Luận văn: Chất lượng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện ở tỉnh Ắt Ta Pư

Luận văn thạc sĩ khoa học chính trị về nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện tại tỉnh Attapeu, Lào trong giai đoạn hiện nay.

Chuyên ngành

Khoa học chính trị

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ
122
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan chất lượng cán bộ chủ chốt cấp huyện ở tỉnh Ắt Ta Pư

Đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện giữ vị trí then chốt trong hệ thống chính trị tại Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào. Cấp huyện là cầu nối trực tiếp giữa chính quyền cấp tỉnh với các cụm bản cơ sở. Tại tỉnh Ắt Ta Pư, đội ngũ này đóng vai trò hạt nhân lãnh đạo phong trào cách mạng địa phương. Họ trực tiếp thể chế hóa chủ trương của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào thành các chương trình hành động cụ thể. Chất lượng của cán bộ cấp huyện quyết định sự thành bại trong việc phát triển kinh tế, văn hóa và xã hội địa bàn. Tiêu chí đánh giá chất lượng bao gồm bản lĩnh chính trị, năng lực chuyên môn, phẩm chất đạo đức và phong cách làm việc. Cán bộ gương mẫu tạo ra sự đồng thuận lớn trong nhân dân. Họ khơi dậy tinh thần đoàn kết nội bộ và củng cố niềm tin vào đường lối đổi mới của đất nước. Việc nghiên cứu chất lượng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện tỉnh Ắt Ta Pư mang tính cấp thiết sâu sắc. Hoạt động này cung cấp luận cứ khoa học giúp nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước.

1.1. Vị trí then chốt của cán bộ cấp huyện

Cán bộ chủ chốt cấp huyện là những người đứng đầu cơ quan Đảng, chính quyền và đoàn thể địa phương. Họ nắm giữ quyền lực chính trị và trực tiếp điều hành bộ máy hành chính cấp cơ sở. Đội ngũ này chịu trách nhiệm toàn diện về an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội trên địa bàn huyện. Họ nắm vững tiềm năng địa phương để tham mưu chính xác cho cấp trên. Khi tổ chức bộ máy hoạt động hiệu quả, các quyết sách phát triển sẽ nhanh chóng đi vào đời sống nhân dân. Uy tín của người lãnh đạo gắn liền với sự phát triển bền vững của toàn huyện.

1.2. Tiêu chuẩn đánh giá chất lượng cán bộ

Chất lượng cán bộ được đo lường qua sự kết hợp chặt chẽ giữa tư tưởng chính trị và trình độ chuyên môn. Người cán bộ cần có lập trường kiên định, trung thành với lý tưởng xã hội chủ nghĩa và lợi ích nhân dân. Trình độ học vấn và kiến thức quản lý nhà nước là điều kiện bắt buộc để xử lý công việc khoa học. Ngoài ra, khả năng tổ chức thực tiễn và kỹ năng giải quyết mâu thuẫn cơ sở giữ vai trò rất quan trọng. Phong cách làm việc sâu sát, dân chủ và lắng nghe quần chúng phản ánh đạo đức trong sáng của người lãnh đạo.

II. Thực trạng chất lượng cán bộ chủ chốt cấp huyện tại tỉnh Ắt Ta Pư

Đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện tỉnh Ắt Ta Pư thời gian qua đạt nhiều chuyển biến tích cực. Đa số cán bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng, trung thành với đường lối của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào. Họ trưởng thành từ các phong trào cách mạng thực tiễn nên am hiểu sâu sắc phong tục tập quán địa phương. Tinh thần đoàn kết nội bộ trong cấp ủy và chính quyền được giữ vững. Mối quan hệ giữa lãnh đạo và nhân dân luôn duy trì sự gắn bó mật thiết. Cán bộ thường xuyên đối thoại trực tiếp để tháo gỡ khó khăn cho cơ sở. Tuy nhiên, chất lượng đội ngũ vẫn còn những mặt hạn chế nhất định trước yêu cầu phát triển mới. Trình độ chuyên môn kỹ thuật và lý luận chính trị ở một số cán bộ chưa đồng đều. Khả năng hoạch định chiến lược kinh tế dài hạn còn lúng túng. Cơ cấu độ tuổi và tỷ lệ cán bộ nữ chưa thật sự cân đối. Công tác quy hoạch cán bộ đôi khi chưa theo kịp tốc độ phát triển xã hội.

2.1. Ưu điểm về bản lĩnh và tinh thần đoàn kết

Cán bộ chủ chốt các huyện tại Ắt Ta Pư luôn giữ vững phẩm chất đạo đức cách mạng. Lối sống giản dị và sự tận tụy giúp cán bộ tạo dựng niềm tin vững chắc trong quần chúng. Các cơ quan hành chính hiếm khi xảy ra tình trạng mất đoàn kết hoặc tranh chấp quyền lực. Lãnh đạo cấp huyện duy trì tốt quy chế dân chủ ở cơ sở. Họ luôn lắng nghe ý kiến phản ánh của nhân dân để kịp thời điều chỉnh phương pháp quản lý. Tinh thần trách nhiệm cao là nền tảng giúp địa phương giữ vững ổn định chính trị suốt nhiều năm qua.

2.2. Hạn chế về năng lực quản lý và chuyên môn

Bên cạnh thành tựu, năng lực quản lý kinh tế của một bộ phận cán bộ còn bộc lộ điểm yếu. Kiến thức về kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế chưa được cập nhật thường xuyên. Việc ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý hành chính còn diễn ra chậm chạp. Phương pháp làm việc đôi lúc còn mang tính kinh nghiệm, thiếu sự đổi mới sáng tạo. Năng lực dự báo và xây dựng chính sách thu hút đầu tư chưa đáp ứng kỳ vọng phát triển. Những hạn chế này ảnh hưởng trực tiếp đến tốc độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh Ắt Ta Pư.

III. Giải pháp nâng cao cán bộ chủ chốt cấp huyện ở tỉnh Ắt Ta Pư Lào

Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện là nhiệm vụ chiến lược hàng đầu tại tỉnh Ắt Ta Pư. Tỉnh ủy cần đổi mới mạnh mẽ công tác quy hoạch, đào tạo và bồi dưỡng cán bộ. Việc đào tạo phải gắn liền với nhu cầu thực tiễn và vị trí việc làm cụ thể. Các chương trình bồi dưỡng cần tập trung vào năng lực quản lý kinh tế, kỹ năng số và ngoại ngữ. Tỉnh cần hoàn thiện quy trình đánh giá cán bộ dựa trên kết quả hoàn thành nhiệm vụ thực tế. Đánh giá khách quan giúp bố trí đúng người, đúng việc và tạo động lực cống hiến. Công tác luân chuyển cán bộ giữa các sở ngành và cấp huyện cần được đẩy mạnh. Chính sách đãi ngộ hợp lý sẽ thu hút nguồn nhân lực trẻ, có trình độ cao về cơ sở. Ngoài ra, việc tăng cường kiểm tra, giám sát giúp ngăn chặn kịp thời các biểu hiện quan liêu và suy thoái đạo đức.

3.1. Đổi mới công tác đào tạo và quy hoạch

Công tác quy hoạch cán bộ cần có tầm nhìn chiến lược và tính liên tục. Tỉnh Ắt Ta Pư cần chủ động phát hiện những nhân tố trẻ có tiềm năng từ phong trào cơ sở. Các lớp tập huấn lý luận chính trị và quản lý nhà nước phải cập nhật kiến thức hiện đại. Đào tạo cần kết hợp chặt chẽ giữa lý thuyết với giải quyết các tình huống thực tiễn địa phương. Tỉnh nên tăng cường hợp tác đào tạo cán bộ với các học viện chính trị của Việt Nam. Việc học hỏi kinh nghiệm quốc tế giúp nâng cao tư duy lãnh đạo toàn diện.

3.2. Hoàn thiện chính sách đãi ngộ và kiểm tra

Chính sách đãi ngộ thỏa đáng đóng vai trò đòn bẩy thúc đẩy tinh thần làm việc của cán bộ. Cần cải thiện chế độ tiền lương, nhà ở và điều kiện làm việc tại các huyện vùng sâu. Đồng thời, cơ chế kiểm tra và giám sát quyền lực phải được thực hiện nghiêm ngặt. Việc mở rộng quyền dân chủ để nhân dân tham gia giám sát cán bộ là rất cần thiết. Những cán bộ có sai phạm phải bị xử lý nghiêm minh theo quy định pháp luật. Khen thưởng kịp thời các tấm gương điển hình xuất sắc sẽ tạo ra động lực phấn đấu mạnh mẽ trong toàn bộ máy chính quyền.

IV. Ý nghĩa nâng cao cán bộ chủ chốt cấp huyện tỉnh Ắt Ta Pư hiện nay

Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện mang ý nghĩa quyết định đối với tương lai tỉnh Ắt Ta Pư. Đội ngũ cán bộ vững mạnh sẽ củng cố nền tảng chính trị và bảo đảm an ninh biên giới quốc gia. Đây là động lực then chốt thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế và nâng cao đời sống người dân. Các kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở thực tiễn giá trị cho Đảng bộ tỉnh Ắt Ta Pư trong công tác tổ chức cán bộ. Việc áp dụng đồng bộ các giải pháp sẽ khắc phục triệt để những điểm nghẽn về nhân lực lãnh đạo. Quá trình này góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội mà Đại hội Đảng đề ra. Sự đổi mới phong cách làm việc giúp bộ máy công quyền trở nên minh bạch và chuyên nghiệp hơn. Đội ngũ cán bộ chất lượng cao chính là bảo chứng cho sự hưng thịnh của địa phương và đất nước Lào.

4.1. Tác động tới sự phát triển kinh tế địa phương

Cán bộ cấp huyện có năng lực giỏi sẽ khai thác hiệu quả tài nguyên đất đai và rừng tại địa phương. Họ chủ động thu hút các dự án đầu tư phát triển nông nghiệp công nghệ cao và du lịch sinh thái. Năng lực điều hành tốt giúp đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công. Việc phát triển kinh tế huyện tạo thêm nhiều việc làm mới, giúp giảm nghèo bền vững cho người dân các bản vùng sâu. Sự tăng trưởng ổn định của các huyện đóng góp trực tiếp vào nguồn thu ngân sách chung của tỉnh Ắt Ta Pư. Đồng thời, diện mạo nông thôn tại các cụm bản được đổi mới nhanh chóng và rõ rệt.

4.2. Giá trị củng cố hệ thống chính trị cơ sở

Xây dựng đội ngũ cán bộ vững mạnh giúp nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức Đảng. Mối liên hệ mật thiết giữa Đảng với quần chúng nhân dân các bộ tộc Lào ngày càng được củng cố. Bộ máy chính quyền cơ sở hoạt động thông suốt, hiệu lực và giảm bớt các thủ tục rườm rà. Lòng tin của người dân vào chế độ chính trị và đường lối đổi mới được nâng cao rõ rệt. Đây là yếu tố cốt lõi để giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội tại địa bàn biên giới. Sự vững mạnh của hệ thống chính trị tạo tiền đề vững chắc cho ổn định lâu dài.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

15/06/2026
Lv ths khct chất lượng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện ở tỉnh ắt ta pư cộng hoà dân chủ nhân dân lào trong giai đoạn hiện nay

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ CHỐT CẤP HUYỆN Ở TỈNH ẮT TA PƯ CỘNG HOÀ DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO - NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. CẤP HUYỆN Ở TỈNH ẮT TA PƯ CỘNG HOÀ DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO VÀ VỊ TRÍ, VAI TRÒ CỦA ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ CHỐT CẤP HUYỆN 1. Vị trí, vai trò và đặc điểm cấp huyện ở tỉnh Ắt Ta Pư 1. Khái quát về tỉnh Ắt Ta Pư Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào - Đặc điểm vị trí, địa lý tự nhiên.

Ắt Ta Pư là một tỉnh phía Đông Nam Lào giáp với hai nước là Việt Nam và Cămpuchia, có tổng diện tích 10.320 km2, chiếm 4,32% tổng diện tích của CHDCND Lào. Phía Bắc giáp với tỉnh Xê Koong, phía Tây giáp với tỉnh Chăm Pa Sắc, phía Đông giáp với tỉnh Kon Tum của Việt Nam còn ở phía Nam giáp với tỉnh Ra Ta Na Ki Li và Xiêng Tenh của Cămpuchia. Ắt Ta Pư nằm ở vị trí giao thông thuận lợi với các tỉnh trong nước và quốc tế thông qua hệ thống giao thông đường bộ ra biên giới và đường thuỷ ra sông Xê Koong. đây là một trong những nhân tố thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh trong tương lai.

Độ cao trung bình so với mực nước biển khoảng 860-1200 m, nơi thấp nhất là 78 m; nơi cao nhất là 1.500 m ở huyện Xan Xay. Theo tính chất địa lý tự nhiên của tỉnh có thể chia làm ba vùng khác như sau: Vùng miền núi: là dãy núi Phu Luổng (dãy Trường Sơn) có tổng diện tích 690.500 m với độ dốc trung bình là 150C. Vùng trung du: có tổng diện tích khoảng hơn 120.000 ha, có độ cao trung bình 300 -1000 m. Vùng đồng bằng: có tổng diện tích khoảng 222.000 ha, có độ cao từ 78- 300 m nằm giữa vùng dãy núi Phu Luổng và trung du, là một trong 7 đồng bằng của Lào và có 7 dòng sông chạy qua là: Xê Koong, Xê Ka Mản, Xê Piên, Xê Khăm Pho, Xê Năm Nọi, Xê Sụ và Nặm Kông.

7 Tổng diện tích đất đai tự nhiên của tỉnh là 1.000 ha (đất đang sử dụng là 250.000 ha, chiếm 24,22% đất tự nhiên của tỉnh) trong đó diện tích ruộng nước 21.600 ha, ruộng thuỷ lợi 672 ha và diện tích vườn, nương, bãi 1. Đất chưa sử dụng còn rất lớn.000 ha đất chưa sử dụng có 227.000 ha đất đồng bằng dọc theo sông Xê Koong, Xê Ka Mản. Là một tỉnh miền núi có đồng bằng ít, đất phù hợp với các loại cây trồng nông nghiệp và cây công nghiệp như: điều, chè, cà phê, cao su, thầu dầu, quế, bạch đàn, ngô, các loại hoa màu. Ắt Ta Pư có nhiều tiềm năng về lâm nghiệp, đất rừng chiếm tới 70% diện tích tự nhiên, là loại đất phù hợp với nhiều loại cây có điều kiện xây dựng hệ thống rừng phòng hộ và tạo các vùng kinh tế hàng hoá có giá trị cao.

Rừng Ắt Ta Pư có nhiều loại gỗ quý hiếm và có giá trị sử dụng cao như: tếch, hương, lim, trầm hoa, cẩm lai, sao, trắc, sa mu, táu, sến, vàng tâm, dổi, de, chò chỉ. và các loại luồng tre, nứa lớn nhất toàn quốc. Có diện tích khoảng 608.984,87 ha là đồng cỏ có thể sử dụng cho chăn nuôi đại gia súc. - Đặc điểm dân cư, thành phần dân tộc.

Theo số liệu thống kê (năm 2011) dân cư của tỉnh là 126. Toàn tỉnh gồm có 5 huyện, có 26 khu vực cơ sở (gọi là cục bản phát triển); có 147 bản làng, trong đó có 5 bản làng lớn (tổng số bản làng đã giảm xuống so với năm 2010, bởi các bản làng nhỏ đã sáp nhập thành một bản làng lớn), 22.921 hộ gia đình, trong đó nữ 65.243 người, mật độ dân số 12 người/ km2, phân bố không đồng đều giữa vùng cao và vùng thấp, giữa thành thị và nông thôn [42, tr. Trong tỉnh có 11 dân tộc anh em: Lào Lùm, Brâu, Ôi, Chênh, A Lặc, Ta Liêng, Xụ, Yẹ, Ta Ội, Nha Hấn và Sa Đăng. Trong đó dân tộc Lào Lùm chiếm 85% trên dân cư toàn tỉnh.

Tổng số lao động trong tỉnh năm 2011 là 46.142 người, chiếm 36,53% so với dân cư của tỉnh. Những năm gần đây, tuy số người lao động trong các ngành đã bắt đầu có sự thay đổi lớn, nhưng về mặt chất lượng, trình độ học vấn, kỹ thuật, tay nghề còn nhiều hạn chế. 8 - Tình hình kinh tế - xã hội. + Thành tựu kinh tế của tỉnh những năm qua Thực hiện đường lối đổi mới, những năm qua, Đảng bộ và nhân dân các dân tộc trong tỉnh đã tích cực phấn đấu thực hiện tốt mục tiêu, yêu cầu được đề ra trong Nghị quyết của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII, IX và các nghị quyết của Đảng bộ tỉnh Ắt Ta Pư.

Nhờ vậy, tình hình chính trị ổn định, kinh tế - xã hội từng bước phát triển, sản xuất hàng hoá, dịch vụ được cải thiện, lượng thu hút vốn đầu tư nước ngoài ngày càng tăng, đời sống nhân dân từng bước được cải thiện, tốc độ tăng trưởng kinh tế (2010-2011) tăng 13%/năm, trong đó: - Nông - lâm nghiệp tăng 10,02%, chiếm 47% GDP. - Công nghiệp tăng 5,53%, chiếm 36% GDP. - Dịch vụ tăng 9,59%, chiếm 17% GDP. GDP tính bình quân đầu người năm 2011 là 881 USD/năm, so với năm 2010 là 638 USD/năm tăng 38,08%.

Theo số liệu tổng kết 6 tháng đầu năm 2012 của Ban Thường vụ tỉnh uỷ, tốc độ tăng trưởng kinh tế tăng 13,5%/năm, trong đó: - Nông - lâm nghiệp tăng 6,1%; chiếm 31% GDP. - Công nghiệp tăng 6,2%; chiếm 38% GDP. - Dịch vụ tăng 5,5%; chiếm 31%GDP. Trong năm 2011 chính quyền tỉnh đã cấp giấy phép đầu tư của nhà nước gồm 113 dự án với tổng số vốn đầu tư là 35,64 tỷ kíp, trong đó có vốn đầu tư trong nước 28,02 tỷ kíp và vốn đầu tư nước ngoài 7,62 tỷ kíp.

Ngoài có sự đầu tư của nhà nước, chính quyền tỉnh còn cấp giấy phép kinh doanh cho các công ty trong nước và ngoài gồm 15 công ty với tổng số vốn đầu tư 253.000 USD, trong đó có đầu tư của trong nước gồm 7 công ty với tổng số vốn đầu tư 3.000 USD và đầu tư của nước ngoài gồm 8 công ty với tổng số vốn đầu tư 250.000 USD được phân bổ vào các lĩnh vực như: công nghiệp chế biến gỗ 9 - thực phẩm và trồng cây công nghiệp như: cao su, điều, mía, cọ dầu. Qua 26 năm thực hiện đường lối đổi mới, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng trưởng GDP của tỉnh Ắt Ta Pư mặc dù có cao hơn so với trước đây nhưng giá trị tuyệt đối và giá trị GDP bình quân đầu người còn thấp (năm 1986, GDP bình quân đầu người 145 USD/người/năm, tới năm 2011 đạt 881 USD/người/năm). Nhìn chung vẫn là một trong những tỉnh nghèo của nước. + Về trình độ giáo dục, văn hoá và y tế Giáo dục - đào tạo được củng cố và phát triển khá toàn diện ở các cấp học, hệ thống trường học phổ thông, dạy nghề, trường dân tộc nội trú.

Trong năm 2011, toàn tỉnh có 240 trường học, tăng 1,70% do với năm 2010, với 1.083 phòng học, 1.600 học sinh - sinh viên. Hiện nay, Ắt Ta Pư có 19 trường mầm non, 190 trường tiểu học, 19 trường trung học cơ sở, 9 trường trung học phổ thông, 1 trường dân tộc nội trú, 1 trường trung cấp dạy nghề cấp cơ sở, 1 trường cao đẳng kinh tế dân lập. Đến nay, Ắt Ta Pư đã có 58 nhà văn hoá (một dạng trụ sở của người dân các bản làng người bộ tộc ít người của Lào có kiểu dáng và tính chất sinh hoạt cộng đồng giống như nhà rông của dân tộc Êđê, Tây Nguyên, Việt Nam), có 24 bản làng văn hoá, có 17.618 gia đình văn hoá. Công tác y tế và bảo vệ chăm sóc sức khoẻ nhân dân được coi trọng.

Toàn tỉnh Ắt Ta Pư có 6 bệnh viện, trong đó 1 bệnh viện cấp tỉnh 70 giường bệnh, 1 bệnh viện thuộc Cục tham mưu Quân đội tỉnh, 4 bệnh viện huyện 80 giường bệnh, 30 trạm y tế cấp cơ sở cấp bản với 86 giường bệnh, 3 phòng khám bệnh ngoài giờ của dân lập, 30 tiệm bán thuốc, 152 quỹ cấp thuốc của các bản làng. Toàn tỉnh có 288 nhân viên, nữ 212 nhân viên, y tế có thể phục vụ tại các trạm y tế cấp cơ sở. Công tác bảo vệ chăm sóc sức khoẻ, vận động bảo vệ phục hồi sức khoẻ đã đi xuống cấp cơ sở bản làng. Đến nay, 77% hộ dân toàn tỉnh đã được sử dụng nước sạch.

Theo báo cáo 6 tháng đầu năm 2012, tỉnh Ắt Ta Pư sẽ có thêm 1 bệnh viện 200 giường bệnh do công ty Hoàng Anh Gia Lai xây dựng và sẽ 10 được sử dụng vào tháng 12 tới. Ngoài ra, trong đầu năm 2012 còn được xây dựng 5 trạm y tế cấp cơ sở cấp bản với 14 giường bệnh. - Hệ thống chính trị và tình hình quốc phòng, an ninh + Hệ thống chính trị Trên cơ sở những quy định của Trung ương Đảng, từ Đại hội IV đến Đại hội VIII, tỉnh Ắt Ta Pư tiếp tục củng cố, cụ thể hoá chức năng, nhiệm vụ của từng tổ chức trong HTCT cơ sở sát với tình hình của Đảng bộ, khắc phục tình trạng trùng lắp, chồng chéo nhiệm vụ. Đồng thời, Tỉnh uỷ Ắt Ta Pư chỉ đạo cấp uỷ đảng và các tổ chức trong HTCT kiểm điểm, đánh giá việc xây dựng và thực hiện quy chế hoạt động, qua đó phát huy tính chủ động, sáng tạo, vừa giữ được mối quan hệ mật thiết, đồng bộ, gắn kết nhiều mặt hoạt động của các tổ chức trên nguyên tắc: Đảng lãnh đạo, chính quyền quản lý, nhân dân làm chủ.

Tỉnh Ắt Ta Pư chú trọng đổi mới, nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt động của chính quyền và các đoàn thể chính trị - xã hội, phát huy dân chủ để nhân dân tham gia xây dựng và thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị, chú trọng thực hiện có hiệu quả cải cách hành chính, trước hết là thể chế hoá các thủ tục hành chính, giảm bớt thủ tục rườm rà, chống gây phiền hà cho dân. Đồng thời, đội ngũ cán bộ các cấp cũng dần được nâng cao về nhận thức, lý luận và năng lực thực tiễn. Với nỗ lực của mình, những năm qua, hoạt động của HTCT ở Ắt Ta Pư có nhiều tiến bộ. Phương thức lãnh đạo, lề lối làm việc của các cấp uỷ đảng và tổ chức cơ sở đảng từng bước được đổi mới, cải tiến; việc nắm và thực hiện các nguyên tắc xây dựng Đảng ngày càng đạt hiệu quả cao hơn.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ