoa & Nxb Tư pháp, Hà Nội, tr.

Theo Nguyễn Thị Huỳnh Giao, Bài giảng Kinh tế vi mô, Đại học Ngoại thương Cơ sở II. Theo Luật Doanh nghiệp 2014. 10 nghiệp tư nhân; hợp tác xã; công ty liên doanh. iii) Căn cứ vào chế độ trách nhiệm Theo tiêu chí này, doanh nghiệp được phân loại thành doanh nghiệp có chế độ trách nhiệm hữu hạn và doanh nghiệp có chế độ trách nhiệm vô hạn.

iv) Căn cứ vào tính chất sở hữu tài sản trong doanh nghiệp Theo tiêu chí này, doanh nghiệp được phân loại thành doanh nghiệp nhà nước; doanh nghiệp góp vốn; doanh nghiệp tư nhân và hợp tác xã. v) Căn cứ vào lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp trong nền kinh tế quốc dân Theo tiêu chí này, doanh nghiệp được phân loại thành doanh nghiệp nông nghiệp; doanh nghiệp công nghiệp; doanh nghiệp thương mại và doanh nghiệp hoạt động dịch vụ. vi) Căn cứ vào quy mô của doanh nghiệp Theo tiêu chí này, doanh nghiệp được phân loại thành doanh nghiệp quy mô lớn; doanh nghiệp quy mô vừa và doanh nghiệp quy mô nhỏ. Định nghĩa doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Xí nghiệp có vốn ĐTNN là một thuật ngữ xuất hiện lần đầu tiên ở nước ta năm 1987 cùng với việc Quốc hội ban hành Luật ĐTNN tại Việt Nam.

Tiếp đó, thuật ngữ doanh nghiệp có vốn ĐTNN chính thức được sử dụng trong Luật ĐTNN tại Việt Nam năm 1996. Với việc ra đời các Đạo luật này, nước ta mở cửa, khuyến khích nhà ĐTNN đầu tư, kinh doanh tại Việt Nam. Thuật ngữ doanh nghiệp ĐTNN được đề cập trong các sách, báo pháp lý ở nước ta; cụ thể: Theo Từ điển Luật học do Nhà xuất bản Từ điển Bách khoa ấn hành năm 1999 thì doanh nghiệp có vốn ĐTNN được hiểu như sau: "Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài: Doanh nghiệp do nhà đầu tư nước ngoài thành lập hoặc đầu tư nước ngoài hợp tác với một bên hoặc nhiều bên Việt Nam thành lập tại Việt Nam. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài bao gồm doanh nghiệp liên doanh và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được thành lập theo hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn, có tư cách pháp nhân theo pháp luật Việt Nam, không 11 bị quốc hữu hóa"6. Theo Từ điển Luật học do Viện Khoa học Pháp lý biên soạn thì doanh nghiệp có vốn ĐTNN được hiểu như sau: "Doanh nghiệp do nhà đầu tư của một quốc gia đầu tư toàn bộ hoặc một phần vốn thành lập trên lãnh thổ của một quốc gia khác để tiến hành hoạt động kinh doanh thu lợi nhuận. Nhiều nước trên thế giới không phân biệt vốn đầu tư trong nước với vốn đầu tư nước ngoài và bởi vậy, không có khái niệm doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; họ gọi các doanh nghiệp được thành lập trên cơ sở góp vốn của các nhà đầu tư nước ngoài theo hình thức tổ chức pháp lý của chúng, ví dụ: công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần … Thuật ngữ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chính thức được sử dụng trong Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1996 (trước đó gọi là xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài)"7. Như vậy, doanh nghiệp có vốn ĐTNN là doanh nghiệp do nhà ĐTNN bỏ vốn đầu tư toàn bộ hoặc góp một phần vốn liên doanh với một hay nhiều bên của Việt Nam tuân thủ các quy định của pháp luật Việt Nam để tiến hành hoạt động kinh doanh thu lợi nhuận.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ