Luận văn: Quản lý hành chính nhà nước về thuê đất đối với doanh nghiệp FDI

Luận văn thạc sĩ luật học về hoàn thiện pháp luật quản lý hành chính nhà nước với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực thuê đất.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ
146
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về quản lý nhà nước khi doanh nghiệp FDI thuê đất

Đất đai là tài nguyên quốc gia đặc biệt quan trọng. Quản lý hành chính nhà nước về đất đai đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là nhiệm vụ chiến lược. Nhà nước thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai. Các cơ quan công quyền ban hành chính sách và kiểm soát quá trình sử dụng tài nguyên. Doanh nghiệp đầu tư nước ngoài đóng góp lớn vào tăng trưởng kinh tế. Khối doanh nghiệp này tạo việc làm và chuyển giao công nghệ hiện đại. Việc thuê đất giúp các dự án quốc tế triển khai thuận lợi. Nhà nước cần thiết lập hành lang pháp lý minh bạch và chặt chẽ. Hệ thống quy định rõ ràng giúp doanh nghiệp yên tâm kinh doanh dài hạn. Cơ chế quản lý hiệu quả ngăn ngừa tình trạng lãng phí tài nguyên đất. Pháp luật đất đai liên tục điều chỉnh để đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế. Quản lý hành chính chặt chẽ bảo đảm an ninh kinh tế và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ. Sự kết hợp giữa thu hút đầu tư và quản lý nhà nước tạo nền tảng phát triển bền vững.

1.1. Khái niệm và cơ sở lý luận quản lý đất đai FDI

Quản lý hành chính nhà nước về đất đai là tổng thể các hoạt động điều hành của cơ quan quyền lực. Mục tiêu trọng tâm là phân phối và sử dụng quỹ đất đúng mục đích kinh tế xã hội. Đối tượng quản lý bao gồm các tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Các doanh nghiệp này tiếp cận đất đai qua hình thức thuê đất trực tiếp hoặc liên doanh. Cơ sở lý luận khẳng định đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu. Nhà nước ban hành quy chuẩn kỹ thuật và định mức kinh tế cho việc sử dụng đất. Pháp luật quy định quyền và nghĩa vụ tài chính của doanh nghiệp thuê đất. Sự kiểm soát chặt chẽ bảo đảm khai thác tài nguyên hiệu quả và giữ vững trật tự xã hội.

1.2. Thẩm quyền của cơ quan quản lý hành chính nhà nước

Cơ quan quản lý hành chính nhà nước về đất đai được phân định theo thẩm quyền chung và chuyên môn. Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước trên phạm vi toàn quốc. Bộ Tài nguyên và Môi trường chịu trách nhiệm trực tiếp tham mưu và ban hành chính sách. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền quyết định việc cho thuê đất với doanh nghiệp đầu tư nước ngoài. Các sở chuyên ngành phối hợp thẩm định hồ sơ kỹ thuật và năng lực tài chính. Hệ thống cơ quan này bảo đảm tính nghiêm minh và trật tự quản lý công. Sự phân cấp rõ ràng giúp hạn chế tình trạng chồng chéo chức năng. Cơ chế một cửa từng bước nâng cao hiệu suất xử lý hồ sơ hành chính.

II. Thực trạng quản lý hành chính nhà nước về đất đai với FDI

Thực tiễn quản lý đất đai với doanh nghiệp FDI bộc lộ nhiều điểm nghẽn nghiêm trọng. Hệ thống văn bản pháp luật thiếu tính đồng bộ và thay đổi liên tục. Sự chồng chéo giữa Luật Đất đai và Luật Đầu tư gây lúng túng cho cơ quan thực thi. Quy trình giao đất và tính tiền thuê đất còn nhiều bất cập lớn. Việc xác định giá đất thị trường gặp nhiều vướng mắc về phương pháp tính toán. Nhiều dự án FDI chậm tiến độ do vướng mắc giải phóng mặt bằng kéo dài. Một số doanh nghiệp đầu tư không đúng mục đích phê duyệt ban đầu. Tình trạng giữ đất đầu cơ hoặc chuyển nhượng trái quy định vẫn diễn ra. Năng lực chuyên môn của cán bộ địa phương chưa đồng đều ở các vùng miền. Sự phối hợp giữa các sở ngành còn thiếu tính kết nối liên thông. Công tác thanh tra sau cấp phép chưa mang tính răn đe quyết liệt. Chế tài xử lý vi phạm hành chính còn nhẹ và thiếu hiệu quả thực tế. Doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn khi hoàn thiện các thủ tục pháp lý. Tình trạng này làm giảm sút tính cạnh tranh của môi trường đầu tư.

2.1. Những bất cập trong cơ chế giao đất và cho thuê đất

Cơ chế cho thuê đất hiện hành còn nhiều rào cản hành chính phức tạp. Quy trình thu hồi đất và bồi thường tái định cư thường xuyên bị kéo dài. Khung giá đất do cơ quan nhà nước ban hành chưa theo sát biến động thị trường thực tế. Điều này gây khó khăn cho việc định giá đất khi giao đất cho dự án FDI. Nhà đầu tư nước ngoài mất nhiều thời gian để tiếp cận quỹ đất sạch. Nhiều dự án chậm triển khai hàng năm do vướng thủ tục giải phóng mặt bằng. Sự thiếu đồng bộ trong quy hoạch đất đai giữa các địa phương làm nảy sinh khiếu kiện. Các chi phí phát sinh ngoài dự kiến làm tăng gánh nặng tài chính cho doanh nghiệp.

2.2. Hạn chế trong công tác kiểm tra và xử lý vi phạm

Hoạt động giám sát sau khi giao đất còn nhiều lỗ hổng quản lý. Lực lượng thanh tra chuyên ngành mỏng và thiếu trang thiết bị hiện đại. Các đợt kiểm tra thực địa thường diễn ra định kỳ thay vì kiểm tra đột xuất. Nhiều doanh nghiệp FDI lợi dụng chính sách ưu đãi để găm giữ đất đai kiếm lời. Hiện tượng chậm đưa đất vào sử dụng theo tiến độ cam kết diễn ra phổ biến. Việc xử phạt vi phạm hành chính chưa đủ sức răn đe đối với các sai phạm lớn. Quy trình thu hồi đất đối với các dự án vi phạm gặp nhiều rào cản pháp lý phức tạp. Sự thiếu phối hợp giữa cơ quan quản lý đất đai và cơ quan quản lý đầu tư làm giảm hiệu lực kiểm tra.

III. Giải pháp hoàn thiện pháp luật quản lý doanh nghiệp FDI thuê đất

Hoàn thiện pháp luật về quản lý đất đai là yêu cầu cấp thiết để nâng cao hiệu lực nhà nước. Nhà nước cần rà soát và thống nhất các quy định trong Luật Đất đai và Luật Đầu tư. Việc này loại bỏ triệt để tình trạng mâu thuẫn giữa các văn bản pháp quy. Quy chuẩn định giá đất cần được xây dựng dựa trên nguyên tắc thị trường minh bạch. Cơ quan chức năng cần thiết lập cơ chế đấu giá đất và đấu thầu dự án công khai. Điều này bảo đảm tính cạnh tranh công bằng cho mọi nhà đầu tư quốc tế. Công tác cải cách thủ tục hành chính phải gắn liền với chuyển đổi số toàn diện. Việc xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai quốc gia giúp theo dõi biến động sử dụng đất tức thì. Nhà nước cần tăng cường phân cấp thẩm quyền gắn liền với trách nhiệm giải trình của địa phương. Chế tài xử phạt các hành vi vi phạm pháp luật đất đai phải được nâng mức nghiêm khắc hơn. Việc áp dụng các biện pháp thu hồi đất kiên quyết sẽ chấm dứt tình trạng dự án treo.

3.1. Hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật đất đai

Nhà nước cần xây dựng hệ thống quy chuẩn đồng bộ giữa pháp luật đất đai và pháp luật kinh doanh. Luật hóa các quy định cụ thể về điều kiện thuê đất đối với từng loại hình doanh nghiệp FDI. Các quy định về xác định giá đất cụ thể phải có phương pháp tính toán minh bạch và khoa học. Cần bổ sung quy định rõ ràng về quyền thế chấp tài sản gắn liền với đất thuê tại các tổ chức tín dụng. Pháp luật cần làm rõ trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi xảy ra tranh chấp quyền sử dụng đất. Hệ thống văn bản hướng dẫn thi hành phải ban hành kịp thời và hạn chế thông tư chồng chéo. Môi trường pháp lý ổn định sẽ củng cố niềm tin của cộng đồng doanh nghiệp quốc tế.

3.2. Đơn giản hóa thủ tục hành chính và số hóa quản lý

Cải cách hành chính cần tập trung vào số hóa toàn bộ quy trình cho thuê đất. Cơ quan thẩm quyền cần cung cấp dịch vụ công trực tuyến đối với các hồ sơ đất đai. Việc liên thông dữ liệu giữa cơ quan tài nguyên, thuế và kế hoạch đầu tư giúp cắt giảm thời gian xử lý. Cơ chế một cửa điện tử giúp doanh nghiệp theo dõi tiến độ hồ sơ công khai. Ứng dụng công nghệ GIS hỗ trợ quản lý quy hoạch và kiểm tra thực địa chính xác. Thủ tục giao đất và cho thuê đất cần chuẩn hóa biểu mẫu và tinh gọn các bước trung gian. Sự minh bạch quy trình giúp phòng ngừa tiêu cực và giảm thiểu chi phí không chính thức cho nhà đầu tư.

IV. Ý nghĩa và định hướng hoàn thiện pháp luật đất đai cho FDI

Hoàn thiện pháp luật quản lý hành chính về đất đai là nền tảng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững. Hệ thống thể chế rõ ràng tạo niềm tin vững chắc cho các nhà đầu tư nước ngoài. Các tập đoàn đa quốc gia sẽ gia tăng dòng vốn vào các ngành công nghiệp công nghệ cao. Cơ chế quản lý hiện đại bảo đảm việc sử dụng tài nguyên đất hiệu quả và tiết kiệm. Nguồn thu ngân sách từ tiền thuê đất và các loại thuế liên quan sẽ tăng trưởng ổn định. Các địa phương có điều kiện thuận lợi để nâng cấp hạ tầng và giải quyết việc làm cho người dân. Đồng thời công tác quản lý chặt chẽ ngăn ngừa các rủi ro về an ninh kinh tế và suy thoái môi trường. Pháp luật đất đai hoàn thiện bảo đảm cân bằng lợi ích giữa Nhà nước, nhà đầu tư và cộng đồng dân cư. Đây là chìa khóa then chốt để Việt Nam nâng cao vị thế cạnh tranh trên trường quốc tế. Việc thực thi pháp luật nghiêm minh góp phần xây dựng nhà nước pháp quyền hiện đại và hội nhập sâu rộng.

4.1. Tác động tích cực đến môi trường thu hút đầu tư

Khung pháp lý hoàn thiện tạo sức hút mạnh mẽ đối với dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài chất lượng cao. Các nhà đầu tư lớn ưu tiên điểm đến có chính sách đất đai ổn định và minh bạch. Khi thủ tục thuê đất nhanh gọn, thời gian triển khai dự án được rút ngắn đáng kể. Doanh nghiệp giảm thiểu chi phí cơ hội và nhanh chóng đưa nhà xưởng vào vận hành. Sự bảo hộ quyền lợi hợp pháp giúp củng cố mức độ tín nhiệm của thị trường Việt Nam. Các dự án FDI mới sẽ chuyển giao kỹ thuật công nghệ tiên tiến và mở rộng mạng lưới sản xuất. Nền kinh tế quốc gia gia tăng sức cạnh tranh trước làn sóng dịch chuyển chuỗi cung ứng toàn cầu.

4.2. Bảo đảm chủ quyền quốc gia và phát triển bền vững

Quản lý đất đai nghiêm ngặt gắn liền với mục tiêu bảo vệ vững chắc an ninh quốc phòng và chủ quyền lãnh thổ. Pháp luật quy định ranh giới chặt chẽ đối với các khu vực nhạy cảm về an ninh biên giới và hải đảo. Nhà nước kiểm soát chặt chẽ việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp và lâm nghiệp sang công nghiệp. Các dự án FDI bắt buộc phải cam kết bảo vệ môi trường sinh thái và sử dụng công nghệ sạch. Việc khai thác khoáng sản và tài nguyên đất phải đi đôi với trách nhiệm hoàn thổ và phục hồi môi trường. Thể chế quản lý hoàn thiện vừa thúc đẩy kinh tế, vừa giữ gìn nguồn tài nguyên cho các thế hệ tương lai.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

15/06/2026
Lv ths luật học hoàn thiện pháp luật về quản lý hành chính nhà nước đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực thuê đất ở việt nam hiện nay

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 Cơ sở lý luận của pháp luật về quản lý hành chính Nhà nước đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực thuê đất ở việt namViệt Nam hiện nay 1. Khái niệm doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và nhu cầu sử dụng đất của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt NamViệt Nam 1. Khái niệm về doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt NamViệt Nam Khái niệm về “"doanh nghiệp”" là khái niệm có sự ra đời và phát triển gắn liền với sự phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Khái niệm “"doanh nghiệp”" dùng để chỉ các tổ chức kinh tế được thành lập một cách hợp pháp với mục đích là để hoạt động sản xuất, kinh doanh.

Tuy vậy, trước khi có Luật Công ty năm 1990 ra đời, tổ chức kinh tế nói trên được gọi với khái niệm khác là “"xí nghiệp”" hay “"công ty”". Nói như vậy có nghĩa tuy bản thân khái niệm “"doanh nghiệp”" hay “"xí nghiệp”" là khác nhau nhưng đều giống nhau ở một điểm là dùng để chỉ một tổ chức kinh tế hoạt động sản xuất, kinh doanh ở nước ta. 16 17 Khái niệm “"doanh nghiệp”" đã được Luật công ty năm 1990 sử dụng để chỉ các loại hình công ty hiện có ở Việt namViệt Nam thời bấy giờ. Sau khi Luật công ty ra đời, hệ thống các văn bản pháp luật ở nước ta đều sử dụng khái niệm “"doanh nghiệp”" thay vì “"xí nghiệp”" như trước đó, mặc dù cho đến nay hầu như chưa có công trình nào nghiên cứu về sự thay đổi khái niệm nói trên và việc sử dụng nó trong các văn bản pháp luật.

Luật doanh nghiệp được Quốc hội thông qua ngày 12 tháng 06 năm 1999 và có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2000 đã chính thức sử dụng khái niệm “"doanh nghiệp”" thay thế cho Luật công ty năm 1990. Đồng thời, Luật doanh nghiệp thay thế cho Luật công ty trong việc quy định về tổ chức, thành lập và hoạt động của các loại hình công ty hiện có ở nước ta lúc bấy giờ trừ doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp của các tổ chức chính trị - xã hội. Theo Luật doanh nghiệp, “"doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh" [50]. Luật doanh nghiệp không đưa ra khái niệm về công ty nhưng lại quy định về các loại hình công ty.

Vì vậy, có thể hiểu “"doanh nghiệp”" là khái niệm rộng dùng để chỉ các tổ chức kinh tế trong đó có công ty và ngược lại công ty được hiểu là doanh nghiệp. Luật doanh nghiệp 2005 được Quốc hội thông qua ngày 29/11/2005 và có hiệu lực từ ngày 01 tháng 07 năm 2006 và thay thế cho Luật doanh nghiệp nhà nước, Luật doanh nghiệp, các quy định về tổ chức quản lý và hoạt động của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt NamViệt Nam. Theo Luật doanh nghiệp năm 2005, khái niệm “"doanh nghiệp”" không thay đổi so với Luật doanh nghiệp năm 1999, nhưng phạm vi điều chỉnh lại rộng hơn; có thể nói, Luật doanh 17 18 nghiệp năm 2005 thống nhất điều chỉnh các loại hình doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế ở nước ta hiện nay. Bản thân khái niệm “"doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài”" ra đời và phát triển có nhiều điểm giống như khái niệm “"doanh nghiệp”".

Luật đầu tư nước ngoài tại Việt NamViệt Nam năm 1987, Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật đầu tư nước ngoài năm 1990 đều sử dụng khái niệm “"xí nghiệp”"; Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật đầu tư nước ngoài năm 1992 lần đầu tiên sử dụng khái niệm “"doanh nghiệp”" thay cho khái niệm “"xí nghiệp”" được dùng trong các Luật trước đó. Khái niệm “"doanh nghiệp”" được sử dụng trong Luật sửa đổi một số điều của Luật đầu tư nước ngoài năm 1992 gắn liền với hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt NamViệt Nam. Chẳng hạn, "doanh nghiệp liên doanh" là khái niệm dùng để chỉ doanh nghiệp được thành lập theo hình thức liên doanh giữa một bên ( (các bên )) Việt NamViệt Nam với một bên ( (các bên) nước ngoài; “"doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài”" dùng để chỉ doanh nghiệp được thành lập theo hình thức đầu tư 100% vốn của nước ngoài. Theo quy định của Luật đầu tư nước ngoài tại Việt NamViệt Nam, trong các hình thức đầu tư của tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt NamViệt Nam chỉ có hình thức liên doanh hoặc đầu tư 100% vốn mới được thành lập doanh nghiệp hay nói cách khác doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài là hai trong các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt NamViệt Nam.

Theo quy định của Luật, hai loại hình doanh nghiệp này được tồn tại theo hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn có tư cách pháp nhân theo pháp luật Việt NamViệt Nam. Như vậy, việc tổ chức, quản lý của hai loại hình doanh nghiệp này theo quy định của Luật doanh nghiệp quy định về tổ chức thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn, nhưng hoạt 18 19 động kinh doanh theo sự điều chỉnh của Luật đầu tư nước ngoài tại Việt NamViệt Nam. Đây là điểm khác biệt của hệ thống pháp luật về doanh nghiệp và đầu tư của Việt NamViệt Nam so với các nước khác trên thế giới. Tuy nhiên, trước xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, yêu cầu về việc thống nhất hệ thống pháp luật nhằm tạo môi trường bình đẳng cho các loại hình doanh nghiệp đã được Nhà nước từng bước khắc phục và thể hiện bằng việc ban hành Luật doanh nghiệp năm 2005 và Luật đầu tư năm 2005 mà chúng tôi sẽ đề cập trong các phần sau của luận văn.

Để nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, đồng thời tạo môi trường đầu tư thông thoáng và rộng rãi hơn, ngày 15/4/2003 Chính phủ đã ra Nghị định số 38/2003/NĐ-CP về việc chuyển đổi một số doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sang hoạt động theo hình thức công ty cổ phần. Như vậy, ngoài doanh nghiệp liên doanh và doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài được tổ chức theo hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn, sau khi Nghị định 38/2003/NĐ-CP có hiệu lực trong các hình thức đầu tư nước ngoài tại Việt NamViệt Nam có thêm loại hình công ty cổ phần có vốn đầu tư nước ngoài. Việc bổ sung thêm hình thức công ty cổ phần đã làm phong phú thêm nội hàm của khái niệm về doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt NamViệt Nam. Từ những phân tích trên, có thể hiểu "doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài" là tổ chức kinh tế có tên riêng, một phần hoặc toàn bộ tài sản của doanh nghiệp được sở hữu bởi tổ chức hoặc cá nhân mang quốc tịch nước ngoài hoặc người Việt namViệt Nam định cư ở nước ngoài, có trụ sở giao dịch ổn định tại Việt namViệt Nam và có tư cách pháp nhân theo pháp luật Việt namViệt Nam.

Nhu cầu sử dụng đất của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và chủ trương đáp ứng nhu cầu này của Nhà nước 19 20 Trong những năm qua kể từ khi có dự án đầu tư nước ngoài vào Việt NamViệt Nam đầu tiên, đầu tư nước ngoài tại Việt namViệt Nam đã có những bước thăng trầm, nguyên nhân của tình trạng thăng trầm đó thì có nhiều nhưng chủ yếu vẫn là do môi trường đầu tư tại Việt NamViệt Nam chưa đủ sức thu hút đầu tư nước ngoài một cách ổn định như các nước khác trong khu vực (chẳng hạn: Trung Quốc, Singapo). Vấn đề đáp ứng nhu cầu sử dụng đất của các doanh nghiệp với thủ tục hành chính là một trong những yếu tố của môi trường đầu tư. Một đặc thù của đầu tư nước ngoài tại Việt NamViệt Nam và cũng là những nét chung của đầu tư nước ngoài tại các nước đang phát triển chủ yếu là hình thức doanh nghiệp liên doanh. Trong đầu tư nước ngoài tại Việt NamViệt Nam giai đoạn 1988-2003, tỉ lệ các dự án đầu tư nước ngoài thuê đất để thực hiện dự án rất thấp bởi vốn của doanh nghiệp liên doanh phía Việt NamViệt Nam chủ yếu là góp vốn bằng đất.

Các hình thức đầu tư nước ngoài còn lại, do đặc thù của mình là 100% vốn nước ngoài nên phải thuê đất để thực hiện dự án. Thời gian gần đây, do nhiều nguyên nhân khác nhau nên hình thức doanh nghiệp liên doanh bị giải thể hoặc chuyển đổi hình thức đầu tư sang hình thức 100% vốn nước ngoài và đầu tư nước ngoài vào Việt NamViệt Nam chủ yếu dưới hình thức 100% vốn nước ngoài. Bởi vậy, nhu cầu thuê đất để thực hiện dự án tăng hơn nhiều so với trước đây. Mặt khác, các hình thức đầu tư nước ngoài khác như hợp đồng hợp tác kinh doanh, BOT, BTO, BT thuê đất để lập văn phòng điều hành dự án cũng tăng nhiều so với trước đây.

Vì vậy, nhu cầu sử dụng đất của các hình thức đầu tư nước ngoài tại Việt NamViệt Nam nhìn chung ngày càng tăng so với giai đoạn 1988 - 2003. Về mặt quản lý Nhà nướcquản lý nhà nước, để xây dựng kế hoạch sử dụng đất lâu dài phục vụ chiến lược phát triển kinh tế, đồng thời tạo môi 20 21 trường đầu tư thuận lợi, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã trình Chính phủ phê duyệt kế hoạch sử dụng đất đến năm 2020. Theo đó, đất dùng cho lĩnh vực đầu tư nước ngoài tiếp tục được xác định rộng rãi với cơ chế cải cách hành chính trong thủ tục lập hồ sơ xin thuê đất để phục vụ dự án đầu tư nước ngoài. Về mặt xây dựng pháp luật phục vụ cho hội nhập kinh tế quốc tế và tiếp tục xây dựng nền kinh tế thị trường, Nhà nước ta đã ban hành Luật đầu tư thống nhất điều chỉnh các hình thức đầu tư nước ngoài và đầu tư trong nước (còn gọi là Luật đầu tư chung) và luật này có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2006.

Việc ban hành Luật đầu tư là bước phát triển đáng kể trong việc tạo môi trường đầu tư bình đẳng giữa các loại hình đầu tư tại Việt NamViệt Nam và sự xích lại gần hơn thông lệ quốc tế trong đầu tư nước ngoài.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ